Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tốc độ chu chuyển của vốn lưu động nhanh hay chậm nói lên hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao hay thấp, tốc độ luân chuyển vốn lưu động thể hiện bằng các chỉ tiêu sau:

Tốc độ chu chuyển của vốn lưu động nhanh hay chậm nói lên hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao hay thấp, tốc độ luân chuyển vốn lưu động thể hiện bằng các chỉ tiêu sau:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề tốt nghiệp



17



Học Viện Ngân Hàng



b.Hàm lượng vốn lưu động (mức đảm nhận vốn lưu động).

Hàm lượng VLĐ =

Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng doanh thu thuần thu được có bao

nhiêu đồng vốn lưu động đóng góp và đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn

lưu động là cao hay thấp. Chỉ tiêu này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn lưu

động càng cao và ngược lại.

c.Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển vốn.

VTK (±) =



M1

× ( K1 − K 0 )

360



hoặc



VTK (±) =



M1 M1



L1

L0



Trong đó:

VTK: số vốn lưu động có thể tiết kiệm (-) hay phải tăng thêm (+) do ảnh

hưởng của tốc độ luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh so với kỳ gốc.

M1: tổng mức luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh, kỳ gốc

K1,K0: kỳ luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh, kỳ gốc

L1, L0: số lần luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh, kỳ gốc

Chỉ tiêu này phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được do tăng tốc

độ luân chuyển vốn lưu động ở kỳ so sánh (kỳ kế hoạch) so với kỳ gốc (kỳ

báo cáo).

Chỉ tiêu này càng cao thì số vốn tiết kiệm được càng nhiều, phản ánh hiệu

quả sử dụng vốn lưu động là tốt, tiết kiệm.

d. Nhóm chỉ tiêu phân tích khả năng thanh tốn ngắn hạn.

- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn.

Hệ số KNTT nợ ngắn hạn =

Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải



Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Thơm



Lớp TCDNB_K1



Chuyên đề tốt nghiệp



18



Học Viện Ngân Hàng



các khoản nợ ngắn hạn đến hạn thanh toán.

Nếu hệ số này cao, đem lại sự an toàn về tài chính cho doanh nghiệp và

tăng khả năng bù đắp sự giảm giá tài sản ngắn hạn. Điều đó, thể hiện tiềm

năng thanh toán cao so với nghĩa vụ phải thanh tốn. Tuy nhiên, nếu doanh

nghiệp có hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn quá cao tức là doanh nghiệp

đang đầu tư nhiều vào tài sản ngắn hạn. Hệ số này bằng 2 là hợp lý vì doanh

nghiệp vừa đảm bảo vốn vừa thanh toán đủ nợ ngắn hạn, vừa đảm bảo tiếp

tục kinh doanh ổn định.

- Hệ số thanh toán nhanh.

Hệ số KNTT nhanh =

Hệ số này đo lường khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của

doanh nghiệp bằng việc chuyển đổi các tài sản ngắn hạn, không kể hàng tồn

kho. Khi hệ số này bằng 1, tức là tình hình tài chính của doanh nghiệp là ổn

định vì đảm bảo đủ khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn thanh toán.

Tuy nhiên, hệ số này bằng 2 mới là hợp lý vì khi đó doanh nghiệp vừa có thể

đảm bảo khả năng thanh tốn, vừa đảm bảo an tồn cho hoạt động kinh doanh

nghiệp. Nếu hệ số này lớn hơn 2 thì có thể nói doanh nghiệp đã đầu tư thừa

vào tài sản lưu động.

- Hệ số khả năng thanh tốn tức thì.

Hệ số KNTT tức thì =

Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán ngay lập tức các khoản nợ đến

hạn mà không phải thu hồi các khoản phải thu hay bán gấp lượng hàng tồn

kho. Để đảm bảo khả năng thanh tốn thì các doanh nghiệp nên thường xun

duy trì hệ số thanh tốn tức thì lớn hơn 0,5 nhưng không quá cao để tránh



Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Thơm



Lớp TCDNB_K1



Chuyên đề tốt nghiệp



19



Học Viện Ngân Hàng



khỏi tình trạng lãng phí vốn ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

e. Nhóm chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của vốn lưu động.



-



Tốc độ luân chuyển các khoản phải thu.

Vòng quay khoản phải thu

Vòng quay KPT =

Kỳ thu tiền bình quân:

Kỳ thu tiền trung bình =



Chỉ tiêu này cho biết, thông qua sự biến động của hệ số vòng quay khoản phải

thu và kỳ thu tiền trung bình có thể đánh giá tốc độ thu hồi các khoản nợ của

doanh nghiệp.

So sánh chỉ tiêu này với các kỳ trước, hệ số vòng quay các khoản phải thu

giảm hoặc thời gian bán chịu cho khách hàng dài hơn, chứng tỏ tốc độ thu hồi

các khoản nợ của doanh nghiệp chậm hơn, từ đó làm tăng vốn ứ đọng trong

khâu thanh toán, giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Ngược lại, nếu vòng

quay các khoản phải thu tăng hoặc thời gian bán chịu cho khách hàng ngắn

hơn, chứng tỏ công tác thu hồi nợ của doanh nghiệp tốt hơn, giảm ứ đọng vốn

trong khâu thanh toán, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.





Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho.



-



số vòng quay hàng tồn kho

Vòng quay HTK =



Chỉ tiêu này phản ánh thời gian hàng hóa nằm trong kho trước khi bán ra.

Hệ số này càng cao thể hiện tình hình bán ra và việc tổ chức dữ của doanh

nghiệp là tốt. Doanh nghiệp có thể rút ngắn chu kỳ kinh doanh và giảm được

lượng vốn bỏ vào hàng tồn kho. Ngược lại, nếu số vòng quay hàng tồn kho

thấp nghĩa là doanh nghiệp đã dự trữ quá mức dẫn đến vốn bị ứ đọng trong



Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Thơm



Lớp TCDNB_K1



Chuyên đề tốt nghiệp



20



Học Viện Ngân Hàng



khâu dự trữ, sẽ khiến doanh nghiệp rơi vào tình thế khó khăn về tài chính

trong tương lai.

Ngồi ra, hệ số này còn thể hiện tốc độ luân chuyển của hàng hóa, nếu tốc độ

luân chuyển của hàng hóa nhanh thì với cùng mức doanh thu đạt được nhưng

doanh nghiệp chỉ phải đầu tư vốn cho hàng hóa tồn kho thấp hơn hoặc cùng

số vốn như vậy doanh nghiệp sẽ đạt mức doanh thu cao hơn.

-



Số ngày một Số ngày một vòng quay HTK.

Số ngày một vòng quay HTK =

Chỉ tiêu này cho biết, số ngày cần thiết để hàng tồn kho quay được một



vòng, thời gian của một vòng hàng tồn kho càng nhỏ thì tốc độ tiêu thụ hàng

hóa càng nhanh và ngược lại, số ngày một vòng quay hàng tồn kho càng lớn

thì tốc độ tiêu thụ hàng tồn kho càng chậm.





Vòng quay đồng tiền.

Đây là chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích năng lực hoạt

động vốn lưu động.

Vòng quay tiền mặt =

Chỉ tiêu vòng quay tiền mặt phản ánh cứ một đồng tiền tạo ra bao nhiêu

đồng doanh thu. Vòng quay vốn tiền mặt ln ln biến đổi, nếu vòng

quay tiền mặt giảm đi thì hiệu quả sử dụng vốn tiền mặt cũng giảm theo

và ngược lại.

Vốn tiền mặt là một bộ phận của vốn lưu động, giữ vai trò quan trọng

trong việc tạo nên năng lực tài chính ổn định cho doanh nghiệp, cho

phép doanh nghiệp đảm bảo chỉ tiêu cho các công tác hàng ngày cũng

như là nguồn vốn lưu động thường xuyên bổ sung cho các hoạt động



Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Thơm



Lớp TCDNB_K1



Chuyên đề tốt nghiệp



21



Học Viện Ngân Hàng



bất thường.

1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp .

Khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp ta cần xem xét tới

các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh

nghiệp. Ta có thể xem xét những nhân tố đó theo hai khía cạnh: khách quan

và chủ quan.

1.2.2.1. Những nhân tố khách quan.

 Thị trường và sự cạnh tranh.

Nền kinh tế ổn định hay biến động sẽ có những ảnh hưởng trực tiếp và

gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đến hiệu quả sử dụng

vốn. Cùng với đó, đối thủ cạnh tranh cũng là vấn đề quan trọng cần được xem

xét khi nghiên cứu thị trường.

 Cơ chế quản lý và các chính sách kinh tế của Nhà nước.

Trong nền kinh tế thị trường tất cả các doanh nghiệp đều được tự do lựa

chọn ngành nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật và khả năng của

mình. Nhà nước tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi cho doanh

nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh theo ngành nghề mà mình đã đăng kí

kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo chính sách quản lý kinh tế vĩ mô.

 Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật.

Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, máy móc dần thay thế sức lao

động của con người khiến năng suất lao động ngày càng được cải thiện và

nâng cao. Bên cạnh đó, hàng loạt máy móc, thiết bị hiện đại ra đời kéo theo

việc các tài sản hiện có trong cơng ty trở nên lỗi thời, hao mòn vơ hình lớn

dẫn tới việc mất VKD. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần phải không ngừng

nâng cao, đổi mới dây chuyền sản xuất, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, phát

triển để nâng cao hiệu quả SXKD.



Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Thơm



Lớp TCDNB_K1



Chuyên đề tốt nghiệp



22



Học Viện Ngân Hàng



 Thị trường tài chính.

Sự hoạt động của thị trường tài chính và hệ thống tài chính trung gian

cũng là nhân tố đáng kể tác động đến hoạt động của doanh nghiệp nói chung

và hoạt động tài chính nói riêng. Một thị trường tài chính với hệ thống các tổ

chức tài chính trung gian phát triển đầy đủ, đa dạng sẽ tạo điều kiện thuận lợi

cho doanh nghiệp tìm kiếm được các nguồn vốn với chi phí rẻ; đồng thời

doanh nghiệp có thể đa dạng hố các hình thức đầu tư và có được cơ cấu vốn

hợp lý mang lại hiệu quả cao nhất trong sử dụng vốn của doanh nghiệp.

 Rủi ro bất thường trong kinh doanh.

Trong kinh doanh có nhiều loại rủi ro khác nhau như : Rủi ro tài chính

(rủi ro do sử dụng nợ vay), rủi ro trong quá trình sử dụng tài sản, vận chuyển

hàng hoá (mất mát, thiếu hụt, hỏng hóc) điều này dẫn đến tình trạng doanh

nghiệp mất vốn, mất uy tín,... trong kinh doanh; từ đó ảnh hưởng đến kết quả

hoạt động kinh doanh, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

1.2.2.2. Những nhân tố chủ quan.

 Cơ cấu vốn kinh doanh.



Cơ cấu vốn là tỷ trọng của từng nguồn vốn trong tổng nguồn vốn của

doanh nghiệp. Doanh nghiệp có cơ cấu vốn càng hợp lý thì hiệu quả sử dụng

vốn càng cao. Việc phân phối vốn không phù hợp sẽ làm mất cân đối giữa

TSCĐ và TSLĐ dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu một loại tài sản nào đó

dẫn tới giảm hiệu quả sử dụng vốn.

 Xác định nhu cầu vốn và sử dụng vốn kinh doanh.

Nếu xác định nhu cầu VKD quá thấp sẽ dẫn tới tình trạng thiếu vốn;

doanh nghiệp sẽ khơng có đủ tiền để thanh tốn cho các nhà cung ứng

ngun, vật liệu; khơng có tiền chi trả lương cho người lao động,... sản xuất bị

trì trệ. Nhưng nếu xác định nhu cầu vốn quá cao sẽ làm tăng chi phí sử dụng



Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Thơm



Lớp TCDNB_K1



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tốc độ chu chuyển của vốn lưu động nhanh hay chậm nói lên hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao hay thấp, tốc độ luân chuyển vốn lưu động thể hiện bằng các chỉ tiêu sau:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×