Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bố cục của luận án

Bố cục của luận án

Tải bản đầy đủ - 0trang

5

hiện nghệ thuật âm nhạc cho phù hợp với nội dung, với yêu cầu của xã hội

đương thời.

Đặc biệt, từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX đã có nhiều trào lưu, nhiều

trường phái, nhiều khuynh hướng sáng tác cũng như quan điểm nghệ thuật,

quan điểm thẩm mỹ xuất hiện. Các nhà soạn nhạc ở giai đoạn này đều lao vào

để tìm kiếm mọi khả năng biểu hiện ở mức độ tối đa của ngơn ngữ hòa âm.

[24/tr.121]

Hòa âm ở thế kỷ XX có nhiều khuynh hướng mới, nhiều thủ pháp mới

hồn tồn xa rời những ngun tắc hòa âm của những thế kỷ trước. Vì lý do

đó, chúng tơi cho rằng việc đưa những kiến thức hòa âm ở thế kỷ XX vào

chương trình giảng dạy mơn Hòa âm trong HVANQGVN là rất cần thiết. Việc

làm này sẽ giúp cho sinh viên có những kiến thức cơ bản về hòa âm trong giai

đoạn hiện nay. Giúp các em có thể hiểu và sử lý các tác phẩm âm nhạc thế kỷ

XX có hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, như trên chúng tơi đã trình bày, ngơn ngữ hòa âm ở thế kỷ

XX rất phức tạp và phong phú vì có nhiều trường phái, nhiều khuynh hướng

sáng tác khác nhau, dẫn đến có rất nhiều thủ pháp phát triển mới, kết hợp cùng

lúc các dạng điệu thức với nhau và ra đời nhiều dạng cấu tạo hợp âm không

sắp xếp theo qui luật quãng ba như cấu tạo hợp âm chồng quãng bốn, cấu tạo

hợp âm chồng quãng hai và nhiều dạng hợp âm thêm nốt v.v…Với thời lượng

dành cho môn hòa âm rất khiêm tốn, mặt bằng chung về kiến thức hòa âm của

sinh viên còn thấp, vì vậy chúng tôi khi viết luận án này đã phải lựa chọn

trong những phần kiến thức hòa âm thế kỷ XX những nội dung nổi bật vừa

đơn giản, dễ hiểu, nhưng thể hiện được những điểm đặc trưng của hòa âm ở

giai đoạn này để đưa vào chương trình giảng dạy. Chúng tơi hy vọng những

nghiên cứu và thử nghiệm của mình sẽ góp phần vào việc đổi mới, nâng cao

chất lượng đào tạo mơn Hòa âm trong HVANQG VN.

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về hồ âm Thế kỷ XX

1.2.1 Sách và các cơng trình nghiên cứu ở nước ngồi

Trong q trình nghiên cứu, chúng tơi đã tìm được chín cuốn sách đã

được xuất bản dưới dạng sách giáo khoa hòa âm thế kỷ XX bằng tiếng Anh và

tiếng Đức, trong đó phải kể đến:

Cuốn “Twentieth-Century Harmony” do Vincent Persichetti biên soạn

(Nhà xuất bản W.W.Norton &Company, 1961) dày 279 trang. Đây là một

trong những cuốn hòa âm được dùng nhiều ở các trường nhạc trên thế giới. Và

tác giả Vincent Persichtti còn được nhiều người biết đến là cuốn lý thuyết hòa

âm thế kỷ XX của ơng với tiêu đề “Twentieth-Century Harmony Creative

Aspects and Practice”. Tác giả nghiên cứu sẽ trình bày nội dung chi tiết hơn

trong chương 2 cuả luận án.

Ngồi ra có thể tham khảo thêm chín đầu sách khác mà chúng tơi trình

bày trong luận án chương I mục 1.2.1.

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước



6

Mơn hoà âm đã và đang được dạy ở HVANQGVN, được gọi là phần

“Hoà âm cổ điển”, chủ yếu dựa theo sách giáo khoa Hồ âm của bốn tác giả

Nga I.Đubơpxki, X.Epxeep, I.Xpaxobin, V.Xôcolop.

Chúng tôi nhận thấy về sách giáo khoa hoà âm ở Việt Nam chủ yếu vẫn

đề cập các kiến thức hoà âm cổ điển, thiếu hẳn phần hoà âm thế kỷ XX.

Ở Việt Nam nói chung và HVANQGVN nói riêng, chưa áp dụng chương

trình giảng dạy hồ âm thế kỷ XX cho sinh viên đại học. Do vậy, việc nghiên

cứu “Bổ sung một số đặc điểm hoà âm thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy

tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam” được đặt ra là một vấn đề cấp thiết

và có hướng ứng dụng thiết thực.

1.3 Thực trạng dạy hồ âm ở HVANQGVN

1.3.1 Mơn Hồ âm trong quá trình phát triển từ Trường Âm nhạc Việt

Nam đến HVANQGVN ngày nay

Cách đây hơn 60 năm, Trường Âm nhạc Việt Nam đã ra đời (1956) đánh

dấu một sự kiện lớn trong đời sống âm nhạc Việt Nam lúc bấy giờ.

Những ngày đầu mới thành lập, với đội ngũ giảng viên còn q ít ỏi, trình

độ chun mơn của họ phần lớn là tự học, không được đào tạo một cách chính

quy, bài bản. Với số giảng viên không đầy đủ các chuyên ngành, cơ sở vật chất

từ trường, lớp đến các nhạc cụ và sách giáo khoa âm nhạc còn rất nghèo nàn,

thiếu thốn nhưng với lòng yêu nghề và ý chí quyết tâm cao, các giảng viên của

trường đã bắt đầu khai giảng khoá trung cấp đầu tiên.

Chương trình dạy hồ âm lúc bấy giờ chủ yếu là những kiến thức hoà

âm cổ điển Phương Tây và đưa vào giảng dạy ở trình độ trung cấp. 1

Phải kể đến nhạc sĩ Ca Lê Thuần - Là người được đào tạo chuyên sâu về

chuyên ngành Hoà âm - Phức điêụ, ơng đã có cơng rất lớn trong việc xây dựng

chương trình của hai mơn học này ở Trường Âm nhạc Việt Nam lúc bấy giờ.

Chương trình mơn hoà âm do nhạc sĩ Ca Lê Thuần biên soạn chủ yếu dựa

vào chương trình của các nhạc viện ở Liên Xơ (cũ) thời bấy giờ.

Nội dung chương trình chủ yếu trình bày các kiến thức của hồ âm thời

kỳ cổ điển. Phần hoà âm thế kỷ XX chưa được đưa vào chương trình. Thầy Ca

Lê Thuần chỉ đưa vào dạy một số nét khái quát về hoà âm giai đoạn nửa sau

thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như một dạng Semine. 2

Do vậy, cho đến nay các kiến thức hoà âm được dạy trong HVANQGVN

vẫn chủ yếu là hoà âm Phương Tây ở giai đoạn cổ điển.

Đến phần cao học, các khoá đào tạo trước đây được học mơn Lịch sử hồ

âm thế kỷ XX do nhạc sĩ Phạm Minh Khang giảng dạy có giới thiệu đơi nét về

phong cách hoà âm của một số nhạc sĩ thuộc trường phái âm nhạc nửa đầu thế

kỷ XX.

1

2



Cuộc trao đổi với nhạc sĩ Hồng Đăng ngày 28 tháng 1 năm 2018 tại nhà riêng của nhạc sĩ.

Trao đổi với giảng viên PGS.TS.Phạm Tú Hương



7

Sau này trường có mời một số chuyên gia nước ngoài sang giảng dạy cho

các lớp cao học giới thiệu về ngơn ngữ hồ âm thế kỷ XX.

Hiện tại tổ Hòa âm - Lý thuyết - Phức điệu có năm giảng viên cơ hữu và

hai cộng tác viên với việc giảng dạy ba môn: Lý thuyết âm nhạc, Hoà âm và

Phức điệu, ở cả hệ trung cấp và đại học.

Hiện nay việc giảng dạy mơn Hồ âm tại HVANQGVN được phân chia

theo chương trình và giáo trình giảng dạy dưới đây.

1.3.2 Chương trình và giáo trình

1.3.2.1 Chương trình

Đối với trình độ trung cấp

Chia làm hai nhóm ngành đào tạo phù hợp với các đối tượng học: Lớp

hoà âm trung cấp biểu diễn và lớp hoà âm trung cấp Sáng tác - Chỉ huy - Âm

nhạc học. Chương trình hồ âm trung cấp đều được bắt đầu học từ năm trung

cấp hai (gọi theo cách phân hệ đào tạo trước đây) và được học lý thuyết hoà

âm trong một năm, bao gồm hai học kỳ, tương đương hai tiết/1 tuần/90 phút,

với tổng số là 28 tuần học và thi, tương đương 56 tiết. Riêng lớp hoà âm trung

cấp Sáng tác - Chỉ huy - Âm nhạc học, được chia thành hai mơn học: Hồ âm

lý thuyết kéo dài bốn học kỳ, học năm thứ hai và thứ ba, tương đương 112

tiết/1 năm và hoà âm trên đàn hai học kỳ, học năm thứ ba, tương đương 84

tiết/1 năm.[PL2.1 và 2.2]

Đối với trình độ đại học

Đối với chương trình hoà âm đại học cũng được phân theo hai dạng đối

tượng đào tạo giống ở bậc trung cấp, đó là chuyên ngành biểu diễn và chuyên

ngành Sáng tác - Chỉ huy - Âm nhạc học, nhưng số tiết học được kéo dài hơn

một tuần / cho mỗi kỳ. Vậy tổng số là 60 tiết trong một năm.

* Chương trình hồ âm đại học chuyên ngành biểu diễn được học hai học

kỳ trong năm thứ nhất, nội dung được học hết phần chuyển điệu cấp I. [Xem

PL2.2]

* Chương trình hồ âm đại học chuyên ngành Sáng tác - Chỉ huy - Âm

nhạc học, cũng được chia thành hai môn học là Hồ âm lý thuyết (Học ba học

kỳ, bao gờm hai học kỳ năm thứ nhất và học kỳ I năm thứ hai, tương đương 90

tiết / 1 năm) và môn Hoà âm trên đàn học hai học kỳ vào năm thứ hai, tương

đương 60 tiết/1 năm). [Xem PL2.3]

Hiện nay Học viện vẫn đang sử dụng “Sách giáo khoa hoà âm” của bốn

tác giả Nga và “Sách hợp tuyển để phân tích hồ âm” để làm giáo trình giảng

dạy cho học sinh và sinh viên trong nhiều năm qua.

Ngồi ra, còn có một số sách dưới đây dùng tham khảo thêm trong

chương trình giảng dạy:

- “Sách giáo khoa hồ âm” của Phạm Tú Hương và Vũ Nhật Thăng

(1993), nhà xuất bản âm nhạc.

- “Sách Đáp án và bài tập hoà âm phần Diatonic” của Hoàng Hoa.



8

- “Sách Tuyển chọn bài tập phân tích hồ thanh” của Hồng Hoa &

Trương Ngọc Bích v.v…

Tất cả các sách hòa âm nói trên đều được chọn là tài liệu giảng dạy và

tham khảo ở môi trường âm nhạc chuyên nghiệp của Việt Nam, chủ yếu vẫn là

kiến thức hòa âm cổ điển, chưa có sách giáo khoa hòa âm nào bổ sung những

kiến thức hòa âm thế kỷ XX vào chương trình đào tạo đại học tại

HVANQGVN.

1.3.3 Phương pháp giảng dạy và phương pháp kiểm tra - đánh giá

1.3.3.1 Phương pháp giảng dạy

Tại HVANQGVN cũng như một số cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp

khác, khi giảng dạy mơn Hòa âm các giảng viên thường dùng ba phương pháp

chính, đó là: phương pháp thuyết trình, phương pháp trực quan và phương

pháp thực hành.

Thực hành phối hoà âm trên giấy: Ở HVANQGVN phần thực hành phối

hồ âm trên giấy có ba dạng chính:

- Phối hòa âm cho một giai điệu (bè Soprano)

­ Phối hòa âm cho một bè trầm (bè Basse)

­ Phối hòa âm theo các công năng cho trước.

Riêng đối với các sinh viên các chuyên ngành Sáng tác - Chỉ huy - Âm

nhạc học đôi khi sử dụng dạng bài tập: tự sáng tác một đoạn nhạc có chuyển

điệu theo yêu cầu của giảng viên. Dạng bài tập này thường áp dụng cho phần

thi kết thúc mơn học hòa âm.

Thực hành phân tích hòa âm

Phần thực hành phân tích này quan trong đối với tất cả các chuyên ngành,

đặc biệt cần thiết đối với các sinh viên chuyên ngành biểu diễn, giúp họ có thể

nhận biết được hòa âm trong các tác phẩm chun ngành của mình. Các vòng hòa

âm kết sẽ giúp họ xử lý phân câu, phân đoạn trong các tác phẩm hợp lý hơn.

Thực hành hòa âm trên đàn piano

Ở HVANQGVN phần hòa âm trên đàn mới chỉ áp dụng đối với các sinh

viên chuyên ngành Sáng tác - Chỉ huy - Âm nhạc học. Giáo viên có thể

đưa ra ví dụ một vòng nối tiếp hồ âm và hướng dẫn sinh viên cách nối tiếp

vòng hồ âm đó trên đàn, sau đó yêu cầu sinh viên có thể thực hành nhưng ở

điệu tính khác v.v.... Đây là phần thực hành sinh viên gặp nhiều khó khăn nhất

vì hạn chế bởi tay đàn.

1.3.3.2 Phương pháp kiểm tra - đánh giá

Môn Hòa âm cũng như các mơn kiến thức âm nhạc khác trong

HVANQGVN, mỗi học kỳ có hai lần kiểm tra. Kiểm tra giữa học kỳ và kiểm tra

cuối học kỳ. Học kỳ cuối của chương trình sẽ là phần thi tốt nghiệp môn học.

Hiện nay phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của mơn Hòa

âm trong HVAN chủ yếu là hình thức kiểm tra viết. Nội dung của các bài kiểm

tra thường là phối hòa âm cho một giai điệu hay phối hòa âm cho các cơng

năng cho trước. Độ khó, dễ của đề thi phụ thuộc vào nội dung chương trình



9

của học kỳ đó. Ngồi bài viết phối hòa âm trên giấy, sinh viên còn làm một bài

phân tích hòa âm.

Ngồi ra, còn phần thi hồ âm trên đàn đối với lớp chuyên ngành Sáng

tác - Chỉ huy - Âm nhạc học.

1.3.4 Đánh giá kết quả giảng dạy

Đánh giá kết quả và tình hình giảng dạy mơn Hồ âm

chúng tơi nhận thấy có một số ưu và nhược điểm sau:

Về ưu điểm: Các giảng viên đã giảng dạy theo đúng nội

dung chương trình đã được qui định. Hàng năm thường chú ý

rà sốt chương trình học, bổ sung những kiến thức mới nhằm

làm cho môn học phong phú, hấp dẫn hơn. Cố gắng tìm các

dạng bài tập cho phù hợp với từng đối tượng sinh viên là

chuyên ngành biểu diễn hay chuyên ngành Sáng tác - Chỉ huy

- Âm nhạc học v.v... nhằm đưa mơn Hồ âm góp phần hỗ trợ

cho các em khi học chuyên ngành hay học các mơn học khác

như: Phân tích tác phẩm, Hình thức âm nhạc, Phối khí hay Hồ

tấu dàn nhạc v.v... Đa dạng các hình thức kiểm tra đánh giá

sau mỗi buổi học, mỗi học trình nhằm một mặt đánh giá đúng

trình độ, sự hiểu biết của sinh viên, một mặt tạo sự hứng thú,

say mê khi học môn Hồ âm.

Về nhược điểm: Chưa tích cực bổ sung những kiến thức

hoà âm mới ở thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy. Do vậy,

chưa cập nhật được những kiến thức mới làm cho sinh viên

còn bỡ ngỡ nhiều khi tiếp xúc với các tác phẩm âm nhạc

đương đại. Giảng viên khi lên lớp chủ yếu dạy theo các

phương pháp truyền thống như: phương pháp thuyết trình,

phương pháp trực quan hay phương pháp thực hành mà còn ít

sử dụng các phương pháp giảng dạy mới được phát triển trong

giai đoạn hiện nay. Do điều kiện thời gian có hạn, phần thực

hành nghe hồ âm trên đàn hay phân tích hồ âm trong các

tác phẩm còn chưa được coi trọng đúng mức. Sinh viên nhiều

em còn lười học, lười làm bài tập, nghỉ học nhiều do vậy dẫn

đến kết quả học không tốt, phải thi lại và học lại nhiều.

Tiểu kết chương 1

Thông qua nội dung chương 1, giới thiệu tổng quan tình

hình nghiên cứu và thực trạng dạy hồ âm ở HVANQGVN từ

những ngày mới thành lập trường cho đến ngày nay. Trải qua

nhiều thế thệ các thầy cô giáo cùng chung tay xây dựng bộ

môn ngày càng phát triển.

Môn Hồ âm nói chung và các mơn kiến thức âm nhạc nói

riêng cũng đã hình thành rõ nét trong đào tạo âm nhạc các



10

cấp học ở HVANQGVN.

Trong phần lịch sử đề tài, giới thiệu một cách tóm lược các

cơng trình nghiên cứu có liên quan đến ngơn ngữ âm nhạc thế

kỷ XX.

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu về hồ âm thế

kỷ XX, giới thiệu chín đầu sách có liên quan đến kiến thức hoà

âm thế kỷ XX, bao gồm cả sách giáo khoa hoà âm thế kỷ XX,

sách bài tập bằng tiếng Anh và tiếng Đức.

Đây là những tư liệu vơ cùng q giá giúp chúng tơi trong

q trình nghiên cứu viết luận án và thực hành giảng dạy

phần hồ âm thế kỷ XX.

Trình bày thực trạng về mơn Hồ âm đã và đang được

dạy tại HVANQGVN, chủ yếu vẫn là giảng dạy phần hoà âm

cổ điển.

Trong mục này chúng tơi giới thiệu khái qt về chương

trình, giáo trình giảng dạy, phương pháp kiểm tra đánh giá,

đội ngũ giảng viên và sinh viên, cũng như đánh giá kết quả

giảng dạy, nêu những ưu điểm và nhược điểm cần khắc phục

trong việc giảng dạy mơn Hồ âm tại HVANQGVN.

Nhìn chung qua nội dung trình bày ở chương 1 chúng ta

thấy vẫn thiếu vắng phần hoà âm thế kỷ XX chưa được đưa

vào giảng dạy cho sinh viên đại học tại HVANQGVN. Thực tế

đó dẫn đến những khó khăn cho việc tiếp cận với âm nhạc ở

thế kỷ XX trong cả đào tạo, sáng tác, biểu diễn và nghiên

cứu. Vì vậy, việc nghiên cứu và bổ sung những kiến thức cần

thiết cho phần giảng dạy về hoà âm thế kỷ XX tại HVANQGVN

là rất cần thiết.

CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ HOÀ ÂM THẾ KỶ XX

VÀ VIỆC GIẢNG DẠY HOÀ ÂM THẾ KỶ XX Ở

MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

2.1 Khái quát về hoà âm thế kỷ XX

Âm nhạc thế giới từ những năm đầu thế kỷ XX đến nay có rất nhiều biến

động theo tình hình chính trị, xã hội và văn hóa ở nhiều quốc gia khác nhau.

Trong âm nhạc phải kể đến vai trò của hòa âm đã góp phần quan trọng trong

việc phản ánh sự thay đổi về cách nhìn, cách xây dựng nội dung, chủ đề hình

tượng âm nhạc và thay đổi về thẩm mỹ âm thanh cũng như phản ánh bút pháp

riêng của từng tác giả, từng trường phái âm nhạc khác nhau. Trong đó âm nhạc

Việt Nam cũng khơng nằm ngồi dòng chảy đó, nhiều nhạc sĩ đã vận dụng

những ngơn ngữ hòa âm mới vào trong sáng tác của mình.

Trong lịch sử phát triển âm nhạc trên thế giới nói chung và các dân tộc

nói riêng đã cho chúng ta thấy thẩm mỹ “Hòa âm” được thay đổi theo chiều



11

dài thời gian và thay đổi theo quan niệm thẩm mỹ của từng thời đại, từng

trường phái và từng văn hóa của các dân tộc khác nhau. Đã có nhiều nhà khoa

học âm nhạc đưa ra những tổng kết về phong cách hòa âm của từng trường

phái từ Tiền cổ điển, Cổ điển, Lãng mạn. Sang đến nửa đầu thế kỷ XX, hình

thành nhiều ý tưởng hòa âm được thay đổi, mở rộng quan niệm về màu sắc

trong âm nhạc, cơ cấu hòa âm sinh động. Các nhà soạn nhạc đã sáng tạo ra

những phương thức và kỹ thuật sáng tác âm nhạc mới, đưa ra những thực

nghiệm táo bạo cùng với sự phát triển khơng có biên giới, đờng hành cùng lúc

nhiều phong cách sáng tác âm nhạc khác nhau.

Có thể nói giai đoạn này là bước ngoặt rất quan trọng, một sự chuyển tiếp

vô cùng mạnh mẽ những bút pháp sáng tạo tinh tuý của chủ nghĩa lãng mạn

nửa cuối thế kỷ XIX sang thế kỷ XX.

Trong giai đoạn này đã nổi lên tên tuổi của một số nhạc sĩ như Claude

Debussy (1862-1918), Alexander Scriabin (1872-1915), Arnold Schönberg

(1874-1951), Maurice Ravel (1875-1937), Béla Bartók (1881-1945), Anton

Webern (1883-1945), Alban Berg (1885-1935), Sergei Prokofiev

(1891-1953), Paul Hindemith (1895-1963), Dimitri Schostakovich (1906-1975)

v.v…

Các khuynh hướng sáng tác mới của sự phát triển hoà âm đã trở nên rõ

ràng trong các tác phẩm của các nhạc sĩ thời kỳ này. Chẳng hạn, xuất hiện

nhiều hợp âm theo lối cấu trúc chồng quãng bốn, chồng quãng hai, hợp âm

thêm nốt hay hợp âm nhiều nốt chồng quãng ba v.v… Hoặc xuất hiện nhiều

thủ pháp đa điệu thức, đa điệu tính, đa hợp âm, thủ pháp hoà âm song song

v.v… Các nhạc sĩ thời này không ưa dùng điệu thức trưởng thứ, thay vào đó

họ đi sâu khai thác nhiều điệu thức khác nhau như: điệu thức toàn cung, điệu

thức đối xứng, điệu thức chuyển dịch có giới hạn, sử dụng phong phú hệ thống

âm nhạc 12 Chromatic v.v…

Âm nhạc thời này đi theo từng mảng màu rất đa dạng, miêu tả những nội

dung thời đại mới, phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu của xã hội, dòng

chảy âm nhạc ln chuyển động khơng ngừng. Chính vì vậy mà nhiều nhạc sĩ

đã tìm ng̀n cảm hứng cho sáng tác của mình từ thiên nhiên như nhạc sĩ Pháp

Olivier Messiaen đã chìm đắm với những âm thanh của lồi chim “Birdsong”,

hay nhạc sĩ Đức Bernhard Wulft chuyên nghiên cứu về tiếng chim “Leger”,

hoặc đề tài biển “Ba phác thảo giao hưởng Biển” (1903-1905) của Claude

Debussy v.v…

Thực tiễn âm nhạc thế kỷ XX đã cho thấy, cùng với sự kế thừa, vận dụng

những chất liệu, phương thức sáng tác truyền thống, các nhạc sĩ còn tạo nên

nhiều bút pháp hòa âm mới. Sự kế thừa, vận dụng được thể hiện trước hết ở

nguồn chất liệu hòa âm…, ở một số kỹ xảo hồ âm… Tuy nhiên, khơng chỉ có

như vậy, các nhạc sĩ thế kỷ XX còn tạo nên nhiều sự đổi mới cả về nguồn chất

liệu cùng bút pháp sáng tác. [95/tr.44, số 4 năm 2017]

2.1.1 Một số dạng điệu thức thường gặp trong hoà âm thế kỷ XX



12

2.1.1.1. Điệu thức toàn cung (The Whole-Tone Scale)

Theo từ điển The Harvard Dictionary of Music (2003) của Don Michael

Randel, tái bản lần thứ tư [66/Tr.969], điệu thức toàn cung là dạng điệu thức gồm

sáu âm trong một quãng tám và các âm cách nhau một nguyên cung. Chia làm hai

hệ thống điệu thức toàn cung sau: C D E F# G# A# và C# D# F G A B.

Điệu thức toàn cung được các nhạc sĩ thế kỷ XX áp dụng khá phổ biến

trong các sáng tác của mình, nhằm tạo ra sự không rõ ràng về giọng điệu, điều

này khác hẳn với ngơn ngữ hồ âm cổ điển ưa dùng âm nhạc có sức hút dẫn và

hình thành điệu tính rõ ràng.

2.1.1.2 Điệu thức chuyển dịch có giới hạn (Modes of Limited

Transposition)

Nhạc sĩ người Pháp O.Messiaen được coi là người đã sáng tạo ra dạng

điệu thức này. Ông đã thành công trong việc kết hợp các âm thanh tạo nên sự

chuyển động màu sắc hòa âm hết sức khác lạ. Trên cơ sở áp dụng một mơ hình

cung bậc của riêng bản thân nhạc sĩ mà ông gọi là các Mode (Điệu thức):

Mode là một mơ hình tập hợp các cung bậc, đóng vai trò gần như điệu tính,

được sắp xếp trên nền tảng tương quan giữa cung và nửa cung [11/tr.17].

Các điệu thức này hoạt động với phương thức chuyển dịch theo quãng

chromatic. Khi được chuyển dịch, điệu thức đó sẽ xuất hiện những âm mới dẫn

đến sự biến đổi màu sắc. Điều thú vị là mỗi điệu thức chỉ xuất hiện âm mới ở một

số lần chuyển dịch nhất định, nếu tiếp tục chuyển dịch ta sẽ trở lại dạng ban đầu .

Chính vì vậy mà Messiaen gọi là sự chuyển dịch có giới hạn.

Điệu thức chuyển dịch có giới hạn này được xuất hiện trong âm nhạc thế

kỷ XX, được coi như là sự nối tiếp các mơ hình cung bậc trong đó, tạo sự biến

đổi màu sắc hoà âm mới lạ so với các tác phẩm Cổ điển.

2.1.1.3 Điệu thức đối xứng (Symmetrical scales)

Béla Bartok là một trong những đại biểu xuất sắc của nền âm nhạc thế kỷ

XX. Ông là nhà soạn nhạc thiên tài, một nghệ sĩ piano lỗi lạc và là nhà nghiên

cứu - sưu tầm dân ca Hungari rất nổi tiếng. Ngôn ngữ hòa âm của Bartok là sự

tổng hợp những bút pháp của Tây Âu và phương Đông, của các điệu thức thời

Trung cổ, điệu thức nhà thờ, điệu thức năm âm với nhiều biến dạng. Ông đã sử

dụng rất phong phú và đa dạng các dạng điệu thức khác nhau trong tác phẩm

của mình. Đặc biệt ơng đã sử dụng rất rộng rãi trong sáng tác đó là điệu thức

đối xứng.

Theo tác giả Phạm Minh Khang, lối cấu trúc đối xứng này của Béla

Bartok được đánh giá cao và coi đây là một trong đóng góp quan trọng cho

ngơn ngữ hoà âm mới. [24/tr.229]

2.1.1.4 Âm nhạc Dodecaphone

Âm nhạc Dodecaphone cũng thường gặp trong sáng tác của các nhạc sĩ

thế kỷ XX, phải kể đến tên tuổi của Arnold Schönberg, Alban Berg và

Anton Webern v.v…



13

Dodecaphone là một kỹ thuật sáng tác trên 12 âm thuộc hệ thống

chromatic. Nếu thang âm Chromatic được hình thành trên cơ sở một điệu

trưởng hoặc một điệu thứ và nó vẫn giữ nguyên những bậc cơ bản và trung

tâm của điệu thức bảy âm, thì Dodecaphone là một hệ thống của âm nhạc

khơng có điệu tính (Atonal).

Các nhà nghiên cứu âm nhạc vẫn coi J.Matthias Hauer (1883 -1959) là

người đã nghĩ ra phương pháp sáng tác âm nhạc theo Dodecaphone thì người

tổng kết về lý thuyết và phát triển kỹ thuật sáng tác này chính là nhà soạn nhạc

A. Schönberg (1874 - 1951). [40/tr117]

Bước sang thế kỷ XX, xu thế đổi mới diễn ra càng mạnh mẽ hơn. Đặc

biệt khi phong cách âm nhạc 12 âm đã trở thành một trào lưu sáng tác thì một

hệ từ vựng mới của ngôn ngữ âm nhạc vẫn là vấn đề đáng quan tâm của nhiều

nhà soạn nhạc cũng như giới lý thuyết âm nhạc học. [95/số 3, năm 2018]

2.1.1.5 Âm nhạc vơ điệu tính (Atonal)

Theo Vincent Persichetti trong cuốn Twentirth century Harmony đã định

nghĩa về âm nhạc không có điệu tính như sau: Âm nhạc khơng có điệu tính là

khơng xác định rõ điệu tính hoặc hồn tồn biến mất điệu tính và cũng khơng

tồn tại sự hút dẫn của điệu thức. [63/tr261]

GS.TS Phạm Minh Khang cũng viết: Âm nhạc vơ điệu tính là khơng có

sự quy định điệu tính một cách rõ ràng.[24/tr166]

Nếu như đặc điểm cơ bản của âm nhạc có điệu tính là dựa trên mối quan

hệ giữa những âm ổn định và âm không ổn định trong một đoạn nhạc hay một

bản nhạc, thì điều này sẽ khơng có ở âm nhạc vơ điệu tính. Việc sử dụng âm

nhạc khơng có điệu tính đã đánh dấu một khuynh hướng phát triển mới trong

sáng tác âm nhạc. Đờng thời nó cũng mở ra những cách nhìn mới ở nhiều lĩnh

vực sáng tác như: cách xây dựng chủ đề, cấu trúc tác phẩm, hòa âm, phối khí.

Các tác phẩm thuộc loại hình âm nhạc vơ điệu tính rất phổ biến trong âm

nhạc thế kỷ XX, chẳng hạn có thể tìm thấy trong một số sáng tác của

Alexandre Scriabine, Arnold Schönberg, Anton Webern v.v...

2.1.2 Một số dạng cấu trúc hợp âm - chồng âm thường gặp trong hoà

âm thế kỷ XX

2.1.2.1 Cấu tạo hợp âm chồng quãng ba

Hợp âm chồng quãng ba (Chords by Thirds): Là những hợp âm mà trong

đó các âm được sắp xếp theo qui luật qng ba, ví dụ có các hợp âm ba (ba

nốt), hợp âm bảy (bốn nốt), hợp âm chín (năm nốt), hợp âm mười một (sáu

nốt), hợp âm mười ba (bảy nốt), hợp âm mười lăm (tám nốt), hợp âm mười

bảy (chín nốt) và hợp âm mười hai nốt (11 nốt) v.v... Trong đó các hợp sáu nốt,

bảy nốt, tám nốt cho đến hợp âm 12 nốt được gặp nhiều trong các tác phẩm

sau này. Các hợp âm này làm nhoè mờ công năng và chủ âm tạo hiệu quả âm

nhạc dày đặc, rất phức tạp, đa màu sắc. Chúng khác hẳn với các hợp âm trong

âm nhạc cổ điển là rõ ràng về cơng năng hợp âm, hình thành màu sắc trưởng

thứ, tạo sức hút về chủ âm v.v...



14

2.1.2.2 Cấu tạo hợp âm chồng quãng bốn (Chords by Fourths)

- Hợp âm ba nốt chồng quãng bốn (Three - note chords by fourths)

- Hợp âm bốn nốt chồng quãng bốn (Four - note chords by fourths)

- Hợp âm nhiều nốt chồng quãng bốn (Multi - Note chords by

fourths)

2.1.2.3 Cấu tạo hợp âm chồng quãng hai (Chords by seconds)

- Hợp âm ba nốt chồng quãng hai (Three note Chords by seconds)

- Hợp âm nhiều nốt chồng quãng hai (Multi Note Chords by

seconds)

2.1.2.4 Các dạng hợp âm thêm nốt (Added - Note Chords)

Trong âm nhạc thế kỷ XX xuất hiện nhiều dạng hợp âm thêm nốt quãng

hai trưởng và quãng hai thứ vào các hợp âm chồng quãng ba và quãng bốn

nhằm làm tăng thêm độ dày hòa âm, mang hiệu quả đối nghịch với màu sắc

của các hợp âm ba trước đây.

- Các hợp âm chồng quãng ba thêm âm sáu, âm bốn, âm hai

- Các hợp âm chồng quãng bốn thêm âm chín, âm sáu, âm năm, âm ba và

âm hai

2.1.3 Một số thủ pháp hoà âm thường gặp trong âm

nhạc thế kỷ XX

2.1.3.1 Hồ âm đa điệu tính (Polytonality)

Theo sách Twentieth-Century Harmony cuả Vincent Persichetti, đa điệu

tính được hiểu là một qui trình trong đó là sự kết hợp đồng thời của hai hay

nhiều điệu tính với nhau [63/tr.255].

Đa điệu tính là một thủ pháp phát triển quan trọng của ngơn ngữ hồ âm,

nó tạo ra nhiều khả năng biểu hiện vô cùng phong phú trong những sáng tác

của các nhà soạn nhạc thế kỷ XX.

2.1.3.2 Hoà âm đa điệu thức (Polymodality)

Hồ âm đa điệu thức được hình thành trong quan hệ chiều dọc của các

giai điệu hoặc nhóm các giai điệu ở các hình thức khác nhau tồn tại độc lập

theo chiều ngang. [89/tr.89]

Thủ pháp hoà âm đa điệu thức được hiểu ở đây là các tác phẩm sử dụng

hai hay nhiều thang âm cùng lúc, kiểu này cũng rất hay gặp trong âm nhạc thế

kỷ XX với nhiều hình thức phong phú và đa dạng.

2.1.3.3 Đa hợp âm (Polychords)

Thủ pháp đa hợp âm được hiểu cùng lúc chồng hai hay nhiều các hợp âm

khác nhau theo chiều dọc. Hai thủ pháp đa điệu tính và đa hợp âm được vận

dụng khá linh hoạt, nhiều khi thấy xuất hiện cùng lúc trong các tác phẩm âm

nhạc của thế kỷ XX. Có lúc là chờng các hợp âm với điệu tính khác nhau,

hoặc đơi khi lại xuất hiện chờng các hợp âm khác nhau trong cùng một điệu

tính, hay các bè kết hợp nhiều thang âm, điệu tính khác nhau cùng lúc v.v...

2.1.3.4 Thủ pháp hoà âm song song (Parallel Harmony)

Trong một số luận án, luận văn, có được đề cập đến các quãng song song,

các hợp âm - chồng âm song song. Đây là một trong những thủ pháp hay gặp



15

trong sáng tác của các nhạc sĩ thế kỷ XX.

Trong q trình nghiên cứu, chúng tơi thường gặp lối sử dụng song song

hợp âm, song song chồng âm dưới nhiều kiểu khác nhau.

2.2 Khảo sát việc dạy hoà âm thế kỷ XX ở một số cơ sở đào tạo âm

nhạc trên thế giới

Để hoàn thành luận án này, chúng tơi đã tiến hành khảo sát và tìm hiểu về

chương trình và phương pháp giảng dạy hồ âm trong một số cơ sở và đào tạo âm

nhạc ở nước ngồi. Bản thân NCS cũng đã có nhiều dịp được học và làm việc

cùng với các trường âm nhạc ở Đức và Thuỵ Điển, ngồi ra còn tìm hiểu thêm các

trường âm nhạc ở Mỹ, Nga và một số trường nhạc thuộc khu vực châu Á. Chúng

tôi nhận thấy, ở mỗi nước đều đã bổ sung chương trình giảng dạy hoà âm thế kỷ

XX theo các cách khác nhau sao cho phù hợp với nội dung và chương trình đào

tạo của trường, riêng các trường âm nhạc ở Mỹ họ đã cập nhật phần hoà âm thế

kỷ XX rất chi tiết và đa dạng. [PL8]

2.2.1 Một số nhạc viện ở Mỹ

Chúng tơi nghiên cứu chương trình dạy và học hoà âm ở hai trường của

Mỹ là: Trường đại học âm nhạc Berklee College of Music và Nhạc viện San

Francisco - San Francisco Conservatory of Music. [PL3]

2.2.2 Một số nhạc viện ở Châu Âu và Châu Á

Qua thực tế chúng tơi đã tìm hiểu chương trình học hồ âm ở một số

nước ở châu Âu như Thuỵ Điển, Đức, Hungary, Nga, Canada và một số nước

Châu Á như Trung Quốc, Malaysia, Thailand, Hong Kong, Singapore v.v…

Qua việc tìm hiểu về chương trình dạy hồ âm nói chung và việc bổ sung

kiến thức hồ âm thế kỷ XX nói riêng vào chương trình đào tạo âm nhạc

chuyên nghiệp ở một số nơi trên thế giới, chúng tôi nhận thấy rằng, mỗi nước

có một cách tiếp cận khác nhau. Có thể dùng phương pháp tích hợp để đưa

kiến thức hồ âm thế kỷ XX vào giờ học mơn Phân tích tác phẩm, sinh viên sẽ

lĩnh hội kiến thức đó thơng qua giờ học này vừa giới thiệu lịch sử âm nhạc,

phân tích cấu trúc hợp âm và thủ pháp hoà âm được sử dụng trong đó. Nhìn

chung, các nước đều rất chú ý đến việc cập nhật kiến thức hoà âm thế kỷ XX

vào chương trình đào tạo cho sinh viên âm nhạc trong giai đoạn hiện nay.

Riêng đối với sinh viên Việt Nam chúng tôi đặt vấn đề bổ sung vào mơn Hồ

âm, nghĩa là sau khi kết thúc phần hồ âm Cổ điển, tiếp tục học nối tiếp phần

hoà âm thế kỷ XX cho sinh viên đại học, sẽ có tác dụng dẫn sang học phần

mới một cách trực tiếp và có mục tiêu rõ ràng.

Tiểu kết chương 2

Trong chương hai, chúng tôi đã giới thiệu một cách khái quát về ngơn

ngữ hồ âm thế kỷ XX, một số dạng điệu thức và cũng như một số dạng hợp

âm - chồng âm thường gặp trong ngôn ngữ âm nhạc thế kỷ XX nhằm bổ sung

thêm kiến thức về quan niệm hòa thanh trong thời kỳ này.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bố cục của luận án

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×