Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. MỘT SỐ LÝ THUYẾT TÂM LÝ HỌC VỀ QUAN HỆ CỦA DU KHÁCH VỚI MÔI TRƯỜNG

II. MỘT SỐ LÝ THUYẾT TÂM LÝ HỌC VỀ QUAN HỆ CỦA DU KHÁCH VỚI MÔI TRƯỜNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

vật lý là cội nguồn cùa tất cả các cảm giác, là yếu tố quyết định sức

khoẻ tâm thần cùa con người. Các tác động này bao gồm cá các tác

động đơn giản như: ánh sáng, âm thanh, màu sắc, nhiệt độ (nóng,

lạnh) và các tác động phức hợp như: nhà cửa, cây cối, động vật và

cả con người. Tác động trong tâm lý học du lịch được hiểu không

chi bao gồm các tác nhân do con người tạo ra, mà còn các yếu tố có

nguồn gốc từ thế giới tự nhiên và môi trường xã hội xung quanh.

Theo các nhà nghiên cứu thì tác động của mơi trường du lịch

tới con người có thể được đánh giá theo hai thơng số là số lượng và

giá trị. Số lượng có thể đo bàng các thang đo như: cường độ. thời

gian tồn tại, tần số và số lượng nguồn phát sinh. Giá trị dược đánh

giá tương quan giữa mức độ nhận thức thông tin chứa trong tác

động và hiệu quà thực tế của tác động.

Một trong các lý thuyết tác động được nhiều người thừa nhận

là lý thuyết về mức độ thích ứng. Theo lý thuyết này thì mỗi cá

nhân có mức độ thích ứng xác định đối với ngữ cành cụ thể. Mức

độ khác biệt của thích ứng là nguyên nhân làm cho xúc cảm, hành

vi và thái độ của du khách trong cùng một môi trường du lịch là

khác nhau. Ví dụ: trong cùng một chuyến du lịch thì du khách này

có tâm trạng thoả mãn, phấn khởi, nhưng đối với du khách khác thì

lại khơng thoả mãn, buồn chán.



Các lý thuyết tác động sinh lý (Arousal theories). Lý thuyết

này cho ràng hình thức, nội dung cùa hành vi (tâm lý) và trài

nghiệm cùa du khách có quan hệ mật thiết với trạng thái sinh lý của

họ. Lý thuyết quá tải (Overload theory) thì tập trung vào hiệu ứng

quá tải kích thích từ mơi trường. Ví dụ: nghiên cứu về hiệu ứng

tiếng ồn, nhiệt độ (nóng, lạnh) và số lượng người xung quanh (đám

đông) đã ảnh hưởng tới thái độ của du khách với môi trường như

thế nào đà kết luận ràng, khi mơi trường q tài kích thích thì cùng

làm cho du khách có thái độ thụ động trong tiêu dùng. Lý thuyết

kích thích trong giới hạn (Restricted environmental stimulation)

cho ràng; nếu kích thích mơi trường du lịch trong giới hạn thì để lại

hiệu quà tâm lý rất tốt cho du khách. Ví dụ: kết quả một số cơng

trình nghiên cứu đã khẳng định, nhận thức cùa du khách trong mơi

178



trường kích thích giới hạn thường chính xác hơn. Kết quả cùa mội

sò cơng trình nghiên cứu khác lại khẳng định nếu các tác động từ

môi trường quá yếu lại gây ánh hường xấu tới tâm lý du khách. Ví

dụ, nêu ánh sáng và nhiệt độ trong mơi trường quá yêu thi sỗ làm

cho du khách khó tri giác môi trường và gây cám giác mệt mỏi.

Nhu vậy, nếu kích thích mơi Irường q yếu có thể được tăng

cường kích thích hoặc thay đổi điều kiện một cách hợp lý sẽ làm

cho du khách có mức độ thồ mãn cao hơn.

Trạng thái căng thẳng (stress) của du khách trong hoạt động du

lịch cũng đã trở thành vấn đề được rất nhiều nhà tâm lý du lịch

quan tâm trong thời gian gần đây. Hans Selye đã nghiên cứu quan

hệ giữa sức khoẻ và hành vi tiêu dùng cùa du khách trong tình

huống kích thích mơi trường vượt ngưỡng, ơn g cho ràng có rất

nhiều nguyên nhân gây ra stress. Stress có thể là hậu quả của các

tác nhân từ cuộc sống thường ngày, đặc biệt các tác nhân gây stress

từ môi trường du lịch (ô nhiễm, ùn tắc giao thông, tiếng ồn, thảm

hoạ, hoặc nhiệt độ bất thường) đã gây ảnh hưởng tới hành vi tiêu

(lùng của du khách. Ví dụ: nếu thời tiết nóng q thì nhu cầu nước

uống cùa du khách tăng, nhưng lại làm giảm nhu cầu vui chơi giải

trí và ăn uống.

2.2. Các lý thuyết kiểm soát (Control Theories)

Các lý thuyết kiểm soát do các nhà tâm lý học Mỹ F. O’Brien

(1992) và E. Knowle (1983) đưa ra. Các lý thuyết này tập trung vào

năng lực kiểm sốt cùa du khách đối với mơi trường du lịch. Theo

O'Brien, con người có khả năng thích ứng nhanh với cường độ cùa

kích thích khi chúng nằm trong giới hạn (ngưỡng trên và dưới),

nhưng đôi khi họ phải đối mặt với kích thích quá nhỏ hoặc quá lớn,

trong trường hợp này khả năng thích ứng rất kém gây hậu quà

không tốt đối với tâm lý cùa họ. Vậy làm thế nào để có thể kiểm

sốt và khống chế các kích thích như vậy. Theo lý thuyết này, khả

năng kiểm sốt các kích thích bất thường từ mơi trường ở mỗi

người là khác nhau. Kết quả cùa các công trình nghiên cứu cho

thấy, những người có khả năng kiểm sốt được một số lượng lớn

các kích thích, thì họ có tâm lý thoải mái hơn so với những người ít

179



có khả năng kiểm sốt. Sự thích ứng cùa du khách đối với các kích

thích từ mơi trường là khác nhau, vì vậy, trong hoạt động phục vụ

du lịch cần tiếp cận từng du khách, tìm hiểu nhu cầu, mong muốn

cùa họ, từ đỏ giúp họ có được mức độ thích ứng tốt nhất (thực

phẩm, phòng nghi, ánh sáng, âm thanh).

Các lý thuyết kiểm soát nhân cách được phát triển dựa trên khả

năng của nhân cách kiểm soát tổ hợp kích thích từ mơi trường. Ví

dụ: sự thiếu hụt khả năng kiểm soát của nhân cách, thường dần tỏi

các trạng thái kháng cự tâm lý, lúc này nhân cách cố gang lập lại

trạng thái cân bàng vốn có. Trong cuộc sống thường ngày du khách

thường kiểm soát một số lượng giới hạn các kích thích (khoảng

khơng nhân cách, lãnh thổ...), vì thế trong hoạt động du lịch nhà

kinh doanh có thể tăng cường sự thoả mãn, tạo ra tâm trạng tốt cho

du khách bằng việc sử dụng các sản phẩm, dịch vụ du lịch hợp lý.

2.3. Các lý thuyết xếp đặt hành vỉ (Behavior-Setting Theories)

Các ỉý thuyết này do các nhà tâm lý học Mỹ D. Stokols (1978)

và E. Sundstrom (1978) đưa ra. Theo Stokols thì hành vi cùa du

khách được quy định, điều chỉnh bởi tình huống mơi trường và các

đặc điểm tâm lý của chính bản thân họ. Nguyên lý cơ bản của các lý

thuyết xếp đặt hành vi là dự kiến trước hành vi (chương trình thực

hiện) sè xảy ra hoặc được lặp lại trong tình huống đó. Các lý thuyết

này đã giải thích quan hệ cùa du khách với môi trường một cách đơn

giản bằng những đặc điểm của môi trường xã hội (qui định, tục lệ,

lối sống) và đặc điểm môi trường tự nhiên ở đó. Một trong những

điểm nổi bật cùa lý thuyết này là, hành vi xếp đặt của du khách còn

phụ thuộc vào số lượng thành viên tham gia vào tình huống du lịch

đó. Khi số lượng người tham gia vào tình huống du lịch càng nhiều,

thì hành vi tiêu dùng cùa du khách được thực hiện một cách tự tin

hơn. Ngược lại, nếu số lượng người tham gia vào tình huống du lịch

ít (vắng), thỉ du khách thực hiện hành vi tiêu dùng không tự tin, họ

buồn chán, thất vọng và không thoả mãn với chuyến đi.

Một trong các lý thuyết được nhiều người thừa nhận là lý

thuyết xếp đặt. Lý thuyết này nhấn mạnh sự ảnh hưởng, tác động

180



lại lần nhau giữa các yếu tố xã hội, yếu tố cá nhân đối với hành

vi tiéu dùng. Hành vi được xem như một bộ phận của tổ chức đang

phát triển có mục tiêu ngấn và dài hạn cụ thể (Hình 4).



qua



Hình 4. Quan hệ của du khách với mỏi trường



Thựctế



Thước đo

thực tế



Kết quà

trongxếp đặt



Kết quả

sau khi xếp đặt



(Social-culural Script)

2.4. Các lý thuyết tích hợp (Intergral Theorles)

Người đầu tiên đưa ra tư tưởng tích họp quan hệ mơi trường là

Isidor Chein (1954). Theo ơng lý thuyết tích hợp hành vi mơi

trường bao gồm 5 phần từ sau: (1) các kích thích mơi trường làm

hành vi xuất hiện, (2) mục đích, tình huống có thể thoả màn hoặc

khơng thồ mãn nhu cầu, (3) các yếu tố thúc đẩy, hồ trợ (ánh sáng,

đường di, các dịch vụ), (4) sự chi dẫn trong môi trường cho du

khách biết cần làm gì và đi đâu, (5) môi trường bao trùm là các đặc

điểm của môi trường tự nhiên và môi trường xà hội. Như vậy, hành

vi cùa du khách và môi trường du lịch luôn quan hệ mật thiết với

nhau. Du khách sẽ không thoả mãn chuyến đi, nếu nhà kinh doanh

không chú ý tới 5 phần từ cùa mơi trường du lịch như đã nói ở trên.

Các lý thuyết tích hợp đà cho thấy quan điểm hoàn hảo, tiến bộ

nhất cùa các nhà tâm lý học du lịch đối với quan hệ giữa con người

181



và môi trường như thế nào, đồng thời làm sáng tỏ dược vai trò cùa

các yếu tố tâm lý trong việc hình thành thái độ của du khách đối với

mơi trường. Các lý thuyết thuộc nhóm này đà phàn ánh được toàn

bộ các quan hệ hàng ngày cùa du khách đổi với môi tnrờng.

2.5. Cách tiếp cận tạo tác (The Operanỉ Approach)

Lý thuyết này do các nhà tâm lý học Mỹ J.R Aiello, J.s

Vautier & M.D Bernstein (1983) dựa trên lý thuyết của Skiner đưa

ra. Mục tiêu của các lý thuyết này là nhận dạng hành vi đặc thù cùa

cá nhân, khi tham gia giải quyết một số vấn đề môi trường. Các

hành vi này được nhận dạng, sau đó được thích ứng bàng các cùng

cố có lợi (dương tính) khi cá nhân thực hiện các hành vi đó. Ví dụ:

hành vi thài rác bừa bãi ở nơi du lịch hoặc lãng phí năng lượng của

du khách có thể loại bò bàng cách đặt các thùng rác “biết nói” cám

ơn khi du khách bỏ rác đúng vào thùng, hoặc cửa phòng có thiết bị

nhắc nhở tắt điện khi du khách ra khỏi phòng.

Mồi du khách đều là những nhân cách có kiểu hành vi tiêu

dùng riêng của mình. Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, thuộc

tính tâm lí của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội cùa con

người, ỉà chủ thể tích cực, có ý thức của hoạt động và giao tiếp.

Kiểu nhân cách của du khách có ảnh hưởng rất lớn tới hành vi tiêu

dùng cùa họ. Ket quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học cho thay,

những người có nhân cách hướng nội, thường tự quyết định mua

sắm; tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ mà ít trao đổi với người khác.

Ngược lại, nhân cách hướng ngoại là những người mà trước khi

tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ thường tham khảo ý kiến người khác

(bạn bè, người thân trong gia đình) rồi mới quyết định.

III. TRI GIÁC MÕI TRƯỞNG DU LỊCH CỦA DU KHÁCH

Trong hoạt động du lịch, du khách thường xuyên tri giác cảnh

quan môi trường xung quanh. Du khách tri giác môi trường tốt, sẽ

tạo ra được cảm giác thoải mái giúp họ nhận thức tốt hơn về môi

trường, về trách nhiệm, nghĩa vụ của họ trong việc bảo vệ môi

trường. Vậy, thế nào là tri giác môi trường, làm thé nào để du

182



khúc 1 tri giác mỏi trường tốt nhất. Trước hết cần hiêu dirợc tri giác

i n ô i : r ư ừ n g d u l ị c h là g ì.



3.1. Khái niệm tri giác mõi trường du lịch

3.1.1. Dịnh nghĩa tri giác môi trường du lịch

Trong tâm lý học đại cương chúng ta đã nghiên cứu các lý

thuyèt, quan điểm, quy luật khác nhau về tri giác. Các lý thuyết và

quy uật ấy thường được đưa ra dựa trên kết quả cùa các nghiên cứu

tronc phòng thí nghiệm (điều kiện được kiểm sốt). Tri giác mơi

trường du lịch cùa du khách xảy ra trong tình huống tự nhiên dựa

trên :ác cảm giác đích thực của họ. Kích thích từ mơi trường du lịch

thirờiR khơng tác động một cách đơn lè mà phối họp. kết hợp với

nhau thành các tồ hợp kích thích như; các tồ nhà, phong cánh xung

quanh, nước, khơng khí, vườn cây, động vật, con người cùng với các

quar hệ, văn hoá, lịcfi sử của họ. Dổi tượng tri siác môi trường du

lịch 'ất rộng bao gồm toàn bộ các yếu tố cùa môi trường tự nhiên và

xã h)i trong không gian và thời gian diễn ra hoạt động du lịch. Có

thể rói tri giác môi trường du lịch là tri giác xã hội xảy ra trong mơi

triròrig tự nhiên ln xảy ra trong mối quan hệ người người.



Vậy tri giác môi trường du lịch cùa du khách là quá trình phản



ánh trực tiếp, trọn vẹn đặc điểm của các tổ hợp kích thích từ mơi

trưỏ'ig (tự nhiên và xã hội) được phơi bày một cách chân thực,



thông qua các cảm giác, trải nghiệm cùa họ.

1.3.2. Đặc điểm tri giác môi trường du lịch

- Tri giác môi trường du lịch là tri giác tổng thể, đa diện, tổ

hợp các tác động từ môi trường (âm thanh suối, màu nước, cây

xanh, cá, chim và con người cùng với các quan hệ của họ).



- Chù thể tri giác môi trường du lịch thường là du khách sống

trong môi trường, đang trực tiếp trải nghiệm môi trường, và chính họ

là một bộ phận cùa mơi trường đó. Điều này muốn nhấn mạnh tồn bộ

mơi trường du lịch là đối tượng cùa tri giác, vì thế các kinh nghiệm,

trãi nghiệm của chủ thể ảnh hưởng rất lớn tới kết quả tri giác.

183



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. MỘT SỐ LÝ THUYẾT TÂM LÝ HỌC VỀ QUAN HỆ CỦA DU KHÁCH VỚI MÔI TRƯỜNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×