Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. ĐỘNG CƠ HÓA HÀNH VI SINH ĐẺ

III. ĐỘNG CƠ HÓA HÀNH VI SINH ĐẺ

Tải bản đầy đủ - 0trang

TÂMLÝHỌC DÃN số



1.

Những tiền đề lí luận trong việc nghicn cứu các động

cơ sinh đẻ

Về mặt lí luận, điểu quan trọng là vạch ra xem cái gì tạo



nên cơ sở năng lượng của các động cơ, chúng được thể hiện

trong các động tác hành vi và những phán đoán nào.

Trong tâm lí học động cơ được xem là một trong những cơ

chế thúc đẩy cùng với các nhu cầu, hứng thú, giá trị, xu hướng

cùa cá nhân. Nhưng đặc trưng cùa động cơ như là một cơ chế

thúc đẩy thực tế đã không được mô tả, và những cố gắng xác

định động cơ thơng qua phạm trù “kích thích” khơng giầi thích

được cái gi cả, vì chính bản thân sự kích thích cũng cần phải

được định nghĩa. Ví dụ, A.G. Visnhevxki đã hiểu động cơ sinh

đẻ là toàn hộ những kích thích dẫn đến việc sinh con. Nhưng

bản chất của những kích thích đó là ở cái gì, chúng nẩy sinh và

được thể hiộn như thế nào- thì ổng khơng chỉ rõ.

Cái gì chứa đựng ở động cơ? K.K. Platơnơv đã nhận định

rầng, các quá trình, trạng thái và thuộc tính tâm lí của cá nhân

có thể bộc lộ như là các động cơ. L.I. Bôzôvich cho rằng, các

đối tượng cùa thế giới bên ngoài, các biểu tượng, tư tường, tình

cảm và trải nghiệm có thể đóng vai trò của các động cơ. E.V.

Sôrôkhổva cho rằng, ngay cả khi các động cơ khơng được ý

thức thì chúng vẫn tìm thấy sự phản ánh tâm lí của mình,

nhưng dưới dạng đặc biệt- dưới dạng màu sắc xúc cảm của

hoạt động. Như vậy, vật chứa các động cơ là khác nhau- cả

bên ngoài (các đối tượng của thế giới bên ngoài) lẫn cả bên

trong. Rõ ràng là, chân lí chỉ có thể được vạch ra sau khi đã

lùm sáng tỏ được động cơ là gì. Nhưng về điều đó thì vẫn chưa

có một ý kiến thống nhất.

163



TRẨNTRỌNGTHỦY



Theo một sơ' nhà tâm lí học này thì động cơ - đó là mội

hiện tượtig tâm lí thúc đẩy lới một hoạt động nhất định, rròt sơ

khác lại cho rằng động cơ - đó là những điều kiện tâm lí quyết

định tính chất có mục đích của hành dộng', một sơ khác nữa lại

cho rằng, động cơ- đó là những sự kích thích c ó lién quan với

sự thoả mãn những nhu cầu nhất định, và là sự thể hiện cu thể

của những nhu cầu đó. Định nghĩa sau cùng này rõ ràng đà

xuất phát từ chỗ cho rằng, nhu cầu là khởi đầu kích thích cơ

bản trong hành vi, còn động cơ là hệ quả của chúng, là một

hình thức được cải tổ ít nhiều của chúng để hướng con người

vào một hoạt động nhất định. Trong trường hợp này động cơ

được thể hiện, một mặt, dưới ảnh hưởng của các nhu cầu iược

nảy sinh một cách không chủ định, mặt khác, được quy định

bởi những thuộc tính nhất định của các đối tượng có thể thoả

mãn được nhu cầu này. Nhu cầu được biểu hiện càng rõ Ví các

thuộc tính của đối tượng càng hấp dẫn, thì động cơ cùa hoạt

động có liên quan với sự thỏa mãn nhu cầu càng được thể hiện

rõ ràng. Khi ấy chức năng của tâm lí được thể hiộn ở chỗ làm

sao “phát hiện” ra nhu cầu, nhận thức thuộc tính của sự vu và

ghi nhớ mối liên hệ sơ -đẳng giữa chúng (đối tượng này thoà

mãn nhu cầu kia).

Quan niệm như vậy về nguồn gốc của các động cơ là lúng

đối với động vật, mà hành vi của chúng hoàn toàn phụ tiuộe

vào những nhu cầu sinh học và do các thuộc tính của đối tíựng

quy định. Trong một chừng mực nhất định, nó cũng đượt vận

dụng cả với con người, khi ta nói về các nhu cầu cấp :hấp.

Nhưng cách nhìn nhận sẽ hồn tồn khác đi về nguyên tắc, nếu

nói đến những nhu cầu cao cấp, nhu cầu tinh thần, trong dó c6

164



TÂM LÝ HỌC DÂN số



nhu cáu về con cái. Trong trường hợp này, như đã nói ở trên,

các Jộng cơ được hình thành không phải trên cơ sở những nhu

cầu sinh học, mà là do sự lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, các tiêu

chuẩn của hành vi, như là hệ quả của sự nhận thức bản thân

rrùnì, lập trường sống của mình và các mục đích cụ thể của

mìni. Còn các mục đích đều có khả năng Irở thành động cơ,

đó hi chính là sự thể hiện của một nhu cầu mới (20). Các động

co có thể kích thích nhu cầu tinh thần, và những nhu cầu này

lại cẻ ra những động cơ mới. Ngồi ra, sự nảy sinh các động

co có thể do các giá trị, hứng thú, tâm thế của cá nhân quy

định. Còn chính các thuộc tính của đối tượng thoả mãn một

nh u cầu tinh thần cụ thể thì cần phải được cá nhân “khám phá”

hai ần: lần đầu trong ý nghĩa xã hội của chúng, và lần sau

tron» ý nghĩa cá nhân.

Mhư vậy, động cơ là một cấu tạo tâm lí phức tạp mà ta có

thể iịnh nghĩa nó từ những phía khác nhau. Trước hết, động

cơ- đó là một trong những hình thức phản ánh quan hệ của con

ng ươi đối với môi trường xung quanh, cụ thể là những quan hệ

giữa trạng thái bên trong của họ và trạng thái hay đòi hỏi của

mơi trường. Khi trải nghiệm và đánh giá những trạng thái đó,

co>n Igười thường cảm thấy có nguyện vọng tác động vào mối

quíar hệ giữa chúng. Chẳng hạn, khi nhận thức được rằng đa số

ngươi đểu có nhiều con, thì con người cảm thấy muốn có ít

com,do đó muốn thay đổi tính chất của mối quan hệ giữa trạng

ihiáibên trong của mình (những trải nghiệm về tình trạng nhiều

coirv và mơi trường bên ngoài (truyền thống đẻ nhiều).

Mguyện vọng muốn tác động vào những mối quan hệ giừa

trạm» thái bên trong của cá nhân và môi trường được thể hiện

165



TRÁN TRỌNGTHỦY



hoặc những ý định thay đổi các quan hệ đó, hoặc ở mong

muốn duy trì những quan hệ đó ở dạng khơng thay đổ). Vé

phía mình, nguyện vọng thay đổi những quan hệ đó lại được

biểu hiện trong sự kích thích phải được điều chỉnh, xen xét

lại, suy nghĩ lại, làm lại...một cái gì đó, phải thoả mãn nhu cầu

hiện có...Còn nguyện vọng muốn duy trì những quan hệ ¿ó lại

có thể được thể hiện trong sự tránh xa những hành động knơng

mong muốn, thuyết phục mình và người khác rằng, mọi cái

đểu diễn ra như chúng cần phải diễn ra, không đòi hỏi sư can

thiệp và tăng cường. Khi đó nguyện vọng muốn tác độn£ vào

mối quan hệ giữa những trạng thái bên trong và trạng thái của

môi trường xung quanh còn chưa được thực hiện, nó mới chỉ là

ý định, và thậm chí còn có thể khơng được ý thức. Nhưng tam

lí thì đã nằm trong trạng thái được động viên, bằng cách duy

trì năng lượng cần cho sự thực hiện nguyện vọng.

Nhưng nguyện vọng tác động vào các quan hộ bên irong

và bên ngoài vẫn chưa phải là động cơ, mà chỉ là cơ sờ lăng

lượng của nó, nghĩa là lực thúc đẩy mà thơi. Sự căng thẳnị tâm

lí này tạo cho cá nhân một sự bất tiện nào đó, mà khơng I m ra

“lối thốt” và vì vậy được thể hiện trong một kết cấu ngữ rghĩa

nào đó, ví dụ trong quyết định được chấp nhận, trong nành

động dự định, trong kết luận lôgic, trong các nguyên nhân ùm

được. Cho nên, động c ơ - đó là m ột kết cấu ngữ nghĩa nà) đó,

chứa đựng trong mình sự câng thẳng tâm lí, này sinh dướ ảnh

hườìĩg của nguyện vọng muốn tác dộng vào m ối quan liệ giữu

trạng thái bên trong của cá nhàn và trạng thái bên tigồ của

m ơi trường. Nhưng nếu kết cấu ngữ nghĩa được thể hiện rong



hành vi, thì nó sẽ mất năng lượng tâm lí cùa mình và kiơng

còn là động cơ nữa.

166



TÂMLÝ HỌC DÂN SỐ



Cần phân biệt các động cơ “được hiểu” và động cơ “tác

động thực sự”. Động cơ “được hiểu” là những động cơ được

con người nhận thức, nhưng không gắn với nguyện vọng tác

động vào quan hệ cùa cái bên trong và bên ngồi. Còn động cơ

“tác động thực sự” là những động cơ mà trong những điều kiện

nhất định sẽ kích thích sự tác động vào những mối quan hệ đó.

Ví dụ, một người có thể nói ln miệng về một vài động cơ

hạn chế sinh đẻ nào đó nhưng động cơ tác động thực sự đối với

anh ta là “bằng mọi giá phải có một đứa con trai”. Các động cơ

“được hiểu” không chứa đựng năng lượng tâm lí, chúng biểu

đạt những luận điểm có ý nghĩa chung, còn trong các động cơ

“tác động thực sự”- những ý nghĩa cá nhân. Đáng tiếc là, các

nhà dân số học nghiên cứu vấn đề động cơ hoá hành vi sinh đẻ

đã bỏ qua yếu tố này, do đó đã thu được những thơng tin về

các động cơ “được hiểu” nhiều hơn là những động cơ “tác

(lộng thực sự”.

2. Động cơ sinh đẻ và phản loại động cơ sinh đẻ

Những điều đã nói trên đây cũng đúng cả cho các động cơ

sinh đẻ. Chúng cũng chứa trong mình một năng lượng nhất

định, do nguyện vọng của con người muốn tác động vào mối

quan hệ giữa thế giới bên trong và thế giới bên ngoài quy định.

Nguyện vọng này được thể hiện trong một kết cấu ngữ nghĩa

nào đó. Các động cơ sinh đẻ- đó là những kết cấu ngữ nghĩa,

nảy sinh dưới ảnh hưởng cùa xã hội hoá và nhận thức của con

người về mình, nó biểu đạt nguyện vọng của họ muốn thay đổi

hay duy trì vị trí của mình trong xã hội, trong gia đình, cũng

như trạng thái tâm lí của mình, bằng cách sinh ra một số con

nhất định (thuộc một giới nhất định) hoặc khước từ chúng (6).

167



TRẤN TRỌNC THỦY



Vấn đề phân loại các động cơ sinh đẻ có một ý nghĩa co

bản đối với việc tổ chức nghiên cứu và xây dựng các cơng cụ

đo đạc. Lượng thơng tin thấp và lợi ích thực tế khơng nhiều

của cơng trình nghiên cứu về động cơ sinh đẻ là do sự chưa

hoàn thiện trong việc phân loại các động cơ đó gây nên. Chính

những động cơ nào được đưa ra để người được hòi đánh giá lù

hoàn toàn phụ thuộc vào những biểu tượng của chúng ta vê các

lực kích thích hành vi sinh đẻ.

Ở Liên Xô, từ những năm 40 của thế kỉ XX người :a điì

nghiên cứu các mặt riêng lẻ cùa động cơ sinh đẻ, sau nàv các

nhà nghiên cứu đã bắt đầu gộp các động cơ thành những phạm

trù hay kiểu cùng loại.

Động cơ sinh đẻ cũng được nghiên cứu rộng rãi ở phíơng

Tây. Nhưng những nghiên cứu ấy thường được quy vào mừng

động cơ kinh tế. Chẳng hạn J. Sprengler (Mĩ) đã đưa ra Ịuan

niệm “chủ nghĩa duy kinh tế” . Theo quan niệm này thì tre con

có giá trị chủ quan đối với cha mẹ, việc đẻ ra chúng có liên

quan với những món lời đã thấy trước mà các bậc cha mẹ hi

vọng sẽ thu được nhờ sự ra đời cùa con cái (72). Có thể là,

trong những điều kiện xã hội nhất định thì trẻ con thực sự iượe

xem xét theo quan điểm lợi ích kinh tế, nhưng quan niệrr này

có những giới hạn lịch sử chặt chẽ của nó. Khơng thể tin iược

rằng, trong các nước có kinh tế phát triển hiện đại người !a lại

đẻ con để có được lợi ích kinh tế! Trái lại, người ta đành hạn

chế số con để duy trì mức sống ổn định của gia đình.

Trong khi hiểu được tính chất phức tạp của việc phân loại

các động cơ sinh đẻ, một số nhà nghiên cứu đã thử gộp ciúng

thành những nhóm trên cơ sở các câu trả lời của những người

168



TÂML' HỌC DÂN số



được thăm dò. Người ta chỉ đưa ra cho những người được hỏi

câu hỏi là việc có con có những un điểm và nhược điểm nào?

(câu lỏi mở). Khơng có một sự chỉ dẫn sơ bộ nào, tự bản thân

ngườ. đựơc hỏi nêu ra bất cứ động cơ nào hay một loạt các

động cơ, và sau đó nhà nghiên cứu gộp chúng lại thành các

nhórr căn cứ theo ý nghĩa. Chẳng hạn, sau khi xử lí các số liệu

thu điợc trong một cơng trình nghiên cứu ở Mĩ, người ta vạch

ra 9 loại động cơ sinh đẻ: 1) con cái củng cố các quan hệ gia

đình, sự quyên thuộc đối với gia đình; 2) con cái, nguồn gốc

cùa niềm tự hào, của sự mới lạ, của thú vui; 3) động cơ nối dài

bản tìân mình trong con cái, ý nghĩa của cuộc đời; 4) cha mẹ

nâng cao tình cảm trách nhiệm, cùng cố vị thế người lớn; 5)

khi len lên, con cái có thể thành đạt nhiều hơn trong đời so với

bố mỉ; 6) con cái là nghĩa vụ đạo đức và tôn giáo; 7) lợi ích

kinh ế của chúng; 8) các động cơ về quyền lực và ảnh hưởng;

9) con cái làm nâng cao uy tín.

Tiủ pháp kĩ thuật của cách phân loại các động cơ sinh đẻ

này li ở chồ: người được hỏi không có những câu trả lời cho

sẵn. Mhưng phương pháp hỏi này có một loạt nhược điểm

đáng kể. Thứ nhất, việc nghiên cứu bị mất đi sự định hướng lí

luận nào đó, khơng kiểm tra được giả thuyết đã sơ bộ hình

thành, trong trường hợp tốt nhất thì các kết quả của nó sẽ

khớp với giả thuyết. Thứ hai, sự biểu đạt độc lập câu trả lời

ln ln gây khó khăn cho người được hỏi. Hồn tồn

khơng phải mỗi người đều có thể “phiên dịch” được các tâm

trạng nguyện vọng, phán đốn của mình sang hình thức từ

ngữ. Cuối cùng có nhiều người chỉ đơn giản là lười suy nghĩ

và ghi chép tỉ mỉ các thơng báo của mình. Khơng phải ngẫu

169



TRÁN TRỌNGTHỦY



nhiên mà các biến thể có thể có của các động cơ đã đưọc các

nhà nghiên cứu Mĩ phân ra làm 9 loại, khá vỏ vị về nội dung

và ít thông tin theo quan điểm thực hiện chính sách và việc

tuyên truyền về dân số.

Cho đến nay các nhà nghiên cứu Xơ viết cũng chưa có ý

định phân loại các động cơ sinh đẻ một cách có căn cứ lí luận,

mà chỉ thực hiện việc phân chúng thành các nhóm: các động

cơ tâm lí, xã hội và kinh tế.

Vé sau, nhà nghiên cứu Xô viết nổi tiếng v .v . Bôirô đã

đưa ra cách phân loại các động cơ sinh đẻ dựa trên 3 cơ sc:

C ơ sở thứ nhất của việc phân loại phản ánh sự định hướng



về thời gian. Các động cơ sinh đẻ có thể có liên quan với ương

lai, hiện tại và quá khứ. Chẳng hạn, một phụ nữ muốn đì dứa

con thứ hai, đã nghĩ về tương lai trong khi cho rằng con ;ái là

chỗ dựa của tuổi già; về hiện tại- khi chị ta tuyên bố rằng, chị

làm như vậy để tác động đến quan hệ với chổng, để củig cố

gia đình, về quá khứ- khi chị ta đưa ra tấm gương của giỉ đình

bố mẹ mình trước đây đã có hai con.

Việc vạch ra sự định hướng vế thời gian của các động cư là

nhân tố cực kì quan trọng trong việc hiểu rõ về nhân cách, về

các vấn đề của gia đình, trong việc xác định bản chất các biện

pháp của chính sách và việc tuyên truyền về dân số - thững

hoàn cảnh nào của tương lai, hiện tại và quá khứ cần phải được

chú ý để tác động vào tình trạng sinh đẻ theo hướng có lơi cho

xã hội.

C ơ sở thứ hai của sự phân loại các động cơ sinh đẻ có liên



quan với phương hướng của chúng. Các động cơ có thể động

170



TÂM ư HỌC DÃN sồ



charr đến cá nhân đã phát biểu về các động cơ đó, đến trẻ con

(hiện có hoặc được hoạch định), đến người bạn đời, đến gia

đình nói chung, cũng như đến xã hội. Vấn đề các nhóm dân

cư, cic kiểu cá nhân và gia đình này nọ đã gắn động cơ sinh đẻ

với a.: với cá nhân, với người bạn đời, với gia đình hay xã hội,

là ván đề then chốt trong việc hiểu rõ toàn bộ các vấn đề cùa

hành vi sinh đẻ và điều chỉnh sinh đẻ.

Cơ sở thứ ba của sự phân loại có quan hệ tới động tác

hành vi và những phán đoán cùa cá nhân, mà các động cơ sinh



đẻ điợc thể hiện ở trong đó. Chúng có thể được biểu hiện

trong các kết cấu ngữ nghĩa khác nhau, phản ánh: a) cường độ

rnonf muốn của con người được tác động vào hành vi sinh đẻ

của ninh với sự tính đến các hồn cảnh gia đình và xã hội; b)

sự bết buộc của hành vi sinh đẻ đối với bản thân cá nhân. Có

những kết cấu ngữ nghĩa sau: 1) viện cớ; 2) nêu lí do; 3) vạch

ngun nhân; 4) các tâm thế về mục đích; 5) các tâm thế tự vệ.

S / viện c ớ là một kết cấu ngữ nghĩa phản ánh sự chấp nhận



(kh'öng chấp nhận) của cá nhân đối với những phán đoán được

phổ biến rộng rãi về vấn đề: tại sao người ta lại muốn hay

khơnỉ muốn có một số lượng con nào đó. Sự viộn cớ được hình

thàinh với sắc thái ngữ nghĩa như thế này: “về nguyên tắc nó là

như vậy đó”. Chúng khác với kết cấu ngữ nghĩa khác ở chỗ,

trong chúng thực tế khơng có sự kích thích làm thay đổi một

cái g đó hoặc giữ nguyên như trước trong hành vi sinh đẻ cùa

nùnh. trong chúng người ta khơng cảm thấy tính bắt buộc của

hành vi sinh đẻ đối với cá nhân.

ụẻu lí do là một kết cấu ngữ nghĩa có sắc thái: “tơi cho

r ằ r ỉ i g So với sự viện cớ thì nêu lí do có chứa đựng nhân tố

171



TRÁN TRỌNOTHỦY



cá nhân, mặc dù khơng phải bao giờ cũng có sắc thái bắt buộc.

Ví dụ, khi nêu ra động cơ hạn chế số con trong gia đình, người

được hỏi nêu những phán đốn kiểu như: “chỉ có thể đtm lại

học vấn tốt đẹp cho một đứa con mà thôi”.

Vạch nguyên nhân là một kết cấu ngữ nghĩa chỉ ra tù sao



con người lại thực hiện một lối hành vi sinh đẻ này nc. Các

động cơ được hình thành với ẩn ý: “bởi vì...”. Chúng chứa

đựng một năng lượng tâm lí khá mạnh, khiến cho cá nhân có

một lập trường tích cực đối với một sơ' lượng con cụ thể trong

gia đình hoặc khước từ chúng. Nguyên nhân là lời nói bóng

gió của động cơ, là sự chỉ ra bản chất mà con người dễ nhận

thức hơn so với ý nghĩa của sự động cơ hoá. Bởi thế con người

thường hay dựa vào các nguyên nhân hơn là các động cơ.

Tâm thế về mục đích là một kết cấu ngữ nghĩa truytn đạt

nguyện vọng của con người muốn thay đổi hay duy trì C1£ cách

hành vi sinh đẻ của mình vì một cái gì đó: để hiệu chỉnh :ái đã

qua, cái hiện tại hay tác động đến cái tương lai. Các tâm hế về

mục đích nảy sinh trong trường hợp khi mà trong hành vi s nh đẻ

tự bản thân con cái biểu hiện như là một phương tiện điéu chỉnh

trạng thái cùa cá nhân hay quan hệ của nó đơi với hiơn thực xung

quanh. Khi ấy con người được chỉ đạo bởi ý nghĩa sau: “để

cho...”. Ví dụ, người phụ nữ muốn có con (hoặc đẻ thêm m)t đứa

nữa) để cho mình khỏi bị vất vả bởi sự chăm sóc con.

Tâm thế tự vệ là một kết cấu ngữ nghĩa trong đó biểu hện rõ

nhất nguyện vọng của con người muốn tác động vào hành vi sinh

đẻ của mình và tính bắt buộc của nó. Con người thể hitn các

động cơ sinh đẻ dưới hình thức các tâm thế tự vệ khi họ mn

tránh các hậu quả khơng hay nào đó của việc sinh đẻ ra Iiột sô'

172



TẢMLÝ HỌC DÃN sỗ



lượng con nào đó hav khơng đẻ (nói chung hoặc theo một thứ tự

não đó). Các tám thế tự vệ được biểu đạt bằng ý chung: “để khỏi

phải...”. Ví dụ, một phụ nữ khước từ việc đẻ đứa con thứ hai để

khỏi phải hy sinh các hứng thú nghề nghiệp.

Các phân loại động cơ sinh đẻ trên đây có tác dụng mách

báo các nhà nghiên cứu cần phải đưa các động cơ sinh đẻ vào

những biểu đạt nào, giúp họ hình thành một hệ thống các chỉ số.

3. Những động cơ hạn chê sô con

Các tác giả Xô viết, qua những kết quả nghiên cứu của

mình, đã phân các động cơ hạn chế con trong gia đình thành các

nhóm sau: 1) các động cơ y- sinh học- sức khoẻ, tuổi tác không

cho phép; 2) các động cơ sinh hoạt- vật chất- điều kiện nhà ờ

khơng cho phép, việc đẻ con làm cho tình trạng vật chất của gia

đình xấu đi, khơng có sự trợ giúp đầy đủ khi sinh con; 3) các

động cơ trong gia đình- các trách nhiệm gia đình được phân

chia một cách không đều giữa hai vợ chổng, không tin tưởng

vào sự bền chặt của hôn nhân, chồng (vợ) rượu chè, thái độ xem

nhẹ cùa chồng (vợ) đối với các trách nhiệm gia đình của mình;

4) các động cơ hoạt động- cần phải tốt nghiệp, nắm vững nghề

nghiệp, có con sẽ hạn chế khả năng tham gia vào công việc u

thích, phụ nữ tham gia sản xuất; 5) những khó khăn trong việc

giáo dục và chăm sóc con- con hay đau ốm, đưa lại những khó

khăn cho việc chăm sóc nó, khơng muốn đụng phải những thiếu

sót của các cơ quan nuôi dạy trẻ (nhà trẻ, mẫu giáo, nhà

thưong), không muốn nhờ vả người nhà trong việc châm sóc

con, nhưng tự mình thì khó đảm đương được.

Theo kết quả nghiên cứu ở Liên Xơ, thì các động cơ trên

có thứ bậc như sau:

173



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. ĐỘNG CƠ HÓA HÀNH VI SINH ĐẺ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×