Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. THÁI ĐỘ CỦA HAI VỢ CHỒNG ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ SỐ CON TRONG GIA ĐÌNH

III. THÁI ĐỘ CỦA HAI VỢ CHỒNG ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ SỐ CON TRONG GIA ĐÌNH

Tải bản đầy đủ - 0trang

TRẨN TRỌNG THỦY



tránh thai thất bại. Những tổn thất tâm lí cùa việc sinh con

khơng m ong muốn rất to lớn: cha mẹ trải qua sự đổ vỡ târn th ế

của mình, m iễn cưỡng phải quen với hồn cảnh mới, điều Iiày

thường có ảnh hưởng khơng lợi đến quan hệ của họ đối với dứa

trẻ. Trong m ột số trường hợp thì hậu quả của sự m ang ihai

khơng m ong muốn là sự khước từ của người mẹ đối



VỚI



dứa



trẻ- một hiện tượng cho đến nay, đáng tiếc, chưa bị loại bỏ

trong xã hội chúng ta.

Theo tài liệu của các nhà nghiên cứu Xơ viết thì 56%

trường hợp mang thai ngồi ý muốn là ngun nhân của thái

độ khơng bình thường của cha mẹ với đứa trẻ và của sự phát

triển các bệnh tâm căn trẻ em. Đứa trẻ ngoài ý muốn sẽ cản trờ

việc thực hiện những mục đích sống quan trọng hơn đối với bố

mẹ, và đó là sự kiện “chấn thương” chính trong tiểu sử cùa nó

trong suốt những năm tiếp theo sau của đời nó. Khi sinh những

đứa trẻ ngồi ý muốn thì thường hay đẻ non. V iệc sử dụng có

hiệu quả các biện pháp tránh thai là một đảm bảo không bị

những chấn thương tâm lí cho người phụ nữ. D o đó nôn xem

việc tuyên truyền các phương tiện tránh thai, việc giảng dạy

kịp thời cho đàn ông và đàn bà cách sử dụng các phương tiện

đó như thế nào là một bộ phận của chính sách dân số, là thể

hiện sự quan tâm thực sự của xã hội đến sức khoẻ của người

phụ nữ. Có nhiều nhiệm vụ đặt ra cho các nhà tâm lí học trên

bình diện này. Cần phải nghiên cứu các phương pháp và hình

thức phổ biến rộng rãi các thông tin về các phương tiện tránh

thai hiện đại (thanh niên có biểu tượng rất mù mờ về chúng,

mà việc có thai ngồi ý muốn lần đầu có thể là hậu quả của

điều đó). Đ iều quan trọng là phải khắc phục những tâm thế âm



116



TẢN LÝ HỌC DÂN số



tính của thanh niên, đặc biệt là nam giới, đối với việc sử dụng

các phương tiện tránh thai, cần phải nâng thành “văn hoá tránh

thai”, nghĩa là làm sao để việc sử dụng các phương tiện tránh

thai (lược cảm nhận như là một cái gì đó tự nhiên, do việc quan

tâm đến sức khoẻ của người phụ nữ và việc bình thường hố

các quan hệ tình dục giữa nam và nữ qui định.

2. N hữ ng ưu th ế tâm lý của cá c gia đình có sơ' lượng

con khác nhau

Ớ đây cần xem xét sự phụ thuộc của khơng khí gia đình,

sức khoẻ của cha mẹ và hành vi sinh đẻ vào số lượng con hiện

có hoặc hoạch định theo kế hoạch, cũng như những hao tổn và

iru thế tâm lý mà cha mẹ và con cái nhận được theo sự thay đổi

thành phần số lượng của gia đinh.

Trong sách báo phương Tây, một trong những người đầu

tiên đã tách thành phần số lượng của gia đình như là một nhán

tổ' tâm lý đặc biệt là nhà tâm lí học kiêm thầy thuốc người Á o

A .Adler. Trình tự ra đời của trẻ em trong gia đình được ông

xem là một nhân tố xã hội quan trọng nhất của tuổi thơ, nó có

ảnh hưởng về sau đến phong cách sống của từng đứa trẻ và của

mẹ (73). Những quan sát của Adler m ang tính chất m ơ tả,

chúng phải tn theo lơgíc cùa phân tâm học nhiều hơn là

dược khẳng định bằng thực tiễn hoặc thống kê tốn học. Ơng

phủ nhận các đặc tính vật chất và văn hố cùa gia đình. Dầu

sao thì ơng cũng đã thúc đẩy sự chú ý đến các vấn đề tâm lý

cùa vị trí đứa trẻ trong gia đình.

Trong các tài liệu phương Tây người ta đã mơ tả những đặc

tính của đứa trẻ con một hoặc đặc tính của những đứa trẻ là con



117



TRÁN TRỌNG THÙY



đầu, con thứ hai ..trong các gia đình có quy mơ khác nhau.

Chẳng hạn, trẻ là con một có trí thơng minh cao hơn những trẻ

là con thứ hai hay thứ ba; những đứa trẻ là con đầu và con một

thì thích nghi với cuộc sống tốt hơn những trẻ sinh sau. Chúng

có những cá tính được thể hiện rõ ràng hơn và uyên bác hơn. có

tính độc lập nhiều hơn, có lực học cao hơn ở nhà trường phổ

thông và đại học. Các nhà khoa học của Trường đại học O slo

(Nauy) cho biết con trai cả thường có chỉ số thơng minh (IỌ)

cao hơn so với những người em cùa mình. N ghiên cứu 240.000

nam giới tuổi 1 8 - 1 9 cho thấy IQ trung bình của con đầu lòng

là 103,2 điểm, cao hơn 2,3 điểm so với con thứ hai và khoảng 3

điểm so với con thứ ba. Theo các chuyên gia thì ngun nhân

khơng phải là do yếu tố gien mà có thể là do cách dạy dỗ và cư

xử của cha mẹ đối với con cả, những người được xem sẽ là

“người chủ” cùa gia đình trong tương lai.

Trong các cơng trình nghiên cứu ờ Liên X ơ người ta thường

đặt câu hỏi về vấn đề các cơ quan nhà trẻ mẫu giáo đã bù trừ

như thế nào cho việc giáo dục ở gia đình đối với đứa trẻ con

một, chúng ảnh hưởng như thế nào đến việc xã hội hoá những

đứa trẻ là con thứ hai, thứ ba trong gia đình. M ọi người đều biết

là, ở các nhà trẻ, đứa bé nhận biết được nhiều mặt mới mẻ của

hiện thực xã hội, các tiêu chuẩn cùa tập thể cơ sờ, tại đó sự tiếp

xúc của trẻ với các bạn cùng tuổi được mờ rộng, các vai trò

được thay đổi, biểu tượng về các trách nhiệm mới, về các phẩm

chất nhân cách được hình thành. Đặc biệt quan trọng là, đứa trẻ

bắt đầu hành động đồng thời trong hai cộng đồng khác nhau cả

về sô' lượng lẫn chất lượng- trong gia đinh và trong tập thể trẻ

em. Điều đó đã dẫn đến sự hình thành ở nó những hình thức



118



TÂM LÝ HỌC Dân



số



hanh vi mới, những chương trình tự ý thức; nhũng sự phân hoá

thái độ với những người xung quanh.

Nhưng đồng thời không thể thổi phổng vai trò của các cơ

quan nhà trẻ. Đứa bé cần phải nhận được một sự quan tâm và

hơi ấm nhất định từ phía gia đình. Từ đây, ta sẽ thấy việc vạch

ra tầr số tiếp xúc của đứa trẻ với gia đình và với nhà trẻ mà ở

đó khơng có ảnh hưởng gì xấu đến tâm lí cùa đứa trẻ, quan

trọng đen nhường nào.

Một vấn đề quan trọng là, có những đứa trẻ này thì chủ

yếu dược giáo dục ờ các nhà trẻ mẫu giáo, có những đứa trẻ

khác lại chủ yếu chỉ được giáo dục ờ gia đình mà thơi. Thành

thử piân biệt rất rõ ràng những ông bố, bà mẹ có tâm thế giáo

dục con ở nhà trẻ mẫu giáo và những ơng bố bà mẹ có tâm thế

g iá o dục con tại gia đình. Đ ằng sau sự kiện này thường ẩn giấu

mộ*t xu thế này hay một xu thế khác cùa hành vi sinh đẻ.

Nhiữrg ông bố, bà mẹ muốn gửi con vào nhà trẻ mẫu giáo thì

đámh giá các cơ quan này như là một trợ thủ của gia đình. Từ

đ â y rảy sinh một khả năng to lớn về việc đẻ đứa con thứ hai,

thứ ba. Còn những ơng bố, bà mẹ khơng thoả mãn với việc

giá ' 0 dục con ờ nhà trẻ mẫu giáo thì khơng có khuynh hướng

tan g :hêm số con. Trái lại, chỉ cần một ý nghĩ là: sau khi sinh,

phằi iư a con đến nhà trẻ cũng đù gây nên thái độ âm tính đối

với v.ệc tăng thêm số lượng con trong gia đình.

3. V iệc k iểm soát giới củ a trẻ sơ sin h

ơ đây chúng ta xem xét các tiền đề tâm lí và hậu quả tâm

lí c ủ i việc sinh con có giới “m ong m uốn” hay “không mong



119



TRÁN TRỌNG THỦY



m uốn”. Thuộc vào những tiền đề tâm lí có: truyền thống muốn

có con trai hay con gái là chính hoặc muốn có con cả hai giới,

các tâm thế cá nhân của hai vợ chồng, mức độ nhất trí của họ

về vấn đề này, các đặc điểm giới tính- lứa tuổi, nhân khẩu- xã

hội, quốc gia và dân tộc cùa hai vợ chồng. Với tư cách là

những hậu quả tâm lí, người ta nghiên cứu những biến đổi

trong kế hoạch sinh đẻ và tâm thế sinh đẻ, trong hành vi theo

vai trò của hai vợ chổng, trong khơng khí gia đình, trong tâm lí

của cha mẹ và con cái.

A i cũng biết vấn đề điều chỉnh giới của đứa trẻ là vấn đề

thời sự ở m ọi thời đại. Như các nhà nghiên cứu đã nhận xét, ở

các nước khác nhau thường hay thích những gia đình trong đó

cứ mỗi một đứa con thuộc giới này thì lại một đứa thuộc giới

kia, hoặc chỉ thích các con thuộc một giới nhất định, thường là

nam. ở một loạt các nước Hồi giáo, người ta mong muốn như

sau: “Hãy cho anh có một trăm con trai” .

Một loạt nghiên cứu ở Liên X ô đã ghi nhận m ột vài khác

biệt trong tâm thế của đàn ông và đàn bà về giới của con cái.

Đ iều quan trọng là, nguyện vọng muốn có các đứa con thuộc

cả hai giới trong mức độ nào đó đã kích thích việc sinh đẻ.

N hiều chun gia thuộc lĩnh vực dân số học và y học đã

nghiên cứu những hậu quả tâm lí trong trường hợp sinh con

thuộc giới không m ong m uốn. Khả năng dựa trên cơ sờ khoa

học để điều chỉnh giới của đứa trẻ trong tương lai (khoa học

đang cô' gắng giải quyết vấn đề này) vị tất đã có thể làm mất

đi những hậu quả tâm lý khơng thuận lợi. V í dụ, cha m ẹ có

thể nắm được sự kiểm sốt về giới như điều cần phải có,

nhưng sự thất bại trong việc tạo ra giới xác định của đứa con

120



TÂM LÝ HỌC DÃN só



tương lai có thể gây nên sự đổ vỡ và dẫn đến thái độ xấu đi

đối với đứa con “ không phải giới ấ y ”. Các cặp vợ chồng

khơng đi đến nhất trí về giới cùa con cái có thể xung đột với

nhau, trong khi đó “số phận” sẽ giải quyết sự bất đồng của

họ. Theo quan điểm dân sơ và xã hội thì sự điều chỉnh nhân

tạo giới của đứa trẻ cũng sẽ gáy nên những nguy cơ nghiêm

trọng. Sự điêu chỉnh sinh học đối với các giới trong quần thể

là tốt hơn và tin cậy hơn bất cứ một sự điều chỉnh xã hội nào,

bởi vì nó khơng chịu ảnh hường của các “m ốt” về giới của

đứa trẻ, không phụ thuộc vào sự ưa thích của các cá nhân và

cộng đồng riêng lẻ. Sự phá vỡ tỷ lệ khá ổn định giữa việc sinh

con trai và con gái (106 và 100) sẽ gây nên những hậu quả

bất lợi trong việc tái sản xuất sự sống.

Trên đây là những mặt cơ bản trong việc nghiên cứu hành

vi sinh đẻ ở cấp độ gia đình. Chúng gắn bó với nhau bằng một

lơgic nội tại. Ở cấp độ gia đình thì hệ thống các vấn đề tâm líxã hội trong việc nghiên cứu sự sinh đẻ là: sự vận hành của gia

đình, đó là kết quả cùa những quan hệ qua lại xác định của các

thành viên trong gia đình (giao tiếp gia đình, hành vi theo vai

trò, sự tương đồng và nhất trí, sự bền vững của hôn nhân và

ảnh hưởng qua lại của các thế hệ) và được thể hiện trong các

hình thức hành vi sinh đẻ như: đi đến quyết định về sô' con

trong gia đình, nhận thức về các ưu thế tâm lí của các gia đình

cò sơ' con khác nhau và kiểm soát về giới cùa đứa trẻ sơ sinh.



121



TRÁN TRỌNG THỦY



C Â U H Ỏ I Ô N T Ậ P VÀ T H Ả O L U Ậ N :

1. Hồn cảnh cuộc sống gia đình ảnh hưởng đến việc sinh

đẻ như thế nào?

2. Biểu tượng về cuộc sống gia đình và các thành viên của

nó ảnh hưởng đến vấn đề sinh đẻ ra sao?

3. Giao tiếp trong gia đình ảnh hưởng đến vấn đề sinh đẻ

như thế nào?

4. Sự bền chắc cùa hơn nhân có liên quan đến vấn đề sinh

đẻ như thế nào?

5. Ảnh hường qua lại giữa các th ế hệ liên quan đến vấn đề

sinh đẻ ra sao?

6. V iệc quyết định sinh con của hai vợ chồng có ý nghĩa

quan trọng như thế nào đối với họ và đối với đứa trẻ

được sinh ra?

7. V ì sao khơng nên có sự điều chỉnh nhân tạo đối với giới

tính cùa đứa trẻ?

8. Hãy rút ra kết luận phù hợp với các số liệu về tác hại

của ly hôn ờ chương III.



122



TÀM LÝ HỌC DÁN số



C hương IV

n h ữ n g



v ấ n



đ ể tâ m



lý h ọ c



c ủ a



h à n h



VI



S IN H Đ Ẻ ở C Ấ P Đ ộ C Á N H Â N



M ục tiêu:

Sau khi nghiên cứu chương này, người học cần đạt được

khả năng:

1. Chỉ ra được các khía cạnh Tâm lý học cùa hành vi sinh

đẻ ở cấp độ cá nhân.

2. Phân tích được m ối tương quan giữa cái sinh vật và cái

xã hội trong nhu cầu về con cái.

3. Trình bày được nội dung của tâm thế sinh đẻ và động

thái cùa nó.

4. V ạch ra được những ứng dụng trong lĩnh vực tâm thế

sinh đẻ.

5. Trình bày được động cơ sinh đẻ và những động cơ hạn

ch ế số con.

6. Trình bày có phê phán các cách phân loại động cơ sinh

đẻ.

7. Phân tích được m ối quan hệ giữa nhân cách của bố m ẹ

và vấn đề sinh đẻ.



123



-------- —------------------------------------------------------------- TRÁN TRỌiNG THỦY



I. NHƯ CẦU VỀ CON CÁI

Trong phần này chúng ta sẽ xem xét những vâìi đề vé m ơi

tương quan của cái sinh vật và cái xã hội trong nhu cầu vé Con

cái, về các phương pháp đo đạc và về động thái cùa nhu cẩu về

con cái như là một hiện tượng xã hội- lịch sử và nhíin cách- cá

thể, về lực thúc đẩy của nhu cầu này, về những rung cảm nảy

sinh ờ cá nhân khi họ khơng thể thực hiện được nhu cầu của

mình về con cái, cũng như về các chức năng của trẻ em trong

hoạt động sống của gia đình và cá nhân.

1. M ối tương quan củ a cái sinh vật và cái xã hội tron g

nhu cầu về con cái

Đây là vấn đề trung tâm của khía cạnh mà chúng ta đang

xem xét. Trong các tài liệu về vấn đề này, thường người ta

khẳng định ý kiến về bản chất xã hội cùa nhu cầu của con cái.

D ĩ nhiên, điếu này khơng có nghĩa là tách rời “ cơ ch ế” sinh

học cùa hành vi sinh đẻ khỏi văn cảnh xã hội trong sự tác động

của nó, vì những hiện tượng đó có liên hệ qua lại với nhau. Ị

đây chỉ muốn nói rằng, tuỳ theo mức độ hình thành tự ý thức,

mức độ con người tách rời được mình ra khỏi mơi trường xung

quanh, mức độ phân hố thái độ của mình với thê giới, mức độ

nắm vững kỹ thuật tránh thai mà nhu cầu về con cái ngày càng

được tách khỏi nhu cầu tình dục, dần dần chuyển thành nhu

cầu siêu sinh học.

Không phải m ọi nhà khoa học đều đồng ý với cách đặt vấn

đề như vậy. Một số nhà khoa học đã nói thẳng đến tính chất

bản năng của nhu cầu về con cái, họ cho rằng, trong nhu cầu

đó chứa đựng sự đảm bảo khỏi bị hạ thấp tỉ lệ sinh đẻ một

cách khơng có giới hạn. Một sơ' khác thì cho rằng nhu cầu này



124



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. THÁI ĐỘ CỦA HAI VỢ CHỒNG ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ SỐ CON TRONG GIA ĐÌNH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×