Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. CÁC MỐI QUAN HỆ QUA LẠI TRONG GIA ĐÌNH VÀ VẤN ĐỀ SINH ĐẺ

II. CÁC MỐI QUAN HỆ QUA LẠI TRONG GIA ĐÌNH VÀ VẤN ĐỀ SINH ĐẺ

Tải bản đầy đủ - 0trang

tâm lÝ HỌC DÁN SỎ



hình nãy đã thúc đẩy các nhà khoa học đặt câu hỏi về những

ngucn gốc bên trong của tính ổn định của hơn nhân và của hạnh

phúc gia đình- về tình u và sự tơn trọng lẫn nhau, về sự tương

đồng, vẽ sự hiểu biết nghĩa vụ và trách nhiệm, các tâm thế đạo

đức và các đặc điểm nhân cách của hai vợ chổng. Sự xuất hiện

cái gọi là những liên kết vợ chồng có vấn dề được cắt nghĩa

bằng những khác biệt giữa những đặc tính bên ngồi của giao

tiếp và những tiền đề bên trong của nó. Đặc trưng cùa những sự

liên kết đó là sự căng thẳng tâm lí, dồn nén, xung đột, cãi cọ;

chúng đều có nguồn gốc của mình là sự không được thoả mãn

nhu cầu của Hiột trong hai người (vợ hoặc chồng) về các xúc

cảm dương tính, vé những thể hiện âu yếm, chăm sóc, dịu dàng,

quan tâm. Đúng như nhà nữ khoa học Extôni Đ. Kutka nhận

xét, chất lượng cùa hôn nhân được bộc lộ ở sự vận hành bên

trong của gia đinh và phụ thuộc vào những đánh giá chủ quan

của hai vợ chồng về các m ối quan hệ liên nhân cách của mình,

về sụ quyến luyến và ùng hộ lẫn nhau của mình.

Một số nhà nghiên cứu phương Tây cũng nhận thấy có sự

phụ thuộc của giao tiếp gia đình vào những tiền để bên trong

của nó. V í dụ, các nhà nghiên cứu Canada W .H. Masters và

V.E. Johnson đã phát biểu quan điểm đó. Theo họ, giao tiếp

liên nhân cách trong hơn nhân đòi hỏi một tâm thế cùa hai

người đối với việc duy trì gia đình, đối với sự tin cậy lẫn nhau

như là một tiền đề cùa sức sống cùa gia đình, như là một khả

năng để thảo luận cởi m ở những vấn đề, như là sự sẵn sàng

tiếp nhận nhau, như là một kĩ năng hỗ trợ cho việc thực hiện

các nhu cầu của nhau (64).

Trước hết cần nhấn mạnh rằng, tính chất các mối quan hệ

bên trong gia đình phần nhiều phụ thuộc vào các nhân tơ xã hội.



93



TRÁN TRONG T húy



Trong số các nhân tố đó, những nhân tố sau đây có ý nghĩa

hàng đầu: thái độ của xã hội đối với hôn nhân, gia đinh trẻ em;

sự tham gia của phụ nữ vào sản xuất xã hội. Chẳng hạn, như

mọi người đều biết, vị trí của con cái trong gia đình phin nhiều

là do vai trò và giá trị của chúng trong đời sơng xã hòi quyết

định. Tất nhiên, sự định hướng của xã hội được phàn ánh trong

những tâm thế của cha mẹ đối với con cái của mình: con cái

trong gia đình- giá trị, niềm tự hào, biểu trưng của hạnh Dhúc.

Các nhà nghiên cứu phương Tây đã nhiều lần c ố theo dõi

sự biến đổi vị trí của con cái trong gia đình và xã hội triớc dây

và hiện nay. Chẳng hạn, C.D. Saal (Hà Lan) đã kết luín rằng,

trong suốt nhiều thế kỉ thiếu niên được coi là người lớn thu

nhỏ lại. Trong xã hội tư bản hiện đại, ông cho rằng trong quá

trình lớn lên đứa trẻ gặp phải hàng loạt những “rào chắn”.

Trong số đó có: sự khơng thể hiện tính người lớn hện đại,

khoảng cách trong quan hệ giữa thanh niên và người lớn, sự

mâu thuẫn giữa các giá trị và chuẩn mực của gia đìni và xã

hội, hệ thống các vai trò được phát triển m ạnh..(74). Có thể

tranh cãi về nội dung và số lượng các “rào chắn” do C D. Saal

nêu ra, nhưng cần thừa nhận rằng: vị trí của đứa trẻ tnng gia

đình, thái độ của cha mẹ đối với nó, trong thực tế, phầi nhiều

được qui định bởi những hiện tượng xã hội xảy ra cìng một

lúc với q trình xã hội hố nhân cách. Đ ồng thời, có một sơ

nhà nghiên cứu, ví dụ các nhà nghiên cứu của Pháp khỏng

phải khơng có cơ sở để chỉ ra rằng: vai trò của xã hội ton g sự

hình thành nhân cách ngày càng trờ nên quan trọng (6 5 .

Xã hội tư bản, nơi mà quyền tư hữu thống trị, đầy ẩ y mâu

thuẫn xã hội mang tính đối kháng, nơi mà sự bóc lột của con



94



tâm lý học dân số



người đối với con người được hợp pháp hoá, thường làm hư

hỏng trẻ em , làm đồi truỵ thế hệ đang lớn lên.

Khơng khí tâm lí trong gia đình, tâm trạng của vợ chồng

và con cái, sự bền chặt của hôn nhân... là hệ quả của giao tiếp

trong gia đình. Đến lượt mình, tính chất của sự giao tiếp trong

gia đình, tất nhiên phụ thuộc vào phẩm chất nhân cách của các

thành viên của nó, vào văn hố, tình u thương quyến luyến

lẫn nhau của họ. Giao tiếp trong gia đình có chức năng như

những hiện tượng tâm lí- xã hội, trong đó gồm: chức năng điều

chinh, nhân thức, biểu cảm , kiểm soát xã hội, xã hội hố, ủng

hộ tình cảm ...

Các nhà nghiên cứu cùa nhiều nước khác nhau đã nhiều

lần cô gắng vạch ra xem khối lượng và chất lượng giao tiếp

trong gia đình có liên quan với hành vi sinh đẻ hay khơng.

Njíười ta đã thu được những số liệu trái ngược nhau về vấn đề

này. Chảng hạn, trong những cơng trình nghiên cứu được thực

hiện tại Thổ Nhĩ Kỳ, người ta đã chỉ ra rằng: mức độ “gần gũi

của vợ chồng” càng cao, thì số con trong gia đình càng ít.

Đ ổn g thời ý định sinh con càng được phát biểu thường xun

bao nhiêu, thì tính tất yếu phải củng c ố các liên hệ hôn nhân

càng được ý thức bấy nhiêu. Nhân tố giao tiếp vợ chồng làm

giảm mức độ thích con trai và góp phần làm giảm số lượng con

lý tưởng và thèm muốn. Nhưng đa số các nhà nghiên cứu

phưưng Tây ghi nhận tính khơng có hiệu quả cùa sự giao tiếp

trong gia đình hiện đại và xem nó là một trở ngại đối với việc

điều chỉnh sinh đẻ.

Tính mâu thuẫn cùa các tài liệu thu được là do các nhà

nghiên cứu không chú ý đầy đủ đến phân kiểu học gia đình và



TRÁN TRỌNG THỦY



các quan hệ gia đình. Chính trong các gia đình thuộc một kiểu

cụ thể (có số lượng con nhất định và những dấu hiệu xã hộinghề nghiệp xác định cùa vợ chồng, điều kiện vật chất, sự

phân phối trách nhiệm , sự tham gia vào sản xuất xã hội.v.v...

nhất định), rõ ràng, sẽ nảy sinh những hình thức quan hộ g ia

đình cụ thể. Đ ến lượt mình, một kiểu quan hệ gia đình này nọ

(phụ thuộc vào các nhân tố như chiều sâu, tần số, nội dung,

phong cách giao tiếp, cũng như vào sự liên hợp của các nhân

tố ấy) có thể có ảnh hưởng khác nhau đến hành vi sinh đẻ

không chỉ của hai vợ chồng, mà cả con cái cùa họ nữa.

Tuy nhiên, ngồi tính chất của sự giao tiếp trong gia đình,

các nguyên tắc đạo đức- luân lý cùa việc tổ chức sự giao tiếp

đó cũng có thể có ảnh hường đến hành vi sinh đẻ. Sự thật,

những nguyên tắc đó cũng quy định cả sự giao tiếp trong gia

đình. Trong các tài liệu X ơ V iết, người ta nhấn mạnh rằng gia

đình dược dựa trên nền tảng của các nguyên tắc nhân bản- chủ

nghĩa tập thể, tình yêu, thiện cảm, tình bạn, sự hiểu biết lẫn

nhau và lòng độ lượng. Trong một mức độ đáng kể, các

ngun tắc đó thúc đẩy các gia đình thực hiện chức năng sinh

đẻ của mình. Chẳng hạn, sự giảm bớt thời gian rỗi cùa người

phụ nữ sau khi sinh con sẽ không gây ra sự căng thẳng thôm

trong gia đình, nếu như giữa hai vợ chồng tổn tại những quan

hệ tốt đẹp.

T heo sự khẳng định của nhiều nhà nghiên cứu, thì các

nguyên tắc trong cu ộc sống gia đình quan trọng hơn các

nhân tố vật chất, cũ n g như những thành công cùa từng thành

viên trong gia đình. Tuy nhiên, vai trò cùa những ngun lắc

này trong hành vi sinh đẻ còn chưa được vạch ra một cách



96



TÂM LÝ HỌC DÂN số



đổy đù. Đ ồng thời người ta cũng xác nhận rằng, tính chất

giao tiếp giữa cha mẹ với nhau có để lại dấu ấn lên thái độ

cùa họ đối với con cái. N gười ta ch o rằng, những quan hệ

trong gia đình có ảnh hưởng đến đứa con từ trước khi nó ra

đời. Hồn cảnh căng thẳng trong gia đình có ảnh hưởng xấu

đến sức khoẻ của đứa con tương lai. Những đứa trẻ như thế

thường hay phải được nuôi dưỡng nhân tạo sớm hơn. Sự kiệt

sức hay suy giảm sức khoẻ của bà m ẹ tương lai sẽ dẫn đến

rối loạn tuần hoàn não của thai nhi. Những đứa trẻ sơ sinh

trong các gia đình có xung đột bị những tác động có hại

khác nhau nhiều hom, hay ốm yếu hơn. Con cái của những

gia đình khơng hạnh phúc thường có mức độ hoạt động nhận

thức và tính tích cực xã hội thấp (40).

H.A. Jansen (Hà Lan), sau khi nghiên cứu các m ối quan hệ

trong gia đình hạt nhân, đã đi đến kết luận rằng: sự bất lực

trong việc giải quyết các xung đột và hậu quả của sự bất lực đó

đối với việc đạt được sự tâm tình giữa hai vợ chồng đã trở nên

ngun nhân chính của tình trạng xã hội hố “bệnh lý” của

đứa trẻ (75).

Một trong những khía cạnh của các m ối quan hệ trong gia

đình còn ít được nghiên cứu là sự giao tiếp của các anh em và

chị em. M ôi quan hệ qua lại của các con lớn và con bé trong

gia đình trong những trường hợp riêng lẻ mang tính chất khơng

thân thiện. Những xung đột giữa các anh em và chị em có khả

náng ảnh hưởng đến tâm thế sinh đẻ của con người. Khi nhớ

lại tuổi thơ cùa mình, người ta có thể đi đến kết luận rằng:

trong gia đình tốt nhất chỉ nên có một con. Còn những quan hệ

tốt đẹp giữa các anh em và chị em, ngược lại, có thể góp phần



• 97



TRÁN TRỌNG T'HÜY



hlnh thành tâm thế về một gia đình đơng con, coi đó là lý

tưởng, là điều mong muốn.

Khơng nghị ngờ gì nữa, sự lành mạnh hoá các quan hệ

giữa hai vợ chồng, sự nâng cao tiềm năng giáo dục của gia

đình và văn hố giao tiếp nếu khơng trực tiếp thì cũng g iầ n

tiếp có ảnh hường đến hành vi sinh đẻ. Sự bình thường ỉhố

việc giao tiếp trong gia đình sẽ tạo nên niềm lạc quan, dẫn (đên

sự thống nhất và thái độ tôn trọng lẫn nhau của hai vợ chồ>ng,

và do đó nâng cao khả năng sử dụng khéo léo các phương ttiện

tránh thai. Ngược lại, trong những quan hệ xung đột có thể inảy

sinh sự có thai khơng m ong muốn, và sự ra đời cùa những tđửa

trẻ ngoài ý muốn. Đến lượt mình, sự có mặt của những (đửa

con trong gia đình sẽ có thể nâng cao khả năng của rhiững

quan hệ tốt giữa hai vợ chổng. Chẳng hạn, theo các số liệu cùa

B.A. Babin thì trong tuyệt đại đa số trường hợp, những ng:ười

có con đánh giá các m ối quan hệ lẫn nhau trong gia đìnn 'Cao

hơn so với những người khơng có con.

2. K hía cạnh hành vi theo vai trò

Khía cạnh này đề cập đến mối liên hệ cùa các đặc điểm tr
việc thực hiện vai trò người chồng và người vợ trong gia đhh vói

hành vi sinh đẻ của hai vợ chồng. Thơng thường trong sáci báo

người ta nhấn mạnh đến sự thay đổi của hành vi theo vai tiò inhư

là hậu quả của những biến thiên kinh tế- xã hội. Nhưng ttheo

chúng tôi, việc thực hiện các vai trò như thế, hình thành dưri ảnh

hưởng của những thuộc tính nhân cách cùa hai vợ chồng 'à con

cái, cũng có ý nghĩa quan ưọng đối với nhà tâm lí học din số.

Thường người ta ít chú ý đến mặt này của vấn đề.



98



tAm lý học dàn sỏ



Ở đây “vai trò trong gia đình” được hiểu là chuẩn mực

thục hiện các chức năng liên quan đến việc tiến hành công việc

nội trợ, giáo dục và chăm sóc con cái, thực hiện các trách

nhiệm của vợ chổng, đã được hình thành trong xã hội. Nếu

xem xét trên bình diện lịch sử, thì đặc điểm cùa hành vi theo

vai trò là ở chỗ: các chức năng khơng thay đổi về nguyên tắc

của gia đình được thực hiện với một vài biến thái và được đổi

chỗ, sang đàn ông hay đàn bà trong một mức độ ít hoặc nhiều,

và sự xuất hiện các chức năng mới sẽ kéo theo sự nảy sinh các

vai trò mới của hai vợ chồng.

Sự hạ thấp tỉ lệ sinh đẻ ở các đô thị lớn hiện đại diễn ra

song song với sự biến đổi hành vi theo vai trò cùa hai vợ chồng

trong gia đình. Đ iều này ít nhất cũng chứng minh cho mối liên

hệ gián tiếp của các hiện tượng nêu trên.

Người ta thấy có sự hạ thấp nào đó uy tín và vai trò giáo

dục cùa người cha trong hàng loạt các gia đình hiện đại. Con

cái thường nhận được lời khuyên từ bà mẹ nhiều hơn là từ ông

bố; thường chia sẻ buồn vui với người mẹ nhiều hơn. Một phần

không đáng kể các ông bô' tham gia vào việc đi chơi, vui đùa

cùng con cái, không nhiều ông bố kiểm tra bài vờ ờ trường của

con cái, đi họp ờ trường của con cái. V iệc động cơ hố vai trò

lãnh đạo gia đình cũng được biến đổi và trở nên đa dạng hơn.

Trong số các động cơ làm chủ gia đình của người chổng thì

phổ biến nhất ià các động cơ sau: đảm bảo thu nhập, uy tín

trong gia đình, kinh nghiệm sống, các truyền thống, tính cách

đàn ơng, sự quan tâm đến gia đình. Theo một thứ bậc tương tự

của các động cơ làm chủ gia đình của phụ nữ, thì động cơ

“đảm bảo thu nhập” trờ nên động cơ nặng cân hơn động cơ “sự



99



------------------------------------------------------------------------- TRẨN TRỌNG THÙY



quan tâm đến gia đình”, Z.A.Iancơva đã đưa ra m ột kết luận

quan trọng: mặc dù trong các gia đình ở thành phơ hiện đại

vẫn còn giữ biểu tượng về người chồng- người nuôi sông, và

người vợ- người nội trợ, nhưng những biểu tượng đó mâu

thuẫn với các quan hệ thực tế đang ngày càng phù hợp với câu

trúc ngang bằng quyền hành trong gia đình và với sự bình

đẳng thực tế của phụ nữ và nam giới (41).

Một số cơng trình nghiên cứu ở các nước xã hội chù nghĩa

trước đây đã chỉ ra rằng, không phụ thuộc vào chỗ trong nhiều

gia đình đàn ơng được thừa nhận là người đứng đầu, nhưng

trong một loạt trường hợp khó mà xác định được ai là chủ gia

đình. Còn trong những gia đình riêng lẻ thì các quan hệ theo

vai trò mang tính chất hình thức.

Trong sách báo khoa học người ta thấy có một s ố cố gắng

gắn hành vi sinh đẻ với các chỉ số khác nhau của các quan hệ

theo vai trò trong gia đình. Sự biến đổi cùa hành vi theo vai trò

trong gia đình đã kéo theo sự biến đổi vai trò lãnh đạo trong

việc kế hoạch hố gia đình. Người phụ nữ hiện đại ngày càng

độc lập giải quyết vấn đề khi nào đẻ con. Theo một nghiên cứu

ở Lêningrat, được công bố năm 1976, thì có 46,7% phụ nữ

Lêningrat, được hỏi đã phá thai là do bản thân mình khơng

muốn có con, chỉ có 3,5% trong số họ tun bơ' là do chổng

khơng muốn có con.

Trong sách báo phương Tây người ta thường nêu lên ý

kiến cho rằng, việc kiểm soát sinh đẻ là một bằng chứng

hùng hồn về sự độc lập của phụ nữ sống trong th ế kỉ này. Sự

thực khơng hồn tồn như vậy. V iệc kiểm sốt hành vi sinh

đẻ từ phía người phụ nữ khơng lớn như người ta nghĩ, nếu chú

100



TẦV LỶ HỌC DÀN SỐ



ý dến anh hưởng của nhà thờ, của chính phủ, đến tình trạng

dịch vụ, y tế, đến quan hệ với đàn ông. H. Roberts (A nh) đã

di đến kết luận là, người đàn ơng giữ vai trò rất quan trọng

trong việc chấp nhận quyết định sinh đẻ của người phụ nữ và

c hính “bá quyển” trong việc k ế hoạch hố gia đình thuộc về

họíổS). G. Rakusen (A nh) đã chỉ ra rằng, phụ nữ bị giới hạn

trong cái quyền áp dụng các phương tiện tránh thai, và ngay

cả khả nâng của họ trong việc kiểm sốt tính đúng đắn của

việc áp dụng những phương tiện đó, và tính có thể áp dụng

(lươc cùa chúng cũng bị hạn chế.

Tự bản thân mình thì hành vi theo vai trò của hai vợ chồng

khơng có ảnh hưởng nhiều đến hành vi sính đẻ. Sự bất đồng

trong việc phân cơng các vai trò nội trợ chỉ là cái mặt tiền, mà

đằng sau nó ẩn chứa những bất đổng nghiêm trọng hơn về cấu

trúc của gia đình, về những giá trị của nó. Có thể nghĩ rằng, sự

xung đột về vai trò trong gia đình, sự không mong muốn cùa

vợ hoặc chồng trong việc thực hiện các trách nhiệm gia đình

của mình - đó chỉ là một hình thức thể hiện những mâu thuẫn

nghiêm trọng hơn, chỉ là một phương tiện để đối lập, để tự

khảng định, để chống đối. Bởi vậy, trong việc nghiên cứu cần

phải đi sâu hơn vào bản chất của các quan hệ vợ chồng, bằng

cách xác định ảnh hưởng của chúng đến đời sống của gia đình,

và đặc biệt là đến hành vi sinh đẻ.

3. Khía cạnh tưưng đ ồn g và thống nhất của hai vợ chồng

ở đây muốn nói đến những đặc tính của hơn nhân và của

hai vợ chồng, mà sự thống nhất quan điểm , sự gần gũi về thể

xác và tâm hồn phụ thuộc vào đó- đến việc sinh đẻ.

101



TRÁN TRỌNG THÙY



Sự tương đồng của hai vợ chồng được hiểu là tình trạng

quan hệ vợ chổng mà nó đảm bảo thực hiện được phần lón hay

tất cả m ọi chức năng của người chồng và người vợ trorg gia

đình, khơng có những xung đột qua lại và trải nghiệm nói tâm

do sự khơng thoả mãn về nhau gây nên. Các tiêu chuẩn của sự

tương đồng giữa hai vợ chồng là: sự bền vững của hôn nhân,

sức khoẻ thể xác và tâm lí của hai vợ chồng (các chỉ số thách

quan), sự hài lòng về các m ối quan hệ, các tình cảm cương

tính với nhau( các chỉ sô chủ quan) (33).

M ột trong những hệ quả cùa sự tương đồng giữa hai vợ

chồng là sự nhất trí. Trong khn khổ của cuộc sống vợ chồng,

thì sự nhất trí - đó là hình thái của các mối quan hộ qua lài của

hai vợ chồng được dựa trên cơ sở tự nguyện hoặc chấp nhậi một

cách miễn cưỡng sự phán quyết trong hành vi của một trong híũ

người khi có một vài phương án giải quyết có thể có. Thec quan

điểm đạo đức thì sự nhất trí được xem như là một hình thíc thể

hiện sự tơn trọng của cá nhân đối với ý kiến và hành n của

người bạn đời, một hình thức thừa nhận uy tín của họ.

Trong số những biến thiên, qui định tính tương đ ồig và

nhất trí của hai vợ chồng, có những nhân tố khác nhau vị bản

chất của mình: thái độ của vợ chồng đối với những giá l ị của

xã hội, đối với các nhu cầu vật chất và tinh thần, đối với ý

nghĩa của cuộc sống, thái độ đối với gia đinh và con cá , tính

cách- mà tính quảng giao phụ thuộc vào đó, sự hợp tác, ạr hoà

thuận, sự thoả mãn về cuộc sống gần gũi với người bại đời.

Nhiều trong s ố các nhân tố đó đã được nghiên cứu gắn lim với

hiện tượng ly hôn. Nhưng cho đến nay thì vai trò của thúng

đối với hành vi sinh đẻ vẫn chưa được làm sáng tỏ. M
102



tâm lý học dãn số



gian dài vấn đề tương đồng và nhất trí được nghiên cứu một

cách khá phiến diện. Phần lớn các nhà nghiên cứu X ô V iết đã

ngh:ên cứu ảnh hường của bệnh lí học các quan hệ gia đình, sự

tươr.g đồng cùa vợ chồng, sự bển chặt của hôn nhân đối với

việc giáo dục con cái. Dần dần tầm hạn nghiên cứu các nhân tố

tâm lí- xã hội cùa quan hệ gia đình được mờ rộng: người ta đã

bát đầu nghiên cứu vai trò của tính cách, trí thơng minh, sự

thoa mãn về các quan hệ, sự hấp dẫn lẫn nhau của hai vợ

chổng...

Những tài liệu đã có cho phép chúng ta nhận xét rằng: có

một sự phụ thuộc nhất định giữa tính tương đổng của hai vợ

chồng và hành vi sinh đẻ, sự phụ thuộc này là do những khác

biệt trong cảm giác bản thân của hai vợ chồng quy định.

Chẳng hạn A.N. V ôncôva đã vạch ra rằng, những người đàn

ông nào mà tự mình chỉ huy khỏng khí cảm xúc trong gia đình

thì rất ít thoả mãn với các quan hệ trong gia đình. Trong số

những phụ nữ thoả mãn nhiều hơn với các quan hệ trong gia

đình thì có những người phản ứng một cách m ềm dẻo với tình

huống cãng thẳng tâm lí trong gia đình và chỉ huy khơng khí

cám xúc. Người ta cũng đã vạch ra rằng, những cặp vợ chổng

hạnh phúc thì có sự tơn trọng lẫn nhau ở mức độ cao, thừa

nhận uy tín cùa nhau trong các lĩnh vực hoạt động và nhận

thức khác nhau và sự hấp dẫn xúc cảm lẫn nhau ờ mức độ cao.

Còn đối với những cặp vợ chồng khơng hạnh phúc thì khơng

chỉ có các đặc tính đó ờ mức độ thấp, mà còn có tính độc lập

đáng kể, sự tôn trọng một phái hoặc sự hấp dẫn cảm xúc một

phái: trong các gia đình khơng có hạnh phúc có sự bất đồng

giữa vợ chồng về các giá trị của gia đình, đặc biệt về sự đánh



103



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. CÁC MỐI QUAN HỆ QUA LẠI TRONG GIA ĐÌNH VÀ VẤN ĐỀ SINH ĐẺ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×