Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG III: NHỮNG VẤN ĐỀ TÂM LÍ HỌC CỦA HÀNH VI SINH ĐẺ Ở CẤP ĐỘ GIA ĐÌNH

CHƯƠNG III: NHỮNG VẤN ĐỀ TÂM LÍ HỌC CỦA HÀNH VI SINH ĐẺ Ở CẤP ĐỘ GIA ĐÌNH

Tải bản đầy đủ - 0trang

-----------------------------------------------------------------TRÁN TRỌNGTHỦY



I. GIA ĐÌNH VÀ VẤN ĐỀ SINH ĐẺ

Theo chúng tơi, muốn thấy được mối quan hệ giữa gia

đình và vấn đề sinh đẻ thì tâm lý học dân sơ' cần xem xét các

khía cạnh như: hồn cảnh của đời sống gia đình, các quan

niệm về cuộc sống gia đình và các thành viên của nó. Những

khía cạnh này làm hợp nhất các nhân tố của hành vi sinh đẻ,

các nhân tố này lại được quy định chủ yếu bởi tính chất xã hội

của gia đình, rồi sau đó bởi những đậc điểm của cặp vợ chồng.

Ta hãy xét về những khía cạnh đó.

1. Khía cạnh hồn cảnh của cuộc sống gia đình



Ở đây ta hãy xem xét sự phụ thuộc của hành vi sinh đẻ vào

phản ứng cùa gia đình đối với các điều kiện vật chất và nhà ờ,

vào vị thế xã hội đã đạt được, vào quan hệ đối với những người

thân. Trong khuôn khổ của vấn đề này, mối liên hệ của việc

sinh đẻ và cảm giác về bản thân của cá nhân ờ những giai đoạn

khác nhau cùa chu kỳ gia đình (hình thành gia đình trẻ và sự

tách khỏi cha mẹ cùa nó, thời kỳ mang thai, xuất hiện dứa con

đầu lòng và việc giáo dục nó ở những giai đoạn lớn khơn khác

nhau, sự xuất hiện mỗi đứa con tiếp theo..v..v) được xác định.

Rõ ràng là, ờ giai đoạn này hay giai đoạn kia trong chu kỳ gia

đình sẽ có những vấn đề đặc biệt nảy sinh trong gia đình, sẽ

xuất hiện những tính chất đặc biệt của lối sống, cùa các mối

quan hệ qua lại, tính tích cực xã hội cùa các thành viên trong

gia đình (trước hết là của người phụ nữ) sẽ thay đổi, sẽ xuất

hiện những tâm thế mới và những tâm thế trước đây sẽ thay

đổi, trong đó có tâm thế sinh đẻ và giáo dục con cái.

80



TÂMLÝHỌC DÂN số



Trong việc nghiên cứu khía cạnh “hồn cảnh của đời sống

gia đình” cần tính đến cậc mối liên hệ theo những hướng khác

nhau của các nhân tố: ảnh hưởng của các điều kiện sống của

gia đình đến hành vi sinh đẻ của nó, và ngược lại, ảnh hưởng

cùa hành vi sinh đẻ đến hồn cảnh gia đình. Các cơng trình

nghiên cứu ờ Liên Xơ trước đây đã phát hiện có hai loại liên

hộ giữa các nhân tố trên. Chảng hạn, theo các số liệu của

I.Ph.Đêmenchiêva, thì việc sinh con trùng với việc định hướng

lại yêu cầu nghề nghiệp cùa cặp vợ chồng. Nhu cầu hoạt động

nghề nghiệp của những phụ nữ đang làm việc bị xếp sang hàng

thứ hai, tạm thời nhường chỗ cho yêu cầu chăm sóc con và

giao tiếp với con cái. Người ta thấy có những thay đổi nhất

định trong cấu trúc cùa nhu cầu nghề nghiệp ở người cha. Nhu

cầu nâng cao trình độ chuyên mơn trở thành bức bách hơn, nó

là một điều kiện để nâng cao tiền lương. Các kế hoạch về nghề

nghiệp cùa người bơ' trẻ cũng có thể được thay đổi. Ví dụ, nảy

sinh khả năng chuyển sang một ngành sản xuất khác, mà ở đó

các cơ hội đảm bảo cho đứa con được nhận vào nhà trẻ nhiều

hơn (14).

Một nghiên cứu khác đã chỉ ra mối liên hệ ngược cùa các

nhân tố- ảnh hưởng của các điều kiện sống đến hành vi sinh

đỏ. Có ba kiểu gia đình căn cứ theo tính chất sử dụng thời gian

rỗi: kiểu thứ nhất, sử dụng thời gian rỗi ở nhà (64%), kiểu thứ

hai- ngồi gia đình (7%), kiểu thứ ba- kết hợp cả hai kiểu trên

(29%). Các chỉ số về hành vi sinh đỏ gia đình và tâm thế sinh

đỏ cùa các cặp vợ chỏng thuộc kiểu thứ nhất là cao hơn cả.

Những nghiên cứu phản ánh mối liên hệ của tỉ lệ sinh đẻ

và các điều kiện ỉống cùa gia đình ở các giai đoạn phát triển



TRẤN TRỌNGTHỦY



khác nhau của nó cung cấp cho ta nhiều thơng tin có giá trị. Ví

dụ, một cơng trình nghiên cứu ở Matxcơva đã cho thấy: Việc

sinh đứa con thứ hai đã làm cho gia đình trở nên kém sung túc

hơn về phương diện vật chất so với các gia đình một con,

Sự vận hành cùa gia đình ở một giai đoạn phát triển cụ thể

của nó, tất nhiên, sẽ tiền định cả những khả năng, lẫn ý định của

vợ chồng trong việc thực hiện hành vi sinh đẻ. Điều này có

nghĩa là, tỉ lệ sinh đẻ nói chung phụ thuộc khơng phải vào số

lượng các cuộc hôn nhân, không chỉ vào tương quan giữa đàn

ông và đàn bà ở tuổi sinh đẻ trong dân cư, mà trước hết vào số

lượng các gia đình ở một giai đoạn phát triển nhất định cùa

mình, và những tâm trạng kèm theo. Không phải ngẫu nhiên mà

những năm gần đây trong dân số học đã phát triển một hướng

mới, theo đó gia đình được xem xét trong sơ những điều kiện

của tỉ lệ sinh đẻ tiềm tàng và hiện thực. Liên quan tới điều dó,

mối tương quan của gia đình với sỏ' lượng con khác nhau, ảnh

hưởng đến việc sinh đẻ, của các đặc tính văn hố và kinh tế- xã

hội của bố mẹ, cùa tính tích cực kinh tế của họ, của việc tổ chức

công việc nội trợ, các mức độ đơ thị hố gia đình (nghĩa là mức

độ trang bị cho gia đình bằng kĩ thuật hiện đại), của sự hiện

diện các chuẩn mực hành vi đặc trưng cho dân thành thị., đã

được phân tích. Kết quả rất quan trọng là, người ta xác định

được tỉ trọng của gia đình thuộc kiểu này hay kiểu kia trong cấu

trúc dân cư và đưa ra dự báo về sự phát triển của chúng.

Thời gian gần đây, các nhà xã hội học và dân sô' học đã cô

gắng vạch ra mối liên hệ giữa sơ' lượng con và vị trí xã hội của

bố mẹ, trình độ học vấn của họ, tính chất và nội dung lao

động, thu nhập, điều kiện về nhà ở, sự phân công lao động



TÂMLÝHỌC DÂN số



trong gia đình, Chảng hạn, những nhà xã hội học Extơni đã

nghiên cứu sự tự xác định cuộc đời của thanh niên sinh ra

trong những năm 1948-1949. Họ đã vạch ra rằng, việc xây

(lựng gia đinh ở tất cả những thanh niên này đều trùng hợp với

thời kì tự xác định về mặt xã hội, và diễn ra ở lứa tuổi 21,126,2 tuổi. Trong đó ở các chun gia có trình độ học vấn cao

thì việc xây dựng gia đình được bắt đầu chính ở lứa tuổi này; ở

các cơng nhân chuyên nghiệp- ở lứa tuổi sớm hơn (20,5 tuổi)

và bước vào giai đoạn kết thúc trước 25,8 tuổi. Ở hơn một nừa

sô công nhân được nghiên cứu, người ta thấy có một khoảng

thời gian xác định giữa khi kết thúc con đường học hành, khi

có một vị trí xã hội và xây dựng gia đinh.

Cũng theo kết quả của những nghiên cứu này thì, ở một bộ

phận thanh niên việc tốt nghiệp và việc có con trùng hợp với

nhau, điều đó làm cho q trình tự xác định cuộc đời trở nên

phức tạp. Nhưng nếu gia đình được xây dựng ở lứa tuổi trưởng

thành hơn, thì sẽ có con muộn hơn, sau khi mà hai vợ chồng đã

chung sông trong một thòri gian khơng bận bịu về con cái. Điều

này có nghĩa là, việc kê' hoạch hố sinh đẻ phần lớn xảy ra ở lứa

tuổi trưởng thành. Xu thế chung là như vậy. Nhưng những khác

biệt cơ bản được thấy rõ tuỳ thuộc vào vị trí xã hội.

Ở những cơng nhân chun nghiệp thì sự chênh lệch giữa

lúc kết hơn và khi có con là 1,1 -1,6 năm, ở các chun gia có

trình độ học vấn cao là 2,1-2,3 năm. Cho nên, phần lớn các

chun gia có trình độ học vấn cao đều kế hoạch hoá việc sinh

đẻ. Các chuyên gia làm việc trong các xí nghiệp cưới vợ và lấy

chồng muộn hơn những người khác và kế hoạch hoá thời gian

sinh con đầu lòng rõ rệt hơn. Nhưng ở đâu đó, ở lứa tuổi 26 thì



TRÁN TRỌNG THÙY



việc kết hôn và sinh con trùng hợp nhau về thời gian. Mội bộ

phận phụ nữ ở lứa tuổi này đã sinh con trong khi chưa có

chồng. Rõ ràng, hành vi sinh đẻ chịu ành hường mạnh mẽ cùa

nhân tố lứa tuổi, chính xác hơn, chịu tác động của nhân tơ' tâm

lí- phản ứng của phụ nữ đối với sự khơng có con của mình.

Các cơng trình nghiên cứu ở Liên Xơ trong giai đoạn hiện

đại sau này về vấn đề gia đình và việc sinh đẻ đã dần dần thốt

khỏi việc xác định sự phụ thuộc của hai hoặc vài nhân tố sơ'

lượng, ví dụ, kích thước nhà ở và số con trong gia đình, và

chuyển sang việc đánh giá phụ thuộc giữa những phản ứng tâm

lí đối với hồn cảnh của đòfi sống gia đình và hành vi sinh đè.

Đó là một bước tiến quan trọng trong việc nhận thức về dân sổ,

vì trong hành vi của cá nhân thì thường không phải các nhân tô

thực, mà là sự đánh giá chủ quan về chúng, có ý nghĩa quyết

định. Đặt vấn đề như vậy là phù hợp với đối tượng của tâm lí

học dân số.

Chẳng hạn, M.Aruchiunhian đã chỉ ra mối liên hệ qua lại

giữa các giai đoạn trong chu kì cùa gia đình, số con trong gia

đình và sự thoả mãn của đôi vợ chồng về sự phân công lao

động trong gia đình. Những người tham gia cuộc thăm đò

(cơng nhân viên chức và các chun gia có trình độ học vấn

cao), được chia làm ba nhóm: có con khơng q 6 tuổi, có con

6-16 tuổi và có con đã lớn. Trong nhóm thứ nhất chủ yếu gồm

những người ờ lứa tuổi dưới 30, ở đây khoảng một nửa số gia

đình có 1 con; trong nhóm thứ hai- các cặp vợ chổng đã cưới

nhau trên 9 năm và có 2 con; trong nhóm thứ ba- các cặp vợ

chồng trung niên (hơn 50% trường hợp các con không sống

với cha mẹ). Kết quả cho thấy: nhóm thứ hai có mức đô thoả



TÂMLÝHỌC DÃN số



mân thấp nhất vé kiểu phân công trách nhiệm đã được chấp

nhận trong gia đình. Hơn nữa điều này cũng đúng với cả

những gia đình bình đẳng, ở đó khơng có sự phân chia rạch ròi

các trách nhiệm gia đình cho “đàn ơng” và “đàn bà” riêng rẽ,

lẫn cả với các gia đình truyền thống, ở đó có sự phân cơng

rạch ròi như thế. Các cơng trình nghiên cứu này cũng đã ghi

nhận rằng các gia đình mà ở đó sự phân cơng lao động trong

gia đình theo kiểu truyền thống chiếm ưu thế, thì sự khơng

trùng lặp giữa số con dự định theo kế hoạch và số con thực tế

nhiều hom gấp 2 lần so với trong gia đình bình đẳng (5).

Thái độ đánh giá đối với hồn cảnh sống của gia đình có

thể được thể hiện không chỉ ở mức độ thoả mãn về chúng, mà

cả trong sự bộc lộ những điều kiện mong muốn. Ví dụ, những

nghiên cứu tiến hành ở Leningrad đã chỉ ra rằng: lứa tuổi của

con cái có ảnh hưởng đến việc hình thành sự lựa chọn nơi cư

trú mong muốn, nghĩa là đến nguyện vọng sống chung, gần

hay xa những người ruột thịt. Theo mức độ phát triển của gia

dinh và do đó, sự lớn lên của con cái, ở cha mẹ sẽ xuất hiện

nguyện vọng muốn được sống gần gũi hơn (ví dụ, trong cùng

một nhà) với những đại diện của thế hệ già- ơng và bà.

Có nhiều cơng trình nghiên cứu đã chứng minh về vai trò

cùa các nhân tơ' tâm lí trong sự vận hành của các gia đình trẻ

tuổi. Các cơng trình này cho phép ta nghĩ rằng, ở những thời kì

(lầu của cuộc sống vợ chồng đã nảy sinh những trải nghiệm

lâm lí do điẻu kiện sống tạo nên. Chẳng hạn, theo kết quả

nghiên cứu của các nhà xã hội học Xơ viết, chỉ có 7% những

gia đình mới xây dựng là sống trong các căn hộ riêng biệt, còn

phần lớn (44%) sống cùng với bố mẹ vợ hoặc bố mẹ chồng,

85



TRÁN TRỌNG thúy



chừng 80% thanh niên lập gia đình phải yêu cầu sự giúp đ ỡ vệt

chất của cha mẹ. Trong những điều kiện như vậy các ổn g b<ô

và bà mẹ trẻ sẽ gặp phải hàng loạt những khó khán, đ ặc biêt

nếu tính đến một điều là nhiều người trong sơ' họ còn đang d i

học. Khoảng 23% số thanh niên được hỏi còn đang tiếp tực

con đường học vấn của mình đến năm 30 tuổi.

Rõ ràng là, nhiệm vụ của các nhà tâm lí học dân số là tìm

kiếm những nhân tơ' tâm lí khác nhau, tác động đến sự tri giác

và đánh giá hồn cảnh sống cùa gia đình. Chính sách và việc

tuyên truyền về dân số phải được xây dựng với sự tính đến

khơng chỉ những điều kiện sống thực cùa con người, mà cả

những trải nghiệm cùa họ về điều kiện đó nữa. Đ iều đó sẽ cho

phép xác định chính xác hơn nội dung và trình độ của các biện

pháp nhằm điều chỉnh các tâm thế và hành vi sinh đẻ.

Trong các nước phương Tây, tình hình lại khác hẳn. Các

vấn đề xã hội ờ đây đã rõ ràng. Nhưng việc giải quyết chúng

theo lợi ích quần chúng rộng rãi đã bị đạo đức tư hữu cản trở.

Chẳng hạn, M.Baldassar (M ĩ) đã chỉ ra rằng, tình trạng dân cư

quá đông đã ảnh hường xấu đến sự đánh giá của cá nhân về

hồn cảnh sống của mình, đặc biệt điều này đặc trưng cho các

bà mẹ và các th^nh viên cùa những gia đình đơng con (45).

Tuy nhiên, việc xạc nhận những hậu quả tâm lí xấu này nọ của

lối sống đã hình thành vẫn chưa có ý nghĩa là xã hội sẽ phản

ứng lại bằng những hành động quyết định.

V iệc nghiên cứu hoàn cảnh của đời sống gia đình khơng thể

chỉ giới hạn ờ việc vạch ra các phản ứng tâm lí âm tính của dân

chúng đối với những hồn cảnh đó. M ột việc không kém quan

trọng là xác định các nhân tố thúc đẩy các phản ứng dương tính

86



tâm lý học dân só



cửa aia đình đối với các hồn cảnh sống khác nhau của mình và

làm thay đổi hành vi sinh đẻ theo hướng mong muốn. Như ta đã

thấ\, thường khơng phải chính các điều kiện khách quan ảnh

hưởng đến các hành vi sinh đẻ, mà là vấn đề con người đã cảm

nhận những điều kiện đó như thế nào. Nhưng cái gì điều khiển

sự tri giác cùa con người, những hoàn cảnh kèm theo nào là

quan trọng trong vấn đề này? Chúng có quan hệ với những cơ

chế chung cùa sự tri giác và hình thành việc đánh giá hay

khơng, có phụ thuộc vào những đặc điểm nhân cách hay sự can

thiệp của những người xung quanh hay khơng? Đ ó là những vấn

đề cần được Tâm lí học dân sơ' nghiên cứu.

2.

K hía cạnh các biểu tượng về cuộc sốn g gia đình và

các ỉh àn h viên củ a nó

ở đây chúng ta cần xem xét các vấn đề tri giác hiện thực

xung quanh trong sự phụ thuộc vào kinh nghiệm , tri thức, nhu

cầu, hứng thú của cá nhân (trong mức độ mà chúng có liên

quan với sự hình thành ở con người hình ảnh về gia đình và

ảnh hưởng cùa nó đến hành vi sinh đẻ). Hình ảnh gia đìnhhạnh phúc, tuyệt vời, lí tưởng, điển hình.v.v... bộc lộ như là

một nhân tố điéu chỉnh xã hội đối với hành vi sinh đẻ, được

thực hiện qua những tượng trưng, tiêu chuẩn và các yếu tô'

khác cùa ý thức xã hội. Các hình mẫu về người chồng, người

vợ, đứa con lí tường hay tốt đẹp cũng có ý nghĩa điều chỉnh

trong tâm lí của hành vi sinh đẻ. V iệc mơ tả vai trò và cơ ch ế

nảy sinh các hình ảnh khác nhau về cuộc sống gia đình, sức

mạnh tiềm tàng cùa chúng trong việc tác động vào hành vi

sinh đẻ đang được đặt ra trước tâm lí học dân số.



TRÁN TRỌNIG THỦY



Các hình ảnh về gia đình có thể được gắn liền với cá c đặc

tính khác nhau của cuộc sống: với sự tổ chức các tác đ ộn g qua

lại giữa hai vợ chổng, với việc giáo dục, với vai trò của con cái

trong gia đình, với các biểu tượng về một cuộc sống bìah yên

và hạnh phúc, với một tương lai m ong m uốn.v.v,.. V í dụ, nhà

xã hội học Anh J.Busfild và M. Paddon đã phân loại cá c hình

ảnh về gia đình theo 2 vectơ:

1. Các đặc tính và hồn cảnh của đời sống gia đình (chủ

nghĩa tập thể, phương tiện vật chất, biểu tượng về những điều

tốt đẹp, tích cực và bình n).

2. Sự phán đốn về cuộc sống gia đình (quan niệm sống,

vai trò làm cha mẹ, giá trị của con cái, qui mơ của gia đình, sự

mua sắm của gia đình, khoảng thời gian giữa các lần sinh con,

việc kiểm soát sự sinh đẻ). Theo hai vectơ nêu trên, các tác giả

đã thu được những hình ảnh cụ thể về cuộc sống gia đinh được

nghiên cứu trong m ối liên hệ với việc sinh đẻ (46).

Sự phân loại trên đây đáp ứng được những yêu cầu theo

quan điểm tâm lí học đối với vấn đề sinh đẻ: trong đó kết hợp

được các đặc tính khách quan về hồn cảnh của cuộc sống gia

đình và ý kiến về nó. Nhưng ý đồ của các tác giả khơng được

duy trì đến cùng, bởi vì trong số các đặc tính và hồn cảnh của

cuộc sống gia đình cũng xuất hiện các biểu tượng về cái tốt,

tích cực và n bình, là những biểu tượng đã rút ra từ lĩnh vực

các hiện tượng chủ quan và cần phải xếp vào những phán đoán

về cuộc sống gia đình.

Rõ ràng là, con người nhìn nhận lí tưởng của gia đình một

cách khác nhau, đánh giá một cách khác nhau về các mặt quan

trọng nhất của cuộc sống gia đình. Chẳng hạn, sinh viên

88



tâm lý học dân só



Trường Đại học Tác-tu (Liên Xơ) đã đưa vào “mơ hình hơn

nhân lí tưởng”: những quan hệ đạo đức giữa vợ và chổng- tôn



trọng nhau, hiểu biết lẫn nhau, tin tưởng nhau (được đánh giá

cao hơn cả); Những quan hệ xúc cảm- tình yêu, sự dịu dàng

(được đánh giá tương đối cao). Các nhà nghiên cứu cũng thu

được những tài liệu, qua đó có sinh viên cho rằng nên thay

khẩu hiệu “chúng ta hãy lấy nhau, vì chúng ta yêu nhau” bằng

một khẩu hiệu mới “chúng ta hãy lấy nhau, vì chúng ta tơn

trọng và u thương nhau”. Sinh viên Extôni đánh giá cao

những phẩm chất nhân cách của người chồng (vợ) lí tưởng như

chân thành và tốt bụng. Sinh viên (đặc biệt là nữ) cho trí thơng

minh của người chổng (vợ) tương lai là quan trọng; nữ sinh

vidn nhìn thấy trong người chồng lí tưởng các đặc trưng như

lòng dũng cảm, tính cứng rắn, sự tận tâm.

Mơ hình được thừa nhận chung về các quan hệ vợ chồng

là: chồng và vợ phải được phân chia trách nhiệm gia đình

ngang bằng. Cơng trình nghiên cứu ở Extơni đã khơng xác

nhận m ơ hình cho rằng: đa số nữ thanh niên Extơni muốn có

một người chổng có nam tính, mạnh mẽ, có học vấn và tính

tích cực cao hơn trong công tác xã hội, và để bù đắp lại họ sẽ

sẵn sàng nhận về mình phần lớn các cơng việc gia đình (29).

Các cơng trình nghiên cứu khác còn chi ra rằng, cần phải xem

sự trội hơn đôi chút về trí tuệ cùa người chồng là một đặc

trưng của những cuộc hơn nhân “hạnh phúc”. Chính bản thân

phụ nữ đã nhấn mạnh điều đó (27).

Những biểu tượng về con cái có thể đóng vai trò xác định

trong hành vi sinh đẻ và trong cuộc sống gia đình nói chung.

Nhưng về vấn đề này còn có nhiều câu hỏi chưa được giải đáp



trán trọng thiùy



một cách khoa học, ví dụ như: cha mẹ nhìn nhân con cái mình

ở một lứa tuổi nào đó như thế nào? Họ muốn giáo dục cho Oon

gái và con trai những nét tính cách nào? Có những trở ngại nào

trên con đường giáo dục nhân cách với những đặc điểm xác

định? Những biểu tượng đang tồn tại về con cái có ảnh hưởng

đến hành vi sinh đẻ hay không?.V .V ..

Người ta đã thu được những số liệu khác nhau đối với giá

trị của con cái trong cuộc sống của hai vợ chổng. Một loại các

nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong những giá trị cùa hơn

nhân thì các giá trị đạo đức được đề lên hàng đầu: sự tôn trọng

lẫn nhau, sự hiểu biết lẫn nhau, lòng chung thủy, sự tin cậy.

Trong hệ thống giá trị của hơn nhân thì con cái chiếm vị trí thứ

ba hoặc thứ tư (7). Theo các tài liệu nghiên cứu ở Extơni thì

những người mới kết hơn đánh giá con cái tương đối cao.

Những người trưởng thành hơn (bắt đầu khoảng 30 tuổi) thì

đánh giá con cái cao hơn. Theo kết quả nghiên cứu ờ Latvia,

thì phần lớn những người được hỏi đều xếp con cái và hạnh

phúc gia đình vào những giá trị quan trọng nhất. Có lẽ những

kết quả khác nhau trên đây là do những khác biệt về phương

pháp thăm dò tạo nên.

So sánh những sơ' liệu của hai cuộc thâm dò thanh niên,

tiến hành ở Extôni năm 1970 và năm 1979, cho thấy rằng: giá

trị của con cái trong những năm gần đây được tàng lên, đặc

biệt trong nữ sinh viên. Những người được hỏi cho rằng, trong

gia đình lí tưởng thì con cái (ít nhất là dưới 3- 4 tuổi) cần phải

được giáo dục tại nhà, và cần có sự tham gia của cả cha lẫn mẹ

vào cơn g việc đó.



90



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG III: NHỮNG VẤN ĐỀ TÂM LÍ HỌC CỦA HÀNH VI SINH ĐẺ Ở CẤP ĐỘ GIA ĐÌNH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×