Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.7: Các hoạt động xuất khẩu chính của doanh nghiệp

Hình 2.7: Các hoạt động xuất khẩu chính của doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ - 0trang

94

2015, Việt Nam đã ký kết 4 FTA với EU, Hàn Quốc, Liên minh kinh tế Á - Âu (EEC)

và TPP (nay là CPTPP). Tính đến cuối năm 2018, nước ta đã là thành viên của hơn 10

FTA có tính chất toàn cầu và khu vực, bao gồm: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN,

Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Ấn

Độ, Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản, Khu vực mậu dịch tự do ASEANHàn Quốc, Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam-Nhật Bản, Khu vực mậu dịch tự do

ASEAN-Úc/Newzealand, HIệp định thương mại Tự do Việt Nam-Chile, Khu vực mậu

dịch tự do Việt Nam-Hàn Quốc, Liên minh Kinh tế Việt Nam-Á Âu. Ngồi ra có 5

FTA đang trong q trình đàm phán: Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EFTA,

Hiệp định Hợp tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp định thương mại tự do

ASEAN-Hồng Kông, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam-Isarel và Hiệp định

Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA). Tháng 3/2018, Hiệp định đối tác tồn diện

và tiến bộ xun Thái Bình Dương (CPTTP) đã được ký kết tại Chile với sự tham gia

của 11 nước. Cùng với EVFTA, hai hiệp định này đều là những Hiệp định tự do

thương mại có tiêu chuẩn rất cao, tác động không nhỏ đến kinh tế Việt Nam nói chung

và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước tham gia các Hiệp định thương mại

quốc tế nói riêng.

Việc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có tác động mạnh mẽ

đến mơ hình phát triển kinh tế nói chung và đầu tư phát triển xuất khẩu nói riêng của

nền kinh tế, như: Tác động một cách đáng kể đến tình hình xuất nhập khẩu và thu hút

FDI của nước ta. Trong đó, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã bằng

gần 200% so với GDP.Mặt khác, dòng vốn FDI đã trở thành động lực chính cho tăng

trưởng xuất khẩu của Việt Nam. Theo số liệu thống kê tính đến tháng 7/2017 của Bộ

Kế hoạch và Đầu tư, tổng giá trị vốn FDI đăng ký đạt 307.86 tỷ USD với 23.737 dự

án.

Bên cạnh đó, tồn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế được xem là xu thế thời

đại, nhưng những diễn biến gần đây cho thấy xu thế này đang gặp phải những trở ngại

mới. Ví dụ, việc Liên hiệp Anh rút khỏi EU, căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung

Quốc… Thực tế, năm 2018 đã chứng kiến các cuộc cạnh tranh quyết liệt về quyền lực

và tầm ảnh hưởng đối với khu vực Đông Nam Á giữa hai cường quốc là Mỹ và Trung

Quốc. Với chiến lược mang tên Ấn Độ - Thái Bình Dương, Mỹ muốn cùng liên minh

với Nhật Bản, Australia và Ấn Độ tạo lập trật tự kinh tế tại một khu vực rộng lớn, bao

phủ các nước ven biển Ấn Độ Dương, Đông Nam Á, Australia và New Zealand và lấy

2 đại dương: Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương làm trung tâm, Trong khi đó, Trung

Quốc cũng đang đẩy mạnh thu hút các nước ASEAN tham gia cuộc chơi do mình khởi

xướng, trong đó có Hiệp định Đối tác Kinh tế Tồn diện Khu vực (RCEP), Các sáng



95

kiến của Trung Quốc về Vành đai và Con đường đều coi ASEAN trong đó có Việt

Nam là điểm trung tâm và có những tác động nhất định.

Trong bối cảnh đó, việc tái cơ cấu đầu tư phát triển xuất khẩu hàng hóa của Việt

Nam cũng sẽ chịu những tác động nhất định về thị trường xuất khẩu, các dòng vốn đầu

tư trực tiếp nước ngồi.

b/ Yếu tố liên kết kinh tế khu vực ASEAN

Các nước ASEAN đã tuyên bố thành lập công đồng kinh tế (AEC) vào thành

12/2015. Theo Kế hoạch tổng thể của AEC đến năm 2025, khu vực ASEAN sẽ hình

thành một khu vực sản xuất chung, một thị trường thống nhất. Đây sẽ là yếu tố tác

động đến quá trình tái cơ cấu đầu tư phát triển xuất khẩu của Việt Nam không chỉ do

sự gia tăng về qui mô, phạm vi thị trường đầu tư, mà cả về áp lực cạnh tranh trong nội

bộ khu vực ASEAN. Tuy nhiên, trước biến đổi khó lường trong quan hệ Mỹ - Trung

hiện nay, phát biểu bế mạc Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN tháng 11/2018,Thủ tướng

Singapore Lý Hiển Long cảnh báo rằng các quốc gia Đơng Nam Á có thể một ngày

nào đó phải lựa chọn giữa Mỹ và Trung Quốc. Trong khi đó, cả Mỹ và Trung Quốc

đều là những đối tác thương mại và đầu tư lớn của ASEAN.

Hiện nay, nhiều nước thành viên có xu thế ưu tiên quan hệ với Trung Quốc hơn

là củng cố tính trung tâm của ASEAN. Trong khi đó, Mỹ cũng là đối tác thương mại

lớn của ASEAN. Hơn nữa, với bề dày quan hệ giữa ASEAN và Mỹ, nhiều chương

trình hợp tác và hỗ trợ của Mỹ dành cho ASEAN đã phát huy hiệu quả, đóng góp vào

q trình xây dựng cộng đồng ASEAN. Chính vì vậy, việc phải lựa chọn một trong hai

cường quốc kinh tế sẽ dẫn đến nguy cơ không chỉ làm chậm nỗ lực của các nước thành

viên trong quá trình hiện thực hóa AEC, mà còn làm thay đổi dòng thương mại trong

nội khối và với các thị trường ngoài ASEAN.

c/ Yếu đố đầu tư trực tiếp nước ngồi

Làn sóng FDI vào Việt Nam nói riêng và khu vực ASEAN đã tăng mạnh trở

thành khu vực thu hút FDI nhiều nhất thế giới. Cùng với xu hướng gia tăng FDI, vai

trò của các cơng ty đa quốc gia trong các dòng thương mại của Việt Nam và các nước

ASEAN cũng ngày càng lớn. Tuy nhiên, các nhà đầu tư quốc tế sẽ lựa chọn một trong

số các nước thành viên ASEAN không chỉ dựa trên những ưu đãi nhận được mà quan

trọng hơn là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Trong khi đó, Việt Nam, Lào, Campu-chia và Mi-an-ma ở tốp cuối về năng lực cạnh tranh so với các nước còn lại. Đây là

một thách thức khơng nhỏ đối với Việt Nam không chỉ trong việc gia tăng thu hút FDI

mà cả trong việc khai thác các cơ hội phát triển thương mại với các nước trong và

ngoài ASEAN.



96

Trong giai đoạn vừa qua, theo đánh giá, FDI vào Việt Nam chủ yếu tập trung

vào ngành chế biến, chế tạo cao hơn nhiều so với nhiều nước khác, như Indonesia,

Philippines. Các doanh nghiệp FDI chiếm tới khoảng 70% tổng kim ngạch xuất khẩu

từ Việt Nam ra thế giới.Tuy nhiên, dòng vốn FDI vào Việt Nam hầu như mới có tác

động mạnh đến khả năng gia tăng qui mơ xuất khẩu, mà chưa có tác động đáng kể đến

năng lực cạnh tranh xuất khẩu do đầu tư FDI hiện vẫn có mức độ thấp về cơng nghệ,

chuyển giao cơng nghệ và mối liên kết giữa các tập đoàn đa quốc gia với các doanh

nghiệp trong nước vẫn còn khá hạn chế.

d/ Yếu tố trình độ phát triển cơng nghệ trên thế giới

Cùng với quá trình đổi mới, mở thị trường và thu hút dòng vốn FDI, các doanh

nghiệp Việt Nam đã có cơ hội tiếp cận và đầu tư đổi mới cơng nghệ sản xuất kinh

doanh, trình độ phát triển công nghệ ở Việt Nam đã được nâng lên đáng kể. Tuy nhiên,

theo kết quả khảo sát của VCCI năm 2016 tại 10 ngành, trong đó có 7 ngành thuộc lĩnh

vực công nghiệp chế biến chế tạo cho thấy, có đến gần 60% doanh nghiệp đang sử

dụng các cơng nghệ có tuổi đời trên 6 năm.Các cơng nghệ của các doanh nghiệp đến

chủ yếu từ các nước đang phát triển (chiếm khoảng 65%), trong đó có tới 26,6% cơng

nghệ có xuất xứ từ Trung Quốc.Tỷ lệ các cơng nghệ có xuất xứ từ các nước phát triển

như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản hay EU chỉ chiếm khoảng 32%, trong đó có trên 18% là

cơng nghệ trước năm 2005.

Những con số trên đã cho thấy phần nào thực trạng trình độ cơng nghệ và máy

móc thiết bị của các doanh nghiệp trong các ngành chế biến chế tạo của Việt Nam và

sự cần thiết phải thúc đẩy quá trình đầu tư đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp

Việt Nam nói chung và doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng.

Đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt

Nam là đòi hỏi cấp thiết trong bối cảnh hội nhập quốc tế và đặc biệt là cuộc cách mạng

công nghiệp 4.0 CMCN 4.0). Nhiều doanh nghiệp đã nhận thức được vấn đề này nên

đã và đang triển khai các hoạt động đầu tư để đổi mới công nghệ. Theo kết quả khảo

sát đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp thuộc dự án FIRST-NASATI thực hiện mới

đây, có tới gần 85% các doanh nghiệp tự thực hiện các hoạt động nghiên cứu phát triển

để có được các sản phẩm mới, chỉ có gần 14% các doanh nghiệp đã phối hợp với các

đơn vị bên ngoài để triển khai nghiên cứu đổi mới sản phẩm. Về đổi mới quy trình, các

doanh nghiệp chủ yếu thực hiện thơng qua phương thức đầu tư vào công nghệ mới hay

nâng cấp/chỉnh sửa công nghệ hiện tại, trong khi các hoạt động chuyển giao từ các tổ

chức KH&CN đến doanh nghiệp lại rất thấp (dưới 1%).



97

Trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 đang bùng nổ, tác động đến nhiều quốc gia,

Chính phủ các nước đang hết sức quan tâm và đã chủ động ban hành các chiến lược

phát triển 4.0 cho riêng mình. Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, CMCN

4.0 vừa mở ra nhiều cơ hội trong việc nâng cao trình độ, năng lực sản xuất và cạnh

tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu, tạo ra sự thay đổi lớn về mơ hình kinh doanh bền

vững và là cơ hội cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Cuộc cách mạng này còn có

thể rút ngắn q trình cơng nghiệp hố bằng cách đi tắt đón đầu, phát triển nhảy vọt

lên cơng nghệ cao hơn.Tuy nhiên, nếu khơng có cách tiếp cận đúng đắn và bắt kịp

trình độ phát triển của thế giới và khu vực, Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ tụt hậu

ngày càng xa hơn về cơng nghệ, tình trạng dư thừa về lao động và sự bất bình đẳng

trong xã hội.

e/Yếu tố bảo vệ mơi trường, chống biến đổi khi hậu toàn cầu

Theo Báo cáo về chỉ số rủi ro khí hậu dài hạn 2019 của tổ chức Germanwatch

cho biết, trong 20 năm qua kể từ năm 1998, các quốc gia trên thế giới ngày càng bị ảnh

hưởng nhiều bởi biến đổi khí hậu. Theo Báo cáo này các nước bị ảnh hưởng bởi biến

đổi khí hậu nặng nề như: Sri Lanka, Dominica, Puerto Rico, Nepal, Peru, Việt Nam,

Madagasca, Sierra Leone, Bangladesh và Thái Lan.

Việt Nam được dự đoán bị tác động nặng nề nếu khí hậu tăng lên 1oC và nước

biển dâng cao 1m. Đặc biệt, theo các kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) của Việt Nam,

đến cuối thế kỷ XXI, sẽ có 40% diện tích vùng Đồng bằng sơng Cửu Long (ĐBSCL),

11% diện tích vùng Đồng bằng sơng Hồng và 3% diện tích của các địa phương ven

biển khác sẽ bị ngập nước. Khi đó sẽ có 10 - 12% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn

thất 10% GDP.BĐKH tại Việt Nam còn đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực

và phát triển nông nghiệp.

Như vậy, BĐKH tại Việt Nam sẽ tác động mạnh đến quá trình tái cơ cấu xuất

khẩu hàng hóa của Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp trên các phương

diện như: đầu tư cho việc chuyển đổi cơ cấu sản phẩm, vùng sản xuất, tìm kiếm và đầu

tư vào cơng nghệ thân thiện với môi trường…

2.3.2. Các yếu tố trong nước

a/ Yếu tố thể chế - luật pháp trong nước

Trên bình diện chung, những nỗ lực của nhà nước trong việc hoàn thiện thể chế

và pháp luật trong những năm vừa qua đã tác động tích cực đến sự phát triển thương

mại nói chung và thương mại với các nước ASEAN nói riêng. Điều này được thể hiện

qua đánh giá môi trường cạnh tranh của Việt Nam. Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn

cầu 2017-2018 do diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố, Việt Nam đã tăng 5 bậc



98

so với năm 2016 lên vị trí thứ 55 trong số 137 nền kinh tế toàn cầu. Như vậy, sau lại

10 năm (2007-2017), năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam đã cải thiện khoảng

15 bậc. Mức cải thiện năng lực cạnh tranh của Việt Nam có sự đóng góp quan trọng

của yếu tố thể chế - pháp luật. Việt Nam đã thực hiện sửa đổi, ban hành mới Luật và

nhiều Nghị định, văn bản hướng dẫn các Luật, cụ thể:

+ Nhóm các văn bản pháp luật về đầu tư bao gồm: Luật đầu tư số

67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014; Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12

tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số

điều của Luật Đầu tư; Thông tư 83/2016/TT-BTC ngày 17 tháng 6 năm 2016 của Bộ

Tài chính hướng dẫn thực hiện ưu đãi đầu tư quy định tại Luật đầu tư và Nghị định

118/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật đầu tư; Nghị định 63/2018/NĐ-CP về đầu tư theo

hình thức đối tác công tư; Thông tư 38/2015/TT-BCT quy định chi tiết về đầu tư theo

hình thức đối tác cơng tư thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương; Thông tư

03/2011/TT-BKHĐT ngày 27 tháng 01 năm 2011 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng

dẫn quy định về đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BTO và BT.

+ Nhóm các văn bản pháp luật về thương mại, xuất khẩu, bao gồm: Luật

Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005, Luật Quản lý ngoại

thương số 05/2017/QH14 ngày 12 tháng 6 năm 2017; Luật Thuế xuất nhập khẩu số

107/2016/QH13 ngày 06 tháng 4 năm 2016; Nghị định số 81/2018/NĐ-CP ngày 22

tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động xúc

tiến thương mại; Nghị định số 158/2006/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2006 của

Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở

Giao dịch hàng hóa và Nghị định số 51/2018/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2018 sửa

đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2006/NĐ-CP; Nghị định 89/2006/NĐCP về nhãn hàng hoá; Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử ngày 16 tháng

5 năm 2013 của Chính phủ; Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018

của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật Quản lý ngoại thương; Nghị

định số 28/2018/NDD-CP ngày 01 tháng 3 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết

một số Điều của Luật Quản lý ngoại thương về một số biện pháp phát triển ngoại

thương;Thông tư số 12/2018/TT-BCT ngày 15 tháng 6 năm 2018 của Bộ Công

Thương quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương và Nghị định

số 69/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số

điều của Luật Quản lý ngoại thương; Nghị định số 09/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 01

năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại và Luật Quản lý ngoại

thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua



99

bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngồi, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại

Việt Nam;Nghị định 134/2016/NĐ-CPngày 01 tháng 09 năm 2016 của Chính

phủ hướng dẫn Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Hiện tại, Việt Nam được đánh giá

là một trong những nước có Luật cạnh tranh khá tồn diện áp dụng cho cả nền kinh tế

và có các cơ quan giám sát thực hiện luật này.

Nhìn chung, các chính sách nêu trên đã thu hút đầu tư phát triển xuất khẩu đảm

bảo được mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ đến năm 2020, tầm

nhìn đến năm 2030. Việt Nam đã đề ra được những chính sách tổng thể thúc đẩy phát

triển xuất khẩu với những nội dung phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam,

cụ thể: Chính sách chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu; Chính sách gắn sản xuất với

xuất khẩu; Chính sách mở cửa thị trường; Chính sách đầu tư trong và ngồi nước; Đổi

mới các cơng cụ và thể chế quản lý xuất khẩu; Chính sách về thuế xuất khẩu, Quản lý

ngoại tệ, Tỉ giá hối đoái, Giấy phép xuất khẩu, Thủ tục hải quan - xuất khẩu hàng hố,

Chính sách khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, Đào tạo

và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, Tham gia các tổ chức

kinh tế thế giới;Xây dựng chiến lược tăng trưởng xuất khẩu phù hợp với chiến lược

phát triển kinh tế. Việc thực thi các nhiệm vụ phát triển xuất khẩu khơng chỉ của một

ngành cụ thể mà nó là nhiệm vụ của các ngành kinh tế, dịch vụ.

Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật nói chung của Việt Nam hiện vẫn còn thiếu cụ

thể, rõ ràng, nhiều văn bản thiếu tính khả thi; tính ổn định của hệ thống quy phạm còn

yếu. Văn bản luật chủ yếu vẫn mang tính chất định khung, khó áp dụng trực tiếp vào

các trường hợp cụ thể mà phải thông qua các văn bản hướng dẫn, giải thích. Mỗi

ngành lại có những cách hiểu khác nhau, dẫn đến tình trạng cùng một vấn đề nhưng lại

có nhiều văn bản hướng dẫn khác nhau. Mặt khác, do có quá nhiều loại văn bản, được

nhiều cấp ban hành, nhưng lại thiếu cơ chế cân nhắc toàn diện các lĩnh vực pháp luật

liên quan, nên mâu thuẫn và chồng chéo là khó tránh khỏi… Những hạn chế này phần

nào đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện đầu tư phát triển xuất khẩu của Việt Nam

hiện nay.

b/ Yếu tố kinh tế

Thực tế cho thấy, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2013 đã dần phục

hồi theo xu hướng năm sau cao hơn năm trước; chất lượng tăng trưởng được nâng

lên,mức thu nhập bình quân đầu tăng. Theo số liệu thống kê, lạm phát cơ bản bình

qn hàng năm được kiểm sốt, giảm từ 13,02% năm 2011 còn 2,05% năm 2015 và

1,41% năm 2017,chỉ số giá tiêu dùng so với năm trước đã giảm từ mức 9,19% năm

2010 xuống còn 0,63% năm 2015 và 3,53% năm 2016. Mặt bằng lãi suất năm 2016

giảm khoảng 50% so với cuối năm 2011 và được duy trì tương đối ổn định,dư nợ tín



100

dụng tăng, chất lượng tín dụng từng bước được cải thiện; tạo việc làm cho 7,8 triệu

người…Đây là những thuận lợi cho hoạt động đầu tư của nền kinh tế nói chung và đầu

tư phát triển xuất hàng hóa nói riêng.Thực tế cho thấy, khi khó khăn về tình hình kinh

tế vĩ mơ đã dần được tháo gỡ, doanh nghiệp đã có dấu hiệu quay trở lại đầu tư, mở

rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Tổng số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh

nghiệp tăng lên; số doanh nghiệp giải thể, chấm dứt hoạt động kinh doanh tiếp tục

giảm 0,4%; số doanh đăng ký thành lập mới tăng…

Đối với chính sách xuất khẩu và hỗ trợ phát triển xuất khẩu của Việt Nam trong

giai đoạn vừa qua như: Chính phủ đã tăng cường hợp tác quốc tế, đàm phán song

phương và đa phương để các nước nhập khẩu mở cửa thị trường cho hàng hóa xuất

khẩu của Việt Nam, các chính sách về ưu đãi tín dụng, về điều hành tỷ giá hối đoái, hỗ

trợ đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu của doanh

nghiệp, tuyên truyền, hướng dẫn về các quy định của WTO và các quy định khác về

thương mại quốc tế trong hoạt động xuất khẩu, đồng thời có các chương trình xúc tiến

thương mại xuất khẩu, phát triển hạ tầng phục vụ xuất khẩu….

Bên cạnh đó, những hạn chế về các yếu tố kinh tế như: Việc kiểm soát lạm phát

và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế chưa thật bền vững; Cân đối ngân sách nhà

nước còn khó khăn, vẫn còn thất thu, nợ đọng thuế, cơ cấu chi chưa hợp lý, bội chi

ngân sách còn cao, chưa đạt mục tiêu 4,5% GDP; Nợ công vẫn tăng, áp lực trả nợ lớn,

nợ Chính phủ đã vượt giới hạn quy định; Sử dụng vốn vay ở một số dự án kém hiệu

quả và còn thất thốt, lãng phí; Hoạt động đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nói

chung vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro, nhất là đầu tư dài hạn; Chi phí kinh doanh của

doanh nghiệp, nhất là chi phí về vận tải, lãi suất tiền vay… vẫn ở mức cao.

c/ Các yếu tố về văn hóa -xã hội

Nhìn chung, các yếu tố văn hóa -xã hội của Việt Nam hiện nay đang tác động

tích cực đến đầu tư phát triển xuất khẩu của Việt Nam,cụ thể:

- Qui mô dân số Việt Nam năm 2017 là 93,67 triệu người,mật đô dân số năm

2017 là 283 người/km2, cao gấp 4,9 lần so với mật độ bình quân 57 người/km2 trên thế

giới. Đồng thời, Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ có tỷ lệ dân số vàng với tỷ lệ dân số

trong độ tuổi lao động chiếm 54,8% năm 2017. Bên cạnh đó, Việt Nam đang trong q

trình đơ thị hóa. Mặc dù, tỷ lệ dân cư đô thị mới chiếm 35% năm 2017, nhưng đang có

xu hướng tăng nhanh, tăng bình qn khoảng trên 3%/năm. Đây là những yếu tố tác

động tích cực đến phát triển các ngành kinh tế nói chung và phát triển các ngành xuất

khẩu nói riêng.



101

- Qui mơ hộ gia đình bình quân ở Việt Nam giảm và số lượng hộ gia đình tăng

nhanh hơn tốc độ tăng dân số. Số lượng các gia đình nhiều thế hệ cùng sinh sống trong

một nhà cũng đang có xu hướng giảm. Cùng với sự cải thiện về thu nhập, sự tiếp cận

công nghệ thông tin… hành vi mua sắm và tiêu dùng của người tiêu dùng nói chung và

giới trẻ nói riêng cũng đang có xu hướng thay đổi. Đây là những yếu tố có tác động

tích cực đến các doanh nghiệp mở rộng đầu tư, nâng cao chất lượng sản phẩm của

hướng đến trong nước, qua đó tạo cơ sở mở rộng xuất khẩu hàng hóa.

- Trong q trình đổi mới, mở cửa, hội nhập, giao lưu quốc tế, đặc biệt là qua

các phương tiện thông tin hiện đại, các giá trị của tồn cầu hố đã tác động mạnh mẽ

tới lối sống Việt Nam, tạo ra những chuyển biến quan trọng trong lối sống. Hiểu biết

của người Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp nói riêng được mở mang và nâng

cao tầm tư duy kinh doanh phù hợp với một phương thức sống hiện đại, hòa nhập với

các quốc gia dân tộc khác. Do đó, Việt Nam dù là nơi sản xuất còn yếu cả về số lượng

mặt hàng lẫn chất lượng sản phẩm, nhưng nhờ quá trình trao đổi sản phẩm trong giao

lưu kinh tế, thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam khơng ngừng mở rộng.

Có thể nói, trong xu hướng tồn cầu hố, những thay đổi về đời sống văn hóa - xã hội

của Việt Nam đã và đang thúc đẩy hoạt động kinh doanh quốc tế nói chung và xuất

khẩu nói riêng.

d/ Yếu tố công nghệtrong nước

Năm 2017, chỉ số Đổi mới sáng tạo tồn cầu (GII) do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế

giới (WIPO), Đại học Cornell và Viện nghiên cứu INSTEAD công bố, Việt Nam xếp

hạng 47/127, vượt 12 bậc so với năm 2016, và là thứ hạng cao nhất Việt Nam từng đạt

được.Trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp, Việt Nam đã vươn lên xếp

thứ nhất (từ vị trí thứ ba năm 2016). Trong khu vực Đơng Nam Á - Đông Á - châu Đại

Dương, Việt Nam xếp thứ 9. Trong ASEAN, Việt Nam đã vươn lên đứng trên Thái

Lan.

Việc ứng dụng và phát triển công nghệ trong các ngành kinh tế đã đạt được

nhiều tiến bộ. Các doanh nghiệp bắt đầu đầu tư, chú trọng vào phát triển, ứng dụng

công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp.Công nghệ thông tin đã phát triển và mở

rộng ứng dụng trong hệ thống ngân hàng, quản lý hành chính, sản xuất, kinh

doanh,công nghệ thông tin hiện đại, phủ rộng khắp từ thành thị đến nơng thơn, thậm

chí cả miền núi, hải đảo. Hàng trăm dịch vụ công trực tuyến được triển khai ở mức độ

3, 4 tại nhiều địa phương, bộ, ngành mang lại tiện ích, hiệu quả cho người dân và

doanh nghiệp. Trong công nghiệp, hàng loạt kỹ thuật tiên tiến được áp dụng, tạo nhiều

sản phẩm chất lượng cao, nhất là trong các ngành hàng xuất khẩu chủ lực như: hàng

may mặc, thuốc lá, đồ nhựa, cao su, đồ điện máy, điện tử, chế tạo máy móc, thiết bị



102

phụ tùng và đổi mới công nghệ, kinh doanh sản xuất ô tô, xe máy. Đồng thời, công

nghệ chế tạo vật hiệu mới, công nghệ sinh học, tự động hố… đã từng bước được quan

tâm.

Tuy nhiên, trình độ phát triển cơng nghệ của Việt Nam còn thấp, trong khi đầu

tư tài chính cho khoa học cơng nghệ chưa vượt quá 1% ngân sách hàng năm. Lực

lượng lao động có trình độ khoa học- kỹ thuật còn thiếu so với yêu cầu phát triển của

nhiều ngành. Mối quan hệ giữa hoạt động khoa học công nghệ và hoạt động kinh tế

đang bộc lộ những bất cập rõ rệt.

d/ Yếu tố cơ sở hạ tầng

Theo báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), mức đầu tư cơ sở hạ

tầng của Việt Nam bình quân khoảng 5,7% GDP, chỉ đứng sau Trung Quốc (6,8%)

trong khi các quốc gia như Indonesia, Philippines chỉ là dưới 3% GDP. Tuy nhiên, theo

đánh giá, cơ sở hạ tầng ở Việt Nam vẫn còn yếu kém. Trong đó, hệ thống lưới điện

truyền tải chất lượng thấp, tổn thất điện năng lớn so với các nước trong khu vực và

trên thế giới. Hạ tầng các khu cơng nghiệp chưa đồng bộ, còn thiếu các cơng trình hạ

tầng xã hội thiết yếu, chậm đầu tư các công trình xử lý chất thải. Hạ tầng thơng tin và

truyền thông phát triển nhanh nhưng chưa thực sự bền vững, độ phủ sóng của mạng

viễn thơng khơng đồng đều, chất lượng và mạng lưới dịch vụ chưa đáp ứng tốt u cầu

của người sử dụng. Cơng trình kết cấu hạ tầng đa mục tiêu còn ít, hiệu quả đầu tư thấp

do thiếu sự phối hợp trong quy hoạch và quản lý quy hoạch giao thông với thủy lợi,

thủy điện, kinh tế biển, dịch vụ, du lịch…

Đặc biệt, sự phát triển ngành logistics Việt Nam có ảnh hưởng trực tiếp đến việc

đầu tư phát triển xuất khẩu hàng hóa trong nền kinh tế. Tuy nhiên, do trình độ cơ sở hạ

tầng kém, ngành logistics vẫn còn nhiều khoảng trống chưa được lấp đầy như: sự thiếu

đồng bộ giữa cảng biển với hệ thống đường bộ, đường sắt và hệ thống dịch vụ hỗ trợ

sau cảng biển, thiếu những trung tâm logistics có vị trí thuận tiện tại mỗi khu vực kinh

tế trọng điểm để làm đầu mối trung chuyển, xuất nhập khẩu hàng hóa. Thực tế, các

tuyến đường sắt tại Việt Nam có tổng chiều dài 2.653km, trong đó chỉ có 6,67% đạt

chuẩn quốc tế. Phần lớn cung đường chưa đạt tiêu chuẩn an tồn vì sử dụng loại khổ

hẹp 1m nên khơng thể chạy nhanh. Nhìn chung kỹ thuật đường sắt cấp 1 của Việt Nam

đi sau thế giới cả thế kỷ.

Trong 5 năm tới, theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển Châu Á, Việt Nam cần

480 tỷ USD để đầu tư cho cơ sở hạ tầng, bao gồm việc xây dựng 11 nhà máy điện với

tổng công suất 13.200 MW và 1.380 km đường cao tốc. Tuy nhiên, việc huy động

nguồn vốn đầu tư sẽ gặp khó khăn. Một mặt do Việt Nam đã thốt khỏi nhóm nước có

thu nhập thấp chuyển sang nhóm nước có thu nhập trung bình, nên nguồn ODA đang



103

dần bị cắt giảm. Đặc biệt, các nguồn ODA mà WB dành cho Việt Nam sẽ chuyển sang

điều khoản trả nợ nhanh gấp đôi hoặc lãi suất tăng lên từ 4% - 5%. Mặt khác, việc tăng

cường huy động các nguồn lực đầu tư trong nước để thay thế nguồn ODA cũng gặp

phải những hạn chế như các dự án của tư nhân thuộc lĩnh vực này ít có nghiên cứu khả

thi, độ tin cậy thấp, rủi ro cao, chi phí giải phóng mặt bằng tốn kém, thời gian thường

bị kéo dài.

2.3.3. Các yếu tố nội tại của doanh nghiệp

Hội nhập kinh tế quốc tế cũng như định hướng phát triển xuất khẩu của nền

kinh tế đã và đang mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam gia tăng đầu tư,

đẩy mạnh tham gia các giá trị toàn cầu, tạo đột phá về mọi mặt như qui mô, chất

lượng, cạnh tranh…Vấn đề còn lại là chính doanh nghiệp phải thực hiện đầu tư nâng

cao năng lực cạnh tranh, nắm bắt và khai thác các cơ hội phát triển xuất khẩu, nhất là

xuất khẩu vào các thị trường đã ký kết hiệp định thương mại với Việt Nam.Tuy nhiên,

theo đánh giá hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam chưa quan tâm đúng mức đến khai

thác các ưu đãi trong các hiệp định thương mại. Ví dụ, theo kết quả khảo sát của

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện vào tháng 12/2015

cho thấy, chỉ có 9% doanh nghiệp Việt Nam tìm hiểu tương đối kỹ về Hiệp định TPP

(nay là CPTPP), 91% còn lại biết q ít hoặc khơng biết. Hoặc, theo đánh giá của Cục

Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương: hiện mới có 35% lượng hàng hóa xuất khẩu của

Việt Nam tận dụng được các ưu đãi từ các FTA mà Việt Nam đã tham gia.

Các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu đã vận dụng các chính sách về tín

dụng xuất khẩu, các chính sách về khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất

hàng xuất khẩu, về đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý hoạt động xuất nhập

khẩu, về việc Việt Nam đã tham gia và ký kết các hiệp định đa phương, song phương

với các tổ chức kinh tế thế giới, các quốc gia trên thế giới, tham gia các chương trình,

hội nghị xúc tiến thương mại quốc tế để thực hiện để tái cơ cấu đầu tư phát triển xuất

khẩu hàng hóa của doanh nghiệp trong thời gian qua và đã đánh giá mức độ phù hợp

của các chính sách, giải pháp, các kết quả thực hiện các giải pháp và rút ra những

thành cơng: Cụn thể đã góp phần thúc đẩy phát triển đầu tư của doanh nghiệp để phát

triển hàng hóa xuất khẩu phù hợp với các cam kết quốc tế và thị hiếu của người tiêu

dùng tại các quốc gia nhập khẩu.

Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đóng vai trò then chốt

trong thành cơng của các doanh nghiệp nói chung và khai thác các cơ hội phát triển

xuất khẩu trong môi trường cạnh tranh quốc tế nói riêng. Thực tế, phần lớn doanh

nghiệp Việt Nam vẫn ở qui mô nhỏ và vừa (chiếm 97%), khả năng cạnh tranh kém,



104

thiếu vốn, sử dụng thiết bị lạc hậu, sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng thấp, khả năng

liên kết yếu cũng như chưa có chiến lược kinh doanh cụ thể…

2.4. Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu đầu tư phát triển xuất khẩu hàng

hóa của Việt Nam

2.4.1.Những kết quả đạt được

Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam chuyển biến mạnh mẽ theo mơ hình cơng nghiệp

hóa định hướng xuất khẩu

Theo số liệu thống kê, tốc độ tăng trưởng các ngành công nghiệp, nhất là các

ngành công nghiệp chế biến, chế tạo luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP, đặc biệt

tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa của nền kinh tế cao hơn khoảng 2 - 3 lần so với

tốc độ tăng trưởng GDP. Đồng thời, tỷ lệ giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của

Việt Nam so với GDP đã tăng nhanh và đến năm 2017 đã vượt quá qui mô GDP của

nền kinh tế, lên tới 101,59% GDP.

Qui mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ln duy trì ở tốc

độ tăng trưởng cao gấp trên 2 lần tốc độ tăng trưởng GDP. Thị trường xuất khẩu ngày

càng được mở rộng và đa dạng. Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tiếp tục chuyển biến tích

cực, tỷ trọng nhóm hàng cơng nghiệp chế biến - chế tạo trong xuất khẩu tăng. Cán cân

thương mại hàng hố của Việt Nam ln trong tình trạng thâm hụt lớn trong giai đoạn

2006 - 2010, nhưng đã chuyển sang trạng thái thặng dư trong 4 năm gần đây.Việt Nam

đạt được thặng dư thương mại với hầu hết các châu lục, trừ châu Á.

Thứ hai, vốn đầu tư phát triển trong nền kinh tế Việt Nam có sự chuyển dịch

theo hướng tập trung nhiều hơn vào các ngành, khu vực kinh tế hướng đến gia tăng

xuất khẩu, đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Thực tế, tốc độ gia tăng vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế vào các khu vực

sản xuất hàng hóa xuất khẩu (nơng, lâm nghiệp, thủy sản và các ngành công nghiệp

chế tạo, khu vực doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp ngồi nhà nước) đã tăng nhanh.

Do đó, tỷ trọng vốn đầu tư xã hội, cũng như vốn sản xuất kinh doanh của các doanh

nghiệp vào các ngành, khu vực kinh tế xuất khẩu đã có chuyển biến theo hướng tăng

lên. Đặc biệt, đối với khu vực nông nghiêp được đánh giá là có nhiều lợi thế xuất

khẩu, tốc độ tăng vốn đầu tư xã hội đã có xu hướng tăng mạnh trong các năm 20162017. Công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản mà chất lượng sản phẩm của nhiều mặt

hàng chế biến được cải thiện từng bước và đang chiếm lĩnh thị trường trong nước cũng

như thị trường xuất khẩu không ngừng được mở rộng như: thủy sản, gạo, cao su, điều,

cà phê nhân, rau, quả… đến nhiều nước, khu vực trên thế giới như: Nhật Bản, Trung

Quốc, Mỹ, Úc, các nước EU… đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, cà phê, cao su;



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.7: Các hoạt động xuất khẩu chính của doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×