Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.6: Thực trạng nghiên cứu thị trường xuất khẩu

Hình 2.6: Thực trạng nghiên cứu thị trường xuất khẩu

Tải bản đầy đủ - 0trang

88

Nguồn: Số liệu điều tra các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu

Chiến lược, Chính sách Cơng Thương, Bộ Cơng Thương

Cụ thể, có 130/274 doanh nghiệp đánh giá thực trạng đầu tư ở mức độ ‘trung

bình” so với nhu cầu hiện nay, chiếm 47,4%, 51 doanh nghiệp nhận định mức đầu tư

này lớn hơn nhu cầu thị trường, chiếm 18,6% và có 93 doanh nghiệp cho rằng mức độ

đầu tư này là nhỏ so với nhu cầu hiện nay, chiếm 34%.

Như vậy, khơng tính số doanh nghiệp đánh giá mức độ “trung bình”, kết quả

trên cho thấy số lượng doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư “nhỏ” đang gấp đôi số

lượng doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư “lớn” so với nhu cầu đặt ra, trong đó chủ

yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp cổ phần và doanh

nghiệp tư nhân. Nguyên nhân chủ yếu các doanh nghiệp đưa ra là do ảnh hưởng của

khủng hoảng kinh tế nên các doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí cho các hoạt động bổ

trợ, chỉ tập trung cho hoạt động sản xuất hàng hóa xuất khẩu.

Hoạt động đầu tư xúc tiến xuất khẩu cũng có số lượng doanh nghiệp đánh giá

“trung bình” nhiều nhất với 111/261 doanh nghiệp, chiếm 42,5%, số lượng đánh giá

mức đầu tư “nhỏ” và “quá nhỏ” so với nhu cầu hiện nay là 99/261 doanh nghiệp,

chiếm 37,9% trong khi chỉ có 51/261 doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư “lớn” và

“quá lớn”, chiếm 19,5%. Số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia

điều tra là lớn nhất với 91/261 doanh nghiệp, trong đó có 43 doanh nghiệp đánh giá

mức độ đầu tư trung bình, 31 doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư là “nhỏ” và có 17

doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư là “lớn”. Hai hình thức doanh nghiệp khác là

doanh nghiệp cổ phần và doanh nghiệp tư nhân cũng có tỷ lệ lựa chọn tương tự, 2/3 số

doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động xúc tiến xuất khẩu là nhỏ và chỉ có 1/3 số doanh

nghiệp đầu tư lớn cho hoạt động này.

Bảng 2.20. Thực trạng đầu tư nghiên cứu xúc tiến xuất khẩu hàng hóa

Doanh nghiệp

DN



Số lượng



nhà

nước

DN có



Nghiên cứu xúc tiến xuất khẩu

Trung

Nhỏ

Lớn Quá lớn

bình



Quá

nhỏ



Tổng



2



0



2



0



0



4



% với Q14.2



3,7



0,0



1,8



0,0



0,0



1,5



% Tổng



0,8



0,0



0,8



0,0



0,0



1,5



Số lượng



14



17



43



16



1



91



25,9



37,8



38,7



39,0



10,0



34,9



5,4



6,5



16,5



6,1



0,4



34,9



vốn đầu % với Q14.2

tư nước % Tổng



89



Doanh nghiệp



ngoài

DN



Số lượng

% với Q14.2



cổ phần % Tổng

DN



Số lượng

% với Q14.2



tư nhân % Tổng



Nghiên cứu xúc tiến xuất khẩu

Trung

Nhỏ

Lớn Quá lớn

bình



Quá

nhỏ



Tổng



16



15



35



9



6



81



29,6



33,3



31,5



22,0



60,0



31,0



6,1



5,7



13,4



3,4



2,3



31,0



17



11



27



13



3



71



31,5



24,4



24,3



31,7



30,0



27,2



6,5



4,2



10,3



5,0



1,1



27,2



5



2



4



3



0



14



Loại



Số lượng



hình



% với Q14.2



9,3



4,4



3,6



7,3



0,0



5,4



khác



% Tổng



1,9



0,8



1,5



1,1



0,0



5,4



Số lượng



54



45



111



41



10



261



100,0



100,0



100,0



100,0



100,0



100,0



20,7



17,2



42,5



15,7



3,8



100,0



Tổng



% với Q14.2

% Tổng



Nguồn: Số liệu điều tra các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu

Chiến lược, Chính sách Cơng Thương, Bộ Công Thương

Mặt khác, hoạt động nghiên cứu phát triển thị trường xuất khẩu ở Việt Nam cần

sự đầu tư lớn cả về mặt tài chính và nhân lực để có được kết quả tổng quát về thị

trường xuất khẩu nên các doanh nghiệp khó có thể đáp ứng được trong điều kiện thực

tế hiện nay. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp đều cho rằng đây là hoạt động cần

thiết phải làm nếu muốn xuất khẩu bền vững và có chỗ đứng vững chắc trên thị trường

nên các doanh nghiệp cho rằng sẽ tiếp tục duy trì hoạt động này và nếu có điều kiện sẽ

dành nhiều kinh phí hơn để có được kết quả xuất khẩu tốt nhất.

d/ Một số kết quả điều tra về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra cho thấy, có 220 doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp, 85 doanh

nghiệp mua qua trung gian nhập khẩu, 104 doanh nghiệp mua qua thương lái và 147

doanh nghiệp trực tiếp tổ chức thu mua, ngồi ra còn một số hình thức khác như gia

cơng cho thương nhân nước ngồi, nhập ngun liệu theo chỉ định…

Đối với phương thức nhập khẩu trực tiếp nguyên vật liệu, số liệu điều tra cho

thấy có 220/295 doanh nghiệp thu mua nguyên vật liệu theo hình thức này chứng tỏ

đây là phương thức khá phổ biến đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa tại Việt

Nam. Đặc biệt là có đến 106/295 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lựa chọn



90

phương thức này, chiếm 48,2%. Ngoài ra, số lượng doanh nghiệp cổ phần và doanh

nghiệp tư nhân nhập khẩu trực tiếp nguyên vật liệu sản xuất cũng khá cao, lần lượt là

67 và 36 doanh nghiệp, chiếm 30,5% và 16,4%, Mặc dù chỉ có 4 doanh nghiệp nhà

nước tham gia điều tra nhưng cũng đã có 3 doanh nghiệp chọn đầu tư vào phương thức

này vì đây là cách hiệu quả nhất để có nguồn nguyên vật liệu chất lượng, đúng tiêu

chuẩn.

Đối với hình thức mua nguyên vật liệu qua trung gian nhập khẩu, do đây là hình

thức ít nhiều có chịu rủi ro khi phải phụ thuộc vào bên thứ ba nên chỉ có 85/224 doanh

nghiệp lựa chọn. Trong số các doanh nghiệp tham gia điều tra, số lượng các đơn vị

không chọn phương thức này gấp 2 lần số lượng doanh nghiệp lựa chọn đối với tất cả

các loại hình doanh nghiệp, trừ doanh nghiệp nhà nước. Kết quả điều tra cho thấy

trong số 3 doanh nghiệp nhà nước trả lời, có 2 doanh nghiệp chọn mua qua trung gian

nhập khẩu và chỉ có 1 doanh nghiệp khơng lựa chọn phương thức này. Lý do là vì các

doanh nghiệp nhà nước là các đơn vị đã có thâm niên hoạt động trên thị trường và hoạt

động khá ổn định nên đã lựa chọn được các nhà trung gian nhập khẩu uy tín và chất

lượng. Đây còn là hình thức mua ngun vật liệu tiết kiệm được khá nhiều thời gian

của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cổ

phẩn hay tư nhân, việc lựa chọn mua nguyên vật liệu qua trung gian nhập khẩu lại tiềm

ẩn nhiều rủi ro và tốn nhiều chi phí.

Đối với hình thức mua qua người thu mua (thương lái), số lượng doanh nghiệp

lựa chọn hình thức này là 104/232 doanh nghiệp, chiếm 44,8%. Số liệu điều tra khảo

sát từ 232 doanh nghiệp chỉ ra rằng trong khi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,

doanh nghiệp tư nhân hay các doanh nghiệp hoạt động theo loại hình khác khơng ưa

chuộng phương thức thu mua này thì doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp cổ phần

lại chọn,cụ thể, có 6/7 doanh nghiệp nhà nước và 39/67 doanh nghiệp cổ phần thu mua

nguyên vật liệu sản xuất theo hình thức này. Trong số 39 doanh nghiệp cổ phần lựa

chọn hình thức mua qua người thu mua, hầu hết trong số đó là các cơng ty nhà nước

trước đây đã cổ phần hóa, có sẵn mối quan hệ trung gian nhập khẩu nguyên vật liệu

nên đây được coi là hình thức tiết kiệm thời gian mà vẫn có được nguồn nguyên liệu

đầu vào đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng.

Bên cạnh các hình thức trên, rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa tại Việt

Nam hiện nay lựa chọn phương thức trực tiếp tổ chức thu mua nguyên vật liệu phục vụ

sản xuất hàng xuất khẩu. Cụ thể, có 147/242 doanh nghiệp lựa chọn hình thức này và ở

hầu hết các loại hình doanh nghiệp. Đặc biệt 100% doanh nghiệp nhà nước tham gia

điều tra đều lựa chọn phương thức trực tiếp tổ chức thu mua. Ngồi ra, cũng có 53/73

doanh nghiệp cổ phần và 50/67 doanh nghiệp tư nhân cũng sử dụng hình thức mua



91

nguyên vật liệu này vì họ cho rằng đây là hình thức giúp doanh nghiệp sàng lọc được

kỹ càng nguồn nguyên liệu đầu vào nhằm tăng chất lượng cho các sản phẩm xuất

khẩu. Mặt khác, việc tự tổ chức thu mua sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí, tuy rằng hơi

mất thời gian cho khâu tìm kiếm và lựa chọn ban đầu. Trong số các loại hình doanh

nghiệp tham gia khảo sát, chỉ có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi khơng thu

mua ngun vật liệu theo hình thức này (51/80 doanh nghiệp). Các doanh nghiệp này

thường lựa chọn phương thức nhập khẩu trực tiếp để có được chất lượng hàng hóa ở

mức cao nhất tuy rằng giá thành cao hơn các phương thức còn lại,

e/ Một số kết quả điều tra về vận chuyển hàng xuất khẩu của

doanh nghiệp

Đối với khâu vận chuyển hàng hóa xuất khẩu, có đến 91,3% doanh nghiệp

(tương đương với 335/367 doanh nghiệp) xác nhận có sử dụng phương thức th

ngồi, trong đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi là những đơn vị sử dụng

phương thức này nhiều nhất, 132/139 doanh nghiệp sử dụng. Ngoài ra, hầu hết các

doanh nghiệp cổ phần và doanh nghiệp tư nhân cũng đều thuê ngoài trong khâu vận

chuyển hàng hóa, lần lượt là 99/108 và 81/03 doanh nghiệp có sử dụng. Đặc biệt, trong

số 8 doanh nghiệp nhà nước tham gia trả lời khảo sát, cả 8 doanh nghiệp này đều chọn

phương án thuê ngoài để vận chuyển hàng hóa xuất khẩu. Theo ý kiến của các doanh

nghiệp này, việc th các cơng ty ngồi trong khâu vận chuyển hàng hóa xuất khẩu sẽ

giúp doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều thời gian và chi phí, hơn nữa các công ty

chuyên vận chuyển được đầu tư các máy móc thiết bị chuyên dụng giúp hàng hóa

được đóng gói và vận chuyển chuyên nghiệp, đảm bảo an toàn và thời gian vận chuyển

hàng.

Bảng 2.21. Thực trạng vận chuyển và bảo quản nguyên vật liệu,

hàng hóa xuất khẩu

Vận chuyển

Kho cất giữ, bảo

hàng hóa

quản hàng hóa

Thành phần kinh tế

Tổng

Tổng



Khơng



Khơng

Số lượng



8



0



8



4



3



7



Vận

DN

chuyển

nhà nước hàng hóa



2,4%



0,0%



2,2%



3,6%



1,5%



2,2%



% Tổng



2,2%



0,0%



2,2%



1,3%



1,0%



2,2%



Số lượng



132



7



139



27



88



115



39,4%



21,9%



37,9%



24,5%



43,1%



36,6%



DN có

vốn đầu

tư nước



Vận

chuyển



92



Thành phần kinh tế



Vận chuyển

hàng hóa



Khơng



Tổng



Kho cất giữ, bảo

quản hàng hóa



Khơng



Tổng



hàng hóa

ngồi



DN

cổ phần



DN

tư nhân



Loại

hình

khác



Tổng



% Tổng



36,0%



1,9%



37,9%



8,6%



28,0%



36,6%



Số lượng



99



9



108



37



56



93



Vận

chuyển

hàng hóa



29,6%



28,1%



29,4%



33,6%



27,5%



29,6%



% Tổng



27,0%



2,5%



29,4%



11,8%



17,8%



29,6%



Số lượng



81



12



93



37



45



82



Vận

chuyển

hàng hóa



24,2%



37,5%



25,3%



33,6%



22,1%



26,1%



% Tổng



22,1%



3,3%



25,3%



11,8%



14,3%



26,1%



Số lượng



15



4



19



5



12



17



Vận

chuyển

hàng hóa



4,5%



12,5%



5,2%



4,5%



5,9%



5,4%



% Tổng



4,1%



1,1%



5,2%



1,6%



3,8%



5,4%



Số lượng



335



32



367



110



204



314



Vận

chuyển

hàng hóa



100,0%



100,0% 100,0%



100,0%



100,0

%



100,0

%



91,3%



8,7% 100,0%



35,0%



65,0%



100,0

%



% Tổng



Nguồn: Số liệu điều tra các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu

Chiến lược, Chính sách Cơng Thương, Bộ Cơng Thương

Tuy nhiên, đối với việc bảo quản hàng hóa xuất khẩu, trong số 314 doanh

nghiệp tham gia khảo sát nghiên cứu, chỉ có 110 doanh nghiệp thuê ngoài đối với dịch

vụ này trong khi có đến 204 doanh nghiệp khơng sử dụng. Cụ thể, có 88 doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngồi, 56 doanh nghiệp cổ phần và 45 doanh nghiệp tư nhân nói

khơng với dịch vụ th ngồi này và số lượng các doanh nghiệp không sử dụng lớn

hơn nhiều so với số có sử dụng. Xu thế hiện nay đối với các doanh nghiệp sản xuất

hàng xuất khẩu là có sự đầu tư về kho bãi để lưu giữ và bảo quản nguyên vật liệu,

hàng hóa xuất khẩu. Điều này giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí th ngồi,



93

đồng thời chủ động hơn trong viếc xuất/ nhập kho nguyên vật liệu, hàng hóa để phục

vụ cho hoạt động sản xuất, chế biến hàng hóa xuất khẩu và lưu giữ, bảo quản hàng hóa

xuất khẩu. Các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ thuê ngoài để bảo quản, lưu giữ nguyên

vật liệu, hàng hóa phần lớn là những DN sản xuất các loại hàng hóa xuất khẩu cần điều

kiện bảo quản đặc biệt với các thiết bị chun dụng. Chính vì thế, các doanh nghiệp

này phải sử dụng dịch vụ thuê ngoài để đảm bảo an toàn và chất lượng cho hàng hóa.

f/ Kết quả điều tra về hoạt động xuất khẩu chính của các doanh nghiệp

Kết quả điều tra cho thấy, có tới 69,3% doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản

xuất và xuất khẩu, tức là, doanh nghiệp trên tiến hành thu mua nguyên vật liệu từ các

doanh nghiệp khác, đầu tư trang thiết bị máy móc để sản xuất sản phẩm hồn chỉnh,

sau đó xuất khẩu sang các thị trường trong khu vực và trên thế giới. Ngoài ra còn có

khoảng 15,7% doanh nghiệp chun thu mua hàng hóa trong nước sau đó xuất khẩu, chỉ

có 4,7% doanh nghiệp tạm nhập tái xuất khẩu và số lượng doanh nghiệp chuyên thu mua

hàng hóa bán lại cho doanh nghiệp xuất khẩu là không đáng kể (chỉ chiếm 1,2%).

9.13%



15.69%



1.17%

4.68%



DN S ản xuất và XK

DN Thu mua hàng hóa

trong nước và XK

DN Tạm nhập tái xuất

khẩu

DN Thu mua hàng hóa



69.32%

bán lại cho DNXK



DN Hoạt động khác



Hình 2.7: Các hoạt động xuất khẩu chính của doanh nghiệp

Nguồn: Số liệu điều tra các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu

Chiến lược, Chính sách Công Thương, Bộ Công Thương.

2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư phát triển xuất khẩu

hàng hóa của Việt Nam

2.3.1. Các yếu tố quốc tế

a/ Yếu tố tồn cầu hóa và hội nhập kinh tế

Sau khi gia nhập ASEAN, tham gia Hiệp định Thương mại tự do ASEAN

(AFTA) và ký kết hiệp định thương mại với Hoa kỳ vào năm 2000, Việt Nam đãtrở

thành thành viên chính thức của WTO vào năm 2007, đánh dấu một thời kỳ hội nhập

sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tiếp tục đẩy

mạnh đàm phán và ký kết các FTA với nhiều nước và khu vực trên thế giới. Từ năm



94

2015, Việt Nam đã ký kết 4 FTA với EU, Hàn Quốc, Liên minh kinh tế Á - Âu (EEC)

và TPP (nay là CPTPP). Tính đến cuối năm 2018, nước ta đã là thành viên của hơn 10

FTA có tính chất tồn cầu và khu vực, bao gồm: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN,

Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Ấn

Độ, Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản, Khu vực mậu dịch tự do ASEANHàn Quốc, Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam-Nhật Bản, Khu vực mậu dịch tự do

ASEAN-Úc/Newzealand, HIệp định thương mại Tự do Việt Nam-Chile, Khu vực mậu

dịch tự do Việt Nam-Hàn Quốc, Liên minh Kinh tế Việt Nam-Á Âu. Ngồi ra có 5

FTA đang trong quá trình đàm phán: Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EFTA,

Hiệp định Hợp tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp định thương mại tự do

ASEAN-Hồng Kông, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam-Isarel và Hiệp định

Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA). Tháng 3/2018, Hiệp định đối tác tồn diện

và tiến bộ xun Thái Bình Dương (CPTTP) đã được ký kết tại Chile với sự tham gia

của 11 nước. Cùng với EVFTA, hai hiệp định này đều là những Hiệp định tự do

thương mại có tiêu chuẩn rất cao, tác động không nhỏ đến kinh tế Việt Nam nói chung

và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước tham gia các Hiệp định thương mại

quốc tế nói riêng.

Việc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có tác động mạnh mẽ

đến mơ hình phát triển kinh tế nói chung và đầu tư phát triển xuất khẩu nói riêng của

nền kinh tế, như: Tác động một cách đáng kể đến tình hình xuất nhập khẩu và thu hút

FDI của nước ta. Trong đó, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã bằng

gần 200% so với GDP.Mặt khác, dòng vốn FDI đã trở thành động lực chính cho tăng

trưởng xuất khẩu của Việt Nam. Theo số liệu thống kê tính đến tháng 7/2017 của Bộ

Kế hoạch và Đầu tư, tổng giá trị vốn FDI đăng ký đạt 307.86 tỷ USD với 23.737 dự

án.

Bên cạnh đó, tồn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế được xem là xu thế thời

đại, nhưng những diễn biến gần đây cho thấy xu thế này đang gặp phải những trở ngại

mới. Ví dụ, việc Liên hiệp Anh rút khỏi EU, căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung

Quốc… Thực tế, năm 2018 đã chứng kiến các cuộc cạnh tranh quyết liệt về quyền lực

và tầm ảnh hưởng đối với khu vực Đông Nam Á giữa hai cường quốc là Mỹ và Trung

Quốc. Với chiến lược mang tên Ấn Độ - Thái Bình Dương, Mỹ muốn cùng liên minh

với Nhật Bản, Australia và Ấn Độ tạo lập trật tự kinh tế tại một khu vực rộng lớn, bao

phủ các nước ven biển Ấn Độ Dương, Đông Nam Á, Australia và New Zealand và lấy

2 đại dương: Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương làm trung tâm, Trong khi đó, Trung

Quốc cũng đang đẩy mạnh thu hút các nước ASEAN tham gia cuộc chơi do mình khởi

xướng, trong đó có Hiệp định Đối tác Kinh tế Tồn diện Khu vực (RCEP), Các sáng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.6: Thực trạng nghiên cứu thị trường xuất khẩu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×