Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.15: Cơ cấu mẫu điều tra theo lĩnh vực kinh doanh

Bảng 2.15: Cơ cấu mẫu điều tra theo lĩnh vực kinh doanh

Tải bản đầy đủ - 0trang

79



Doanh nghiệp



% Tổng



Giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp năm 2015

>

10 – 51 – 101 – 201 – 501– 1001–

10 tỷ

50 tỷ 100 tỷ 200 500 1,000 1,500 1,500

đồng

tỷ

tỷ

tỷ

tỷ

đồng đồng tỷ

đồng đồng đồng đồng đồng

8,1

3,5

5,8 2,0

4,3 1,4

2,0

2,9



DN



Số lượng



25



19



22



3





nhân



Loại hình

DN XK



32,9



32,8



32,8



9,4



7,2



5,5



6,4



0,9



4,3



Số lượng



8



2



2



2



Loại hình

DN XK



10,5



3,4



3,0



% Tổng



2,3



0,6



Số lượng



76



58



Loại hình

DN XK



100,

0



100,

0



% Tổng



22,0



16,8



% Tổng

Loại

hình

khác



Tổng

cộng



30,1



3



3



0



90



27,8 21,4



11,5



0,0



26,0



0,9



0,9



0,0



26,0



3



0



2



0



19



6,3



5,6



0,0



7,7



0,0



5,5



0,6



0,6



0,9



0,0



0,6



0,0



5,5



67



32



54



14



26



19



346



100, 100,

0

0



100, 100,

100,0

0

0



100,

0



100,0



19,4



15,6



5,5



100,0



9,2



15



Tổng



4,0



7,5



Nguồn: Số liệu điều tra các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu

Chiến lược, Chính sách Cơng Thương, Bộ Công Thương

b/ Một số kết quả điều tra về đầu tư của doanh nghiệp xuất khẩu

Đối với hoạt động đầu tư nghiên cứu phát triển sản phẩm xuất khẩu mới, trong

số 320 doanh nghiệp điều tra có 191/320 doanh nghiệp có đầu tư cho hoạt động phát

triển sản phẩm xuất khẩu mới và có 129/320 doanh nghiệp khơng chú trọng đầu tư cho

hoạt động này. Trong đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi và doanh nghiệp

cổ phần đầu tư cho hoạt động phát triển sản phẩm xuất khẩu mới mạnh nhất, có 71/320

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 68/320 doanh nghiệp cổ phẩn đầu tư, chiếm

trên 35%, doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc loại hình hoạt động khác

ít đầu tư vào lĩnh vực này, lý do là vì các doanh nghiệp nhà nước chủ yếu trung thành

với các sản phẩm truyền thống với các thị trường truyền thống trong khi các doanh

nghiệp thuộc loại hình khác còn đang gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm thị

trường tiềm năng với các sản phẩm xuất khẩu truyền thống nên việc phát triển thêm

một số sản phẩm xuất khẩu mới được xem là chưa cần thiết trong thời gian này,



80

Đối với hoạt động đầu tư nghiên cứu cải tiến mẫu mã và bao bì cho sản phẩm

xuất khẩu, kết quả thu được cũng tương tự như đối với hoạt động nghiên cứu phát triển

sản phẩm xuất khẩu mới. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp nhà nước và doanh

nghiệp ở các loại hình khác ít đầu tư vào hoạt động đổi mới, cải tiến mẫu mã và bao bì

cho sản phẩm xuất khẩu, chỉ có 10 doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ở các loại

hình khác có đầu tư và 14 doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ở các loại hình khác

khơng đầu tư. Đối với các loại hình doanh nghiệp còn lại, bao gồm doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp cổ phần và doanh nghiệp tư nhân, việc nghiên

cứu cải tiến mẫu mã và bao bì sản phẩm giúp các doanh nghiệp này thu hút được nhiều

khách hàng hơn và sản phẩm cũng được thị trường đánh giá cao hơn. Xu hướng tiêu

dùng hiện nay là hàng hóa khơng chỉ cần chất lượng tốt mà hình thức còn phải đẹp và

bắt mắt,chính vì thế, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, doanh nghiệp cổ

phần và tư nhân rất chú trọng đến việc nâng cao tính đa dạng của mẫu mã sản phẩm,

tăng độ nhận dạng hình ảnh của cơng ty và thương hiệu. Đặc biệt, các doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngồi rất tích cực đầu tư cho hoạt động này vì hơn ai hết họ hiểu rằng

hình ảnh người tiêu dùng nhìn thấy đầu tiên chính là hình thức, mẫu mã của sản phẩm,

thương hiệu cơng ty/doanh nghiệp sau đó mới đến chất lượng sản phẩm. Vì vậy, số

lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào nghiên cứu cải tiến mẫu mã

và bao bì sản phẩm xuất khẩu ln chiếm tỷ lệ lớn, trên 34%. Ngoài ra, các doanh

nghiệp cổ phần và doanh nghiệp tư nhân, nhất là những doanh nghiệp mới tham gia

hoạt động trên thị trường cũng ý thức được tầm quan trọng của hình thức sản phẩm

xuất khẩu,cụ thể, có 105 cơng ty cổ phần và 58 công ty tư nhân đầu tư cho lĩnh vực

này và con số này sẽ không ngừng tăng lên qua các năm khi sự cạnh tranh trên thị

trường xuất khẩu ngày càng gay gắt và nhiều khó khăn khi tiếp cận/mở rộng thị

trường.



81

Bảng 2.17. Thực trạng đầu tư nghiên cứu sản phẩm xuất khẩu mới

và cải tiến mẫu mã, bao bì sản phẩm

Đầu tư vào nghiên

Đầu tư vào

cứu đầu tư sản

cải tiến mẫu mã

Doanh nghiệp

phẩm xuất khẩu

Tổng

sản phẩm

mới



Khơng



Khơng

Số lượng

DN

nhà

nước

DN có

vốn

đầu tư

nước

ngoài



3



2



5



3



2



5



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới



1,6%



1,6%



1,6%



1,8%



1,4%



1,6%



% Tổng



0,9%



0,6%



1,6%



1,0%



0,6%



1,6%



71



51



122



69



52



121



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới



37,2%



39,5%



38,1%



40,4%



36,9%



38,8%



% Tổng



22,2%



15,9%



38,1%



22,1%



16,7%



38,8%



68



24



92



56



31



87



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới



35,6%



18,6%



28,8%



32,7%



22,0%



27,9%



% Tổng



21,3%



7,5%



28,8%



17,9%



9,9%



27,9%



Số lượng



42



41



83



36



44



80



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới



22,0%



31,8%



25,9%



21,1%



31,2%



25,6%



% Tổng



13,1%



12,8%



25,9%



11,5%



14,1%



25,6%



Số lượng



7



11



18



7



12



19



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới



3,7%



8,5%



5,6%



4,1%



8,5%



6,1%



% Tổng



2,2%



3,4%



5,6%



2,2%



3,8%



6,1%



Số lượng



191



129



320



171



141



312



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới



100,0%



100,0%



100,0

%



100,0

%



100,0

%



100,0%



% Tổng



59,7%



40,3%



100,0



54,8%



45,2%



100,0%



Số lượng



Số lượng

DN

cổ

phần



DN



nhân



Loại

hình

khác

Tổng



Tổng



82



Doanh nghiệp



Đầu tư vào nghiên

cứu đầu tư sản

phẩm xuất khẩu

mới



Khơng



Đầu tư vào

cải tiến mẫu mã

sản phẩm



Tổng







Tổng



Khơng



%

Nguồn: Số liệu điều tra các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu

Chiến lược, Chính sách Cơng Thương, Bộ Công Thương

Hoạt động đầu tư nghiên cứu khách hàng trên thị trường xuất khẩu là lĩnh vực

được nhiều doanh nghiệp quan tâm đầu tư nhất, với 219 doanh nghiệp lựa chọn trong

tổng số 323 doanh nghiệp tham gia khảo sát.

Bảng 2.18. Thực trạng đầu tư cải tiến bao bì cho sản phẩm xuất khẩu

và nghiên cứu khách hàng

Đầu tư vào cải

Đầu tư vào

tiến

bao



cho

nghiên

cứu

Tổng

Doanh nghiệp

Tổng

SPXK

khách hàng



Khơng



Khơng

Số lượng

DN

nhà nước



4



2



6



4



2



6



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới



3,2%



1,2%



2,1%



1,8%



1,9%



1,9%



% Tổng



1,4%



,7%



2,1%



1,2%



,6%



1,9%



43



65



108



69



51



120



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới



34,7%



40,1%



37,8%



31,5%



49,0%



37,2%



% Tổng



15,0%



22,7%



37,8%



21,4%



15,8%



37,2%



49



32



81



76



17



93



39,5%



19,8%



28,3%



34,7%



16,3%



28,8%



17,1%



11,2%



28,3%



23,5%



5,3%



28,8%



22



51



73



60



26



86



17,7%



31,5%



25,5%



27,4%



25,0%



26,6%



7,7%



17,8%



25,5%



18,6%



8,0%



26,6%



Số lượng

DN có vốn

đầu tư

nước ngoài



Số lượng

Nghiên cứu PT

DN cổ phần sản phẩm XK

mới

% Tổng

Số lượng

Nghiên cứu PT

DN tư nhân sản phẩm XK

mới

% Tổng



83



Doanh nghiệp



Đầu tư vào cải

tiến bao bì cho

SPXK



Khơng



Số lượng

Loại hình

khác



Tổng



6



12



18



10



8



18



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới



4,8%



7,4%



6,3%



4,6%



7,7%



5,6%



% Tổng



2,1%



4,2%



6,3%



3,1%



2,5%



5,6%



124



162



286



219



104



323



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới



100,0

%



100,0

%



100,0

%



100,0

100,0%

%



100,0

%



% Tổng



43,4%



56,6%



100,0

%



Số lượng

Tổng



Tổng



Đầu tư vào

nghiên cứu

khách hàng



Khơng



67,8%



32,2%



100,0

%



Nguồn: Số liệu điều tra các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu

Chiến lược, Chính sách Công Thương, Bộ Công Thương

Hầu hết các doanh nghiệp đều có hoạt động đầu tư nghiên cứu khách hàng,

trong đó công ty cổ phần chiếm số lượng lớn nhất với 76/219 doanh nghiệp, chiếm

34,7%. Tiếp theo là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân

với lần lượt 69/219 và 60/219 doanh nghiệp lựa chọn, tương ứng với 31,5% và 27,4%.

Mặc dù chỉ có 6 doanh nghiệp nhà nước tham gia trả lời câu hỏi này nhưng trong số đó

cũng có đến 4 doanh nghiệp lựa chọn đầu tư cho hoạt động nghiên cứu về khách hàng

trên thị trường xuất khẩu. Các chỉ số này chỉ ra rằng đây là lĩnh vực đầu tư được nhiều

doanh nghiệp quan tâm bởi thị trường xuất khẩu ngày càng đa dạng và phong phú với

nhiều mặt hàng khác nhau, nhưng chỉ có những sản phẩm đáp ứng đúng nhu cầu của

khách hàng (về chất lượng, giá cả, mẫu mã…) mới có thể tồn tại và phát triển. Do vậy,

hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa tại Việt Nam đều dành một phần vốn đầu

tư của mình cho hoạt động nghiên cứu này để hiểu đối tượng tiêu dùng sản phẩm: thị

hiếu, nhu cầu, thói quen mua sắm…

Hoạt động đầu tư nghiên cứu kênh xuất khẩu của các doanh nghiệp:Qua điều

tra có 144/287 doanh nghiệp có đầu tư cho hoạt động này, trong đó số lượng doanh

nghiệp cổ phần chiếm lớn nhất với 53/287 doanh nghiệp. Ngoài ra, kết quả thu được

cũng cho thấy các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi

cũng rất quan tâm đầu tư cho hoạt động này, lần lượt có 41/287 cà 39/287 doanh



84

nghiệp, chiếm trên 13% trong tổng số các doanh nghiệp điều tra. Đối với khối doanh

nghiệp nhà nước, có 6 doanh nghiệp tham gia điều tra, đều không đầu tư cho hoạt

động nghiên cứu về kênh xuất khẩu. Sự khác biệt về hướng đầu tư giữa doanh nghiệp

nhà nước và các doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức khác được giải thích là do các

doanh nghiệp nhà nước có thời gian hoạt động lâu dài nên có các thị trường xuất khẩu

truyền thống tương đối ổn định. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cổ phần

hay tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường chưa lâu cần tiến

hành các hoạt động nghiên cứu mở rộng thị trường, tìm ra các thị trường và đối tượng

tiêu dùng tiềm năng cũng như hình thức xuất khẩu phù hợp để tiêu thụ được hàng hóa

một cách hiệu quả nhất. Mặt khác, hướng đi cho hoạt động xuất khẩu của các doanh

nghiệp nhà nước thường theo kế hoạch đã được doanh nghiệp trình cơ quan quản lý

nhà nước thơng qua và thực hiện theo kế hoạch định sẵn nên các doanh nghiệp này

không chú trọng nghiên cứu các kênh xuất khẩu.



85

Bảng 2.19. Thực trạng đầu tư kênh xuất khẩu hàng hóa

và quảng bá sản phẩm

Đầu tư vào kênh

Đầu tư quảng

xuất khẩu của

bá SP XK

Doanh nghiệp

Tổng

DN



Khơng



Khơng

Số lượng



4



2



6



2



3



5



2,8%



1,4%



2,1%



1,5%



2,0%



1,8%



1,4%



0,7%



2,1%



,7%



1,1%



1,8%



39



69



108



27



75



102



27,1%



48,3%



37,6%



20,8%



49,0%



36,0%



13,6%



24,0%



37,6%



9,5%



26,5%



36,0%



53



28



81



56



26



82



36,8%



19,6%



28,2%



43,1%



17,0%



29,0%



18,5%



9,8%



28,2%



19,8%



9,2%



29,0%



41



35



76



38



39



77



28,5%



24,5%



26,5%



29,2%



25,5%



27,2%



14,3%



12,2%



26,5%



13,4%



13,8%



27,2%



7



9



16



7



10



17



4,9%



6,3%



5,6%



5,4%



6,5%



6,0%



% Tổng



2,4%



3,1%



5,6%



2,5%



3,5%



6,0%



Số lượng



144



143



287



130



153



283



100,0%



100,0

%



100,0

%



100,0

%



100,0

%



100,0

%



Nghiên cứu PT

DN

sản phẩm XK

nhà nước mới

% Tổng

DN có

vốn đầu

tư nước

ngồi



Số lượng

Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới

% Tổng

Số lượng



DN

cổ phần



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới

% Tổng

Số lượng



DN tư

nhân



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới

% Tổng

Số lượng



Nghiên cứu PT

Loại hình

sản phẩm XK

khác

mới

Tổng



Tổng



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới



86



Doanh nghiệp



% Tổng



Đầu tư vào kênh

xuất khẩu của

DN



Khơng

50,2%



49,8%



Tổng

100,0

%



Đầu tư quảng

bá SP XK





Khơng



45,9%



54,1%



Tổng

100,0

%



Nguồn: Số liệu điều tra các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu

Chiến lược, Chính sách Cơng Thương, Bộ Cơng Thương

Hoạt động đầu tưquảng bá sản phẩm:Trong thời đại cạnh tranh gay gắt giữa

các doanh nghiệp và sản phẩm xuất khẩu như hiện nay, đối với Việt Nam được đánh

giá là có tiềm năng, lợi thế nhưng giá trị xuất khẩu vẫn còn chưa đạt được so với kỳ

vọng và mục tiêu đề ra, hoạt động quảng bá sản phẩm xuất khẩu được coi là quan

trọng và cần thiết, giúp doanh nghiệp dễ dàng giới thiệu sản phẩm, hình ảnh và thương

hiệu của mình đến thị trường quốc tế. Nhất là khi cơng nghệ thông tin ngày càng phát

triển và trở thành một phần không thể thiếu của cuộc sống hiện đại, hoạt động quảng

bá sản phẩm xuất khẩu trở nên dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện hơn rất nhiều. Tuy

nhiên, kết quả điều tra các doanh nghiệp về tình trạng đầu tư cho hoạt động quảng bá

sản phẩm xuất khẩu chỉ ra rằng số lượng các công ty xuất khẩu hàng hóa của Việt

Nam quan tâm đến lĩnh vực này chưa nhiều, chỉ có 130/283 doanh nghiệp có đầu tư

cho hoạt động này, chiếm 45,9% và tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp cổ phần

với 56/82 doanh nghiệp, chiếm 43,1%. Đối với các doanh nghiệp hoạt động dưới các

hình thức còn lại, số lượng doanh nghiệp khơng đầu tư cho hoạt động quảng bá đều

lớn hơn số lượng có đầu tư. Đặc biệt, có đến 75/102 doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngồi quyết định khơng đầu tư cho hoạt động này, gấp 2,7 lần số lượng doanh

nghiệp có đầu tư.

Chỉ số này cho thấy rằng doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chưa thực sự nhận

thức rõ về tầm quan trọng của hoạt động quảng bá hình ảnh cơng ty và sản phẩm xuất

khẩu trên thị trường. Điều này có thể dẫn đến một số điều kiện bất lợi cho sản phẩm

xuất khẩu của nước ta khi khó cạnh tranh được với các sản phẩm mới được đầu tư

quảng cáo rầm rộ trên thị trường với nhiều ưu đãi về giá cả và chính sách xuất khẩu.

c/Một số kết quả điều tra về đánh giá của doanh nghiệp đối vớimức độ đầu tư

so với nhu cầu hiện nay

Trong3 hoạt động là nghiên cứu phát triển sản phẩm xuất khẩu, nghiên cứu phát

triển thị trường xuất khẩu và xúc tiến xuất khẩu, đa số các doanh nghiệp đều đánh giá

ở mức độ trung bình, chiếm trên 40%, và số lượng doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu



87

tư là “nhỏ” so với nhu cầu hiện nay lớn hơn số lượng doanh nghiệp đánh giá là “lớn”,

cụ thể như sau:

Đối với hoạt động đầu tư nghiên cứu phát triển sản phẩm xuất khẩu, trong tổng

số 279 doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa Việt Nam tham gia điều tra, có 129 doanh

nghiệp đánh giá mức độ đầu tư vào hoạt động này ở mức trung bình so với nhu cầu đặt

ra hiện nay. Đối với từng loại hình thức doanh nghiệp, số lượng các doanh nghiệp

đánh giá ở mức độ trung bình chiếm đa số, điều này cho thấy các doanh nghiệp đã cân

nhắc và phân chia nguồn vốn đầu tư một cách phù hợp cho hoạt động nghiên cứu phát

triển sản phẩm xuất khẩu. Thực tế cho thấy số lượng lớn doanh nghiệp xuất khẩu Việt

Nam đều mới thành lập và có giá trị xuất khẩu chưa cao nên việc đầu tư cho hoạt động

nghiên cứu phát triển sản phẩm ở phạm vi nhỏ là phù hợp vào thời điểm hiện tại.

Chính vì thế, chỉ có 32/279 doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư của họ cho hoạt

động này là “lớn” và 10 doanh nghiệp đánh giá “quá lớn”, lần lượt chiếm 11,5% và

3,6%. Trong số 32 doanh nghiệp đó, có đến 16 doanh nghiệp cổ phần chi số tiền lớn để

phát triển sản phẩm xuất khẩu nhằm tăng hiệu quả hoạt động cho đơn vị mình, chiếm

5,7%. Đây cũng là loại hình doanh nghiệp hoạt động tích cực nhất trong lĩnh vực xuất

khẩu. Ngược lại, trong số 4 doanh nghiệp nhà nước tham gia khảo sát, có 2 doanh

nghiệp đánh giá mức độ đầu tư ở mức “trung bình” và 2 doanh nghiệp còn lại đánh

giá ở mức độ “quá nhỏ” so với nhu cầu thị trường xuất khẩu đặt ra hiện nay, Con số

này cho thấy các doanh nghiệp nhà nước cần phải đầu tư nhiều hơn vào việc cải tiến

sản phẩm, nâng cao chất lượng để tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh.

Đối với hoạt động đầu tư nghiên cứu phát triển thị trường xuất khẩu, số liệu

điều tra từ 274 doanh nghiệp chỉ ra rằng các đơn vị đang thận trọng trong việc đầu tư

cho hoạt động nghiên cứu phát triển và mở rộng thị trường.

15.30%



16.80%

3.30%

Qúa nhỏ

17.20%

Nhỏ

Trung bình

Lớn



47.40%



Quá lớn



Hình 2.6: Thực trạng nghiên cứu thị trường xuất khẩu



88

Nguồn: Số liệu điều tra các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu

Chiến lược, Chính sách Cơng Thương, Bộ Cơng Thương

Cụ thể, có 130/274 doanh nghiệp đánh giá thực trạng đầu tư ở mức độ ‘trung

bình” so với nhu cầu hiện nay, chiếm 47,4%, 51 doanh nghiệp nhận định mức đầu tư

này lớn hơn nhu cầu thị trường, chiếm 18,6% và có 93 doanh nghiệp cho rằng mức độ

đầu tư này là nhỏ so với nhu cầu hiện nay, chiếm 34%.

Như vậy, khơng tính số doanh nghiệp đánh giá mức độ “trung bình”, kết quả

trên cho thấy số lượng doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư “nhỏ” đang gấp đôi số

lượng doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư “lớn” so với nhu cầu đặt ra, trong đó chủ

yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, doanh nghiệp cổ phần và doanh

nghiệp tư nhân. Nguyên nhân chủ yếu các doanh nghiệp đưa ra là do ảnh hưởng của

khủng hoảng kinh tế nên các doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí cho các hoạt động bổ

trợ, chỉ tập trung cho hoạt động sản xuất hàng hóa xuất khẩu.

Hoạt động đầu tư xúc tiến xuất khẩu cũng có số lượng doanh nghiệp đánh giá

“trung bình” nhiều nhất với 111/261 doanh nghiệp, chiếm 42,5%, số lượng đánh giá

mức đầu tư “nhỏ” và “quá nhỏ” so với nhu cầu hiện nay là 99/261 doanh nghiệp,

chiếm 37,9% trong khi chỉ có 51/261 doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư “lớn” và

“quá lớn”, chiếm 19,5%. Số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia

điều tra là lớn nhất với 91/261 doanh nghiệp, trong đó có 43 doanh nghiệp đánh giá

mức độ đầu tư trung bình, 31 doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư là “nhỏ” và có 17

doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư là “lớn”. Hai hình thức doanh nghiệp khác là

doanh nghiệp cổ phần và doanh nghiệp tư nhân cũng có tỷ lệ lựa chọn tương tự, 2/3 số

doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động xúc tiến xuất khẩu là nhỏ và chỉ có 1/3 số doanh

nghiệp đầu tư lớn cho hoạt động này.

Bảng 2.20. Thực trạng đầu tư nghiên cứu xúc tiến xuất khẩu hàng hóa

Doanh nghiệp

DN



Số lượng



nhà

nước

DN có



Nghiên cứu xúc tiến xuất khẩu

Trung

Nhỏ

Lớn Quá lớn

bình



Quá

nhỏ



Tổng



2



0



2



0



0



4



% với Q14.2



3,7



0,0



1,8



0,0



0,0



1,5



% Tổng



0,8



0,0



0,8



0,0



0,0



1,5



Số lượng



14



17



43



16



1



91



25,9



37,8



38,7



39,0



10,0



34,9



5,4



6,5



16,5



6,1



0,4



34,9



vốn đầu % với Q14.2

tư nước % Tổng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.15: Cơ cấu mẫu điều tra theo lĩnh vực kinh doanh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×