Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
và quảng bá sản phẩm

và quảng bá sản phẩm

Tải bản đầy đủ - 0trang

86



Doanh nghiệp



% Tổng



Đầu tư vào kênh

xuất khẩu của

DN



Khơng

50,2%



49,8%



Tổng

100,0

%



Đầu tư quảng

bá SP XK





Khơng



45,9%



54,1%



Tổng

100,0

%



Nguồn: Số liệu điều tra các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu

Chiến lược, Chính sách Cơng Thương, Bộ Công Thương

Hoạt động đầu tưquảng bá sản phẩm:Trong thời đại cạnh tranh gay gắt giữa

các doanh nghiệp và sản phẩm xuất khẩu như hiện nay, đối với Việt Nam được đánh

giá là có tiềm năng, lợi thế nhưng giá trị xuất khẩu vẫn còn chưa đạt được so với kỳ

vọng và mục tiêu đề ra, hoạt động quảng bá sản phẩm xuất khẩu được coi là quan

trọng và cần thiết, giúp doanh nghiệp dễ dàng giới thiệu sản phẩm, hình ảnh và thương

hiệu của mình đến thị trường quốc tế. Nhất là khi công nghệ thông tin ngày càng phát

triển và trở thành một phần không thể thiếu của cuộc sống hiện đại, hoạt động quảng

bá sản phẩm xuất khẩu trở nên dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện hơn rất nhiều. Tuy

nhiên, kết quả điều tra các doanh nghiệp về tình trạng đầu tư cho hoạt động quảng bá

sản phẩm xuất khẩu chỉ ra rằng số lượng các cơng ty xuất khẩu hàng hóa của Việt

Nam quan tâm đến lĩnh vực này chưa nhiều, chỉ có 130/283 doanh nghiệp có đầu tư

cho hoạt động này, chiếm 45,9% và tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp cổ phần

với 56/82 doanh nghiệp, chiếm 43,1%. Đối với các doanh nghiệp hoạt động dưới các

hình thức còn lại, số lượng doanh nghiệp không đầu tư cho hoạt động quảng bá đều

lớn hơn số lượng có đầu tư. Đặc biệt, có đến 75/102 doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngồi quyết định không đầu tư cho hoạt động này, gấp 2,7 lần số lượng doanh

nghiệp có đầu tư.

Chỉ số này cho thấy rằng doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chưa thực sự nhận

thức rõ về tầm quan trọng của hoạt động quảng bá hình ảnh cơng ty và sản phẩm xuất

khẩu trên thị trường. Điều này có thể dẫn đến một số điều kiện bất lợi cho sản phẩm

xuất khẩu của nước ta khi khó cạnh tranh được với các sản phẩm mới được đầu tư

quảng cáo rầm rộ trên thị trường với nhiều ưu đãi về giá cả và chính sách xuất khẩu.

c/Một số kết quả điều tra về đánh giá của doanh nghiệp đối vớimức độ đầu tư

so với nhu cầu hiện nay

Trong3 hoạt động là nghiên cứu phát triển sản phẩm xuất khẩu, nghiên cứu phát

triển thị trường xuất khẩu và xúc tiến xuất khẩu, đa số các doanh nghiệp đều đánh giá

ở mức độ trung bình, chiếm trên 40%, và số lượng doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu



87

tư là “nhỏ” so với nhu cầu hiện nay lớn hơn số lượng doanh nghiệp đánh giá là “lớn”,

cụ thể như sau:

Đối với hoạt động đầu tư nghiên cứu phát triển sản phẩm xuất khẩu, trong tổng

số 279 doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa Việt Nam tham gia điều tra, có 129 doanh

nghiệp đánh giá mức độ đầu tư vào hoạt động này ở mức trung bình so với nhu cầu đặt

ra hiện nay. Đối với từng loại hình thức doanh nghiệp, số lượng các doanh nghiệp

đánh giá ở mức độ trung bình chiếm đa số, điều này cho thấy các doanh nghiệp đã cân

nhắc và phân chia nguồn vốn đầu tư một cách phù hợp cho hoạt động nghiên cứu phát

triển sản phẩm xuất khẩu. Thực tế cho thấy số lượng lớn doanh nghiệp xuất khẩu Việt

Nam đều mới thành lập và có giá trị xuất khẩu chưa cao nên việc đầu tư cho hoạt động

nghiên cứu phát triển sản phẩm ở phạm vi nhỏ là phù hợp vào thời điểm hiện tại.

Chính vì thế, chỉ có 32/279 doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư của họ cho hoạt

động này là “lớn” và 10 doanh nghiệp đánh giá “quá lớn”, lần lượt chiếm 11,5% và

3,6%. Trong số 32 doanh nghiệp đó, có đến 16 doanh nghiệp cổ phần chi số tiền lớn để

phát triển sản phẩm xuất khẩu nhằm tăng hiệu quả hoạt động cho đơn vị mình, chiếm

5,7%. Đây cũng là loại hình doanh nghiệp hoạt động tích cực nhất trong lĩnh vực xuất

khẩu. Ngược lại, trong số 4 doanh nghiệp nhà nước tham gia khảo sát, có 2 doanh

nghiệp đánh giá mức độ đầu tư ở mức “trung bình” và 2 doanh nghiệp còn lại đánh

giá ở mức độ “quá nhỏ” so với nhu cầu thị trường xuất khẩu đặt ra hiện nay, Con số

này cho thấy các doanh nghiệp nhà nước cần phải đầu tư nhiều hơn vào việc cải tiến

sản phẩm, nâng cao chất lượng để tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh.

Đối với hoạt động đầu tư nghiên cứu phát triển thị trường xuất khẩu, số liệu

điều tra từ 274 doanh nghiệp chỉ ra rằng các đơn vị đang thận trọng trong việc đầu tư

cho hoạt động nghiên cứu phát triển và mở rộng thị trường.

15.30%



16.80%

3.30%

Qúa nhỏ

17.20%

Nhỏ

Trung bình

Lớn



47.40%



Quá lớn



Hình 2.6: Thực trạng nghiên cứu thị trường xuất khẩu



88

Nguồn: Số liệu điều tra các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu

Chiến lược, Chính sách Cơng Thương, Bộ Cơng Thương

Cụ thể, có 130/274 doanh nghiệp đánh giá thực trạng đầu tư ở mức độ ‘trung

bình” so với nhu cầu hiện nay, chiếm 47,4%, 51 doanh nghiệp nhận định mức đầu tư

này lớn hơn nhu cầu thị trường, chiếm 18,6% và có 93 doanh nghiệp cho rằng mức độ

đầu tư này là nhỏ so với nhu cầu hiện nay, chiếm 34%.

Như vậy, khơng tính số doanh nghiệp đánh giá mức độ “trung bình”, kết quả

trên cho thấy số lượng doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư “nhỏ” đang gấp đôi số

lượng doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư “lớn” so với nhu cầu đặt ra, trong đó chủ

yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp cổ phần và doanh

nghiệp tư nhân. Nguyên nhân chủ yếu các doanh nghiệp đưa ra là do ảnh hưởng của

khủng hoảng kinh tế nên các doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí cho các hoạt động bổ

trợ, chỉ tập trung cho hoạt động sản xuất hàng hóa xuất khẩu.

Hoạt động đầu tư xúc tiến xuất khẩu cũng có số lượng doanh nghiệp đánh giá

“trung bình” nhiều nhất với 111/261 doanh nghiệp, chiếm 42,5%, số lượng đánh giá

mức đầu tư “nhỏ” và “quá nhỏ” so với nhu cầu hiện nay là 99/261 doanh nghiệp,

chiếm 37,9% trong khi chỉ có 51/261 doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư “lớn” và

“quá lớn”, chiếm 19,5%. Số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi tham gia

điều tra là lớn nhất với 91/261 doanh nghiệp, trong đó có 43 doanh nghiệp đánh giá

mức độ đầu tư trung bình, 31 doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư là “nhỏ” và có 17

doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu tư là “lớn”. Hai hình thức doanh nghiệp khác là

doanh nghiệp cổ phần và doanh nghiệp tư nhân cũng có tỷ lệ lựa chọn tương tự, 2/3 số

doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động xúc tiến xuất khẩu là nhỏ và chỉ có 1/3 số doanh

nghiệp đầu tư lớn cho hoạt động này.

Bảng 2.20. Thực trạng đầu tư nghiên cứu xúc tiến xuất khẩu hàng hóa

Doanh nghiệp

DN



Số lượng



nhà

nước

DN có



Nghiên cứu xúc tiến xuất khẩu

Trung

Nhỏ

Lớn Q lớn

bình



Q

nhỏ



Tổng



2



0



2



0



0



4



% với Q14.2



3,7



0,0



1,8



0,0



0,0



1,5



% Tổng



0,8



0,0



0,8



0,0



0,0



1,5



Số lượng



14



17



43



16



1



91



25,9



37,8



38,7



39,0



10,0



34,9



5,4



6,5



16,5



6,1



0,4



34,9



vốn đầu % với Q14.2

tư nước % Tổng



89



Doanh nghiệp



ngoài

DN



Số lượng

% với Q14.2



cổ phần % Tổng

DN



Số lượng

% với Q14.2



tư nhân % Tổng



Nghiên cứu xúc tiến xuất khẩu

Trung

Nhỏ

Lớn Quá lớn

bình



Quá

nhỏ



Tổng



16



15



35



9



6



81



29,6



33,3



31,5



22,0



60,0



31,0



6,1



5,7



13,4



3,4



2,3



31,0



17



11



27



13



3



71



31,5



24,4



24,3



31,7



30,0



27,2



6,5



4,2



10,3



5,0



1,1



27,2



5



2



4



3



0



14



Loại



Số lượng



hình



% với Q14.2



9,3



4,4



3,6



7,3



0,0



5,4



khác



% Tổng



1,9



0,8



1,5



1,1



0,0



5,4



Số lượng



54



45



111



41



10



261



100,0



100,0



100,0



100,0



100,0



100,0



20,7



17,2



42,5



15,7



3,8



100,0



Tổng



% với Q14.2

% Tổng



Nguồn: Số liệu điều tra các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu

Chiến lược, Chính sách Cơng Thương, Bộ Cơng Thương

Mặt khác, hoạt động nghiên cứu phát triển thị trường xuất khẩu ở Việt Nam cần

sự đầu tư lớn cả về mặt tài chính và nhân lực để có được kết quả tổng quát về thị

trường xuất khẩu nên các doanh nghiệp khó có thể đáp ứng được trong điều kiện thực

tế hiện nay. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp đều cho rằng đây là hoạt động cần

thiết phải làm nếu muốn xuất khẩu bền vững và có chỗ đứng vững chắc trên thị trường

nên các doanh nghiệp cho rằng sẽ tiếp tục duy trì hoạt động này và nếu có điều kiện sẽ

dành nhiều kinh phí hơn để có được kết quả xuất khẩu tốt nhất.

d/ Một số kết quả điều tra về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra cho thấy, có 220 doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp, 85 doanh

nghiệp mua qua trung gian nhập khẩu, 104 doanh nghiệp mua qua thương lái và 147

doanh nghiệp trực tiếp tổ chức thu mua, ngồi ra còn một số hình thức khác như gia

cơng cho thương nhân nước ngoài, nhập nguyên liệu theo chỉ định…

Đối với phương thức nhập khẩu trực tiếp nguyên vật liệu, số liệu điều tra cho

thấy có 220/295 doanh nghiệp thu mua nguyên vật liệu theo hình thức này chứng tỏ

đây là phương thức khá phổ biến đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa tại Việt

Nam. Đặc biệt là có đến 106/295 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi lựa chọn



90

phương thức này, chiếm 48,2%. Ngoài ra, số lượng doanh nghiệp cổ phần và doanh

nghiệp tư nhân nhập khẩu trực tiếp nguyên vật liệu sản xuất cũng khá cao, lần lượt là

67 và 36 doanh nghiệp, chiếm 30,5% và 16,4%, Mặc dù chỉ có 4 doanh nghiệp nhà

nước tham gia điều tra nhưng cũng đã có 3 doanh nghiệp chọn đầu tư vào phương thức

này vì đây là cách hiệu quả nhất để có nguồn nguyên vật liệu chất lượng, đúng tiêu

chuẩn.

Đối với hình thức mua nguyên vật liệu qua trung gian nhập khẩu, do đây là hình

thức ít nhiều có chịu rủi ro khi phải phụ thuộc vào bên thứ ba nên chỉ có 85/224 doanh

nghiệp lựa chọn. Trong số các doanh nghiệp tham gia điều tra, số lượng các đơn vị

không chọn phương thức này gấp 2 lần số lượng doanh nghiệp lựa chọn đối với tất cả

các loại hình doanh nghiệp, trừ doanh nghiệp nhà nước. Kết quả điều tra cho thấy

trong số 3 doanh nghiệp nhà nước trả lời, có 2 doanh nghiệp chọn mua qua trung gian

nhập khẩu và chỉ có 1 doanh nghiệp khơng lựa chọn phương thức này. Lý do là vì các

doanh nghiệp nhà nước là các đơn vị đã có thâm niên hoạt động trên thị trường và hoạt

động khá ổn định nên đã lựa chọn được các nhà trung gian nhập khẩu uy tín và chất

lượng. Đây còn là hình thức mua nguyên vật liệu tiết kiệm được khá nhiều thời gian

của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, cổ

phẩn hay tư nhân, việc lựa chọn mua nguyên vật liệu qua trung gian nhập khẩu lại tiềm

ẩn nhiều rủi ro và tốn nhiều chi phí.

Đối với hình thức mua qua người thu mua (thương lái), số lượng doanh nghiệp

lựa chọn hình thức này là 104/232 doanh nghiệp, chiếm 44,8%. Số liệu điều tra khảo

sát từ 232 doanh nghiệp chỉ ra rằng trong khi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi,

doanh nghiệp tư nhân hay các doanh nghiệp hoạt động theo loại hình khác khơng ưa

chuộng phương thức thu mua này thì doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp cổ phần

lại chọn,cụ thể, có 6/7 doanh nghiệp nhà nước và 39/67 doanh nghiệp cổ phần thu mua

nguyên vật liệu sản xuất theo hình thức này. Trong số 39 doanh nghiệp cổ phần lựa

chọn hình thức mua qua người thu mua, hầu hết trong số đó là các cơng ty nhà nước

trước đây đã cổ phần hóa, có sẵn mối quan hệ trung gian nhập khẩu nguyên vật liệu

nên đây được coi là hình thức tiết kiệm thời gian mà vẫn có được nguồn nguyên liệu

đầu vào đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng.

Bên cạnh các hình thức trên, rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa tại Việt

Nam hiện nay lựa chọn phương thức trực tiếp tổ chức thu mua nguyên vật liệu phục vụ

sản xuất hàng xuất khẩu. Cụ thể, có 147/242 doanh nghiệp lựa chọn hình thức này và ở

hầu hết các loại hình doanh nghiệp. Đặc biệt 100% doanh nghiệp nhà nước tham gia

điều tra đều lựa chọn phương thức trực tiếp tổ chức thu mua. Ngồi ra, cũng có 53/73

doanh nghiệp cổ phần và 50/67 doanh nghiệp tư nhân cũng sử dụng hình thức mua



91

nguyên vật liệu này vì họ cho rằng đây là hình thức giúp doanh nghiệp sàng lọc được

kỹ càng nguồn nguyên liệu đầu vào nhằm tăng chất lượng cho các sản phẩm xuất

khẩu. Mặt khác, việc tự tổ chức thu mua sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí, tuy rằng hơi

mất thời gian cho khâu tìm kiếm và lựa chọn ban đầu. Trong số các loại hình doanh

nghiệp tham gia khảo sát, chỉ có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi khơng thu

mua ngun vật liệu theo hình thức này (51/80 doanh nghiệp). Các doanh nghiệp này

thường lựa chọn phương thức nhập khẩu trực tiếp để có được chất lượng hàng hóa ở

mức cao nhất tuy rằng giá thành cao hơn các phương thức còn lại,

e/ Một số kết quả điều tra về vận chuyển hàng xuất khẩu của

doanh nghiệp

Đối với khâu vận chuyển hàng hóa xuất khẩu, có đến 91,3% doanh nghiệp

(tương đương với 335/367 doanh nghiệp) xác nhận có sử dụng phương thức th

ngồi, trong đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là những đơn vị sử dụng

phương thức này nhiều nhất, 132/139 doanh nghiệp sử dụng. Ngoài ra, hầu hết các

doanh nghiệp cổ phần và doanh nghiệp tư nhân cũng đều th ngồi trong khâu vận

chuyển hàng hóa, lần lượt là 99/108 và 81/03 doanh nghiệp có sử dụng. Đặc biệt, trong

số 8 doanh nghiệp nhà nước tham gia trả lời khảo sát, cả 8 doanh nghiệp này đều chọn

phương án th ngồi để vận chuyển hàng hóa xuất khẩu. Theo ý kiến của các doanh

nghiệp này, việc thuê các cơng ty ngồi trong khâu vận chuyển hàng hóa xuất khẩu sẽ

giúp doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều thời gian và chi phí, hơn nữa các cơng ty

chun vận chuyển được đầu tư các máy móc thiết bị chuyên dụng giúp hàng hóa

được đóng gói và vận chuyển chuyên nghiệp, đảm bảo an toàn và thời gian vận chuyển

hàng.

Bảng 2.21. Thực trạng vận chuyển và bảo quản nguyên vật liệu,

hàng hóa xuất khẩu

Vận chuyển

Kho cất giữ, bảo

hàng hóa

quản hàng hóa

Thành phần kinh tế

Tổng

Tổng



Khơng



Khơng

Số lượng



8



0



8



4



3



7



Vận

DN

chuyển

nhà nước hàng hóa



2,4%



0,0%



2,2%



3,6%



1,5%



2,2%



% Tổng



2,2%



0,0%



2,2%



1,3%



1,0%



2,2%



Số lượng



132



7



139



27



88



115



39,4%



21,9%



37,9%



24,5%



43,1%



36,6%



DN có

vốn đầu

tư nước



Vận

chuyển



92



Thành phần kinh tế



Vận chuyển

hàng hóa



Khơng



Tổng



Kho cất giữ, bảo

quản hàng hóa



Khơng



Tổng



hàng hóa

ngồi



DN

cổ phần



DN

tư nhân



Loại

hình

khác



Tổng



% Tổng



36,0%



1,9%



37,9%



8,6%



28,0%



36,6%



Số lượng



99



9



108



37



56



93



Vận

chuyển

hàng hóa



29,6%



28,1%



29,4%



33,6%



27,5%



29,6%



% Tổng



27,0%



2,5%



29,4%



11,8%



17,8%



29,6%



Số lượng



81



12



93



37



45



82



Vận

chuyển

hàng hóa



24,2%



37,5%



25,3%



33,6%



22,1%



26,1%



% Tổng



22,1%



3,3%



25,3%



11,8%



14,3%



26,1%



Số lượng



15



4



19



5



12



17



Vận

chuyển

hàng hóa



4,5%



12,5%



5,2%



4,5%



5,9%



5,4%



% Tổng



4,1%



1,1%



5,2%



1,6%



3,8%



5,4%



Số lượng



335



32



367



110



204



314



Vận

chuyển

hàng hóa



100,0%



100,0% 100,0%



100,0%



100,0

%



100,0

%



91,3%



8,7% 100,0%



35,0%



65,0%



100,0

%



% Tổng



Nguồn: Số liệu điều tra các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu

Chiến lược, Chính sách Cơng Thương, Bộ Cơng Thương

Tuy nhiên, đối với việc bảo quản hàng hóa xuất khẩu, trong số 314 doanh

nghiệp tham gia khảo sát nghiên cứu, chỉ có 110 doanh nghiệp th ngồi đối với dịch

vụ này trong khi có đến 204 doanh nghiệp khơng sử dụng. Cụ thể, có 88 doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài, 56 doanh nghiệp cổ phần và 45 doanh nghiệp tư nhân nói

khơng với dịch vụ th ngồi này và số lượng các doanh nghiệp khơng sử dụng lớn

hơn nhiều so với số có sử dụng. Xu thế hiện nay đối với các doanh nghiệp sản xuất

hàng xuất khẩu là có sự đầu tư về kho bãi để lưu giữ và bảo quản nguyên vật liệu,

hàng hóa xuất khẩu. Điều này giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí th ngồi,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

và quảng bá sản phẩm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×