Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
và nghiên cứu khách hàng

và nghiên cứu khách hàng

Tải bản đầy đủ - 0trang

83



Doanh nghiệp



Đầu tư vào cải

tiến bao bì cho

SPXK



Khơng



Số lượng

Loại hình

khác



Tổng



6



12



18



10



8



18



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới



4,8%



7,4%



6,3%



4,6%



7,7%



5,6%



% Tổng



2,1%



4,2%



6,3%



3,1%



2,5%



5,6%



124



162



286



219



104



323



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới



100,0

%



100,0

%



100,0

%



100,0

100,0%

%



100,0

%



% Tổng



43,4%



56,6%



100,0

%



Số lượng

Tổng



Tổng



Đầu tư vào

nghiên cứu

khách hàng



Khơng



67,8%



32,2%



100,0

%



Nguồn: Số liệu điều tra các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu

Chiến lược, Chính sách Công Thương, Bộ Công Thương

Hầu hết các doanh nghiệp đều có hoạt động đầu tư nghiên cứu khách hàng,

trong đó cơng ty cổ phần chiếm số lượng lớn nhất với 76/219 doanh nghiệp, chiếm

34,7%. Tiếp theo là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi và doanh nghiệp tư nhân

với lần lượt 69/219 và 60/219 doanh nghiệp lựa chọn, tương ứng với 31,5% và 27,4%.

Mặc dù chỉ có 6 doanh nghiệp nhà nước tham gia trả lời câu hỏi này nhưng trong số đó

cũng có đến 4 doanh nghiệp lựa chọn đầu tư cho hoạt động nghiên cứu về khách hàng

trên thị trường xuất khẩu. Các chỉ số này chỉ ra rằng đây là lĩnh vực đầu tư được nhiều

doanh nghiệp quan tâm bởi thị trường xuất khẩu ngày càng đa dạng và phong phú với

nhiều mặt hàng khác nhau, nhưng chỉ có những sản phẩm đáp ứng đúng nhu cầu của

khách hàng (về chất lượng, giá cả, mẫu mã…) mới có thể tồn tại và phát triển. Do vậy,

hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa tại Việt Nam đều dành một phần vốn đầu

tư của mình cho hoạt động nghiên cứu này để hiểu đối tượng tiêu dùng sản phẩm: thị

hiếu, nhu cầu, thói quen mua sắm…

Hoạt động đầu tư nghiên cứu kênh xuất khẩu của các doanh nghiệp:Qua điều

tra có 144/287 doanh nghiệp có đầu tư cho hoạt động này, trong đó số lượng doanh

nghiệp cổ phần chiếm lớn nhất với 53/287 doanh nghiệp. Ngoài ra, kết quả thu được

cũng cho thấy các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

cũng rất quan tâm đầu tư cho hoạt động này, lần lượt có 41/287 cà 39/287 doanh



84

nghiệp, chiếm trên 13% trong tổng số các doanh nghiệp điều tra. Đối với khối doanh

nghiệp nhà nước, có 6 doanh nghiệp tham gia điều tra, đều không đầu tư cho hoạt

động nghiên cứu về kênh xuất khẩu. Sự khác biệt về hướng đầu tư giữa doanh nghiệp

nhà nước và các doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức khác được giải thích là do các

doanh nghiệp nhà nước có thời gian hoạt động lâu dài nên có các thị trường xuất khẩu

truyền thống tương đối ổn định. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cổ phần

hay tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường chưa lâu cần tiến

hành các hoạt động nghiên cứu mở rộng thị trường, tìm ra các thị trường và đối tượng

tiêu dùng tiềm năng cũng như hình thức xuất khẩu phù hợp để tiêu thụ được hàng hóa

một cách hiệu quả nhất. Mặt khác, hướng đi cho hoạt động xuất khẩu của các doanh

nghiệp nhà nước thường theo kế hoạch đã được doanh nghiệp trình cơ quan quản lý

nhà nước thơng qua và thực hiện theo kế hoạch định sẵn nên các doanh nghiệp này

không chú trọng nghiên cứu các kênh xuất khẩu.



85

Bảng 2.19. Thực trạng đầu tư kênh xuất khẩu hàng hóa

và quảng bá sản phẩm

Đầu tư vào kênh

Đầu tư quảng

xuất khẩu của

bá SP XK

Doanh nghiệp

Tổng

DN



Khơng



Khơng

Số lượng



4



2



6



2



3



5



2,8%



1,4%



2,1%



1,5%



2,0%



1,8%



1,4%



0,7%



2,1%



,7%



1,1%



1,8%



39



69



108



27



75



102



27,1%



48,3%



37,6%



20,8%



49,0%



36,0%



13,6%



24,0%



37,6%



9,5%



26,5%



36,0%



53



28



81



56



26



82



36,8%



19,6%



28,2%



43,1%



17,0%



29,0%



18,5%



9,8%



28,2%



19,8%



9,2%



29,0%



41



35



76



38



39



77



28,5%



24,5%



26,5%



29,2%



25,5%



27,2%



14,3%



12,2%



26,5%



13,4%



13,8%



27,2%



7



9



16



7



10



17



4,9%



6,3%



5,6%



5,4%



6,5%



6,0%



% Tổng



2,4%



3,1%



5,6%



2,5%



3,5%



6,0%



Số lượng



144



143



287



130



153



283



100,0%



100,0

%



100,0

%



100,0

%



100,0

%



100,0

%



Nghiên cứu PT

DN

sản phẩm XK

nhà nước mới

% Tổng

DN có

vốn đầu

tư nước

ngồi



Số lượng

Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới

% Tổng

Số lượng



DN

cổ phần



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới

% Tổng

Số lượng



DN tư

nhân



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới

% Tổng

Số lượng



Nghiên cứu PT

Loại hình

sản phẩm XK

khác

mới

Tổng



Tổng



Nghiên cứu PT

sản phẩm XK

mới



86



Doanh nghiệp



% Tổng



Đầu tư vào kênh

xuất khẩu của

DN



Khơng

50,2%



49,8%



Tổng

100,0

%



Đầu tư quảng

bá SP XK





Khơng



45,9%



54,1%



Tổng

100,0

%



Nguồn: Số liệu điều tra các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu

Chiến lược, Chính sách Cơng Thương, Bộ Cơng Thương

Hoạt động đầu tưquảng bá sản phẩm:Trong thời đại cạnh tranh gay gắt giữa

các doanh nghiệp và sản phẩm xuất khẩu như hiện nay, đối với Việt Nam được đánh

giá là có tiềm năng, lợi thế nhưng giá trị xuất khẩu vẫn còn chưa đạt được so với kỳ

vọng và mục tiêu đề ra, hoạt động quảng bá sản phẩm xuất khẩu được coi là quan

trọng và cần thiết, giúp doanh nghiệp dễ dàng giới thiệu sản phẩm, hình ảnh và thương

hiệu của mình đến thị trường quốc tế. Nhất là khi công nghệ thông tin ngày càng phát

triển và trở thành một phần không thể thiếu của cuộc sống hiện đại, hoạt động quảng

bá sản phẩm xuất khẩu trở nên dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện hơn rất nhiều. Tuy

nhiên, kết quả điều tra các doanh nghiệp về tình trạng đầu tư cho hoạt động quảng bá

sản phẩm xuất khẩu chỉ ra rằng số lượng các công ty xuất khẩu hàng hóa của Việt

Nam quan tâm đến lĩnh vực này chưa nhiều, chỉ có 130/283 doanh nghiệp có đầu tư

cho hoạt động này, chiếm 45,9% và tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp cổ phần

với 56/82 doanh nghiệp, chiếm 43,1%. Đối với các doanh nghiệp hoạt động dưới các

hình thức còn lại, số lượng doanh nghiệp khơng đầu tư cho hoạt động quảng bá đều

lớn hơn số lượng có đầu tư. Đặc biệt, có đến 75/102 doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngồi quyết định khơng đầu tư cho hoạt động này, gấp 2,7 lần số lượng doanh

nghiệp có đầu tư.

Chỉ số này cho thấy rằng doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chưa thực sự nhận

thức rõ về tầm quan trọng của hoạt động quảng bá hình ảnh cơng ty và sản phẩm xuất

khẩu trên thị trường. Điều này có thể dẫn đến một số điều kiện bất lợi cho sản phẩm

xuất khẩu của nước ta khi khó cạnh tranh được với các sản phẩm mới được đầu tư

quảng cáo rầm rộ trên thị trường với nhiều ưu đãi về giá cả và chính sách xuất khẩu.

c/Một số kết quả điều tra về đánh giá của doanh nghiệp đối vớimức độ đầu tư

so với nhu cầu hiện nay

Trong3 hoạt động là nghiên cứu phát triển sản phẩm xuất khẩu, nghiên cứu phát

triển thị trường xuất khẩu và xúc tiến xuất khẩu, đa số các doanh nghiệp đều đánh giá

ở mức độ trung bình, chiếm trên 40%, và số lượng doanh nghiệp đánh giá mức độ đầu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

và nghiên cứu khách hàng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×