Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Nguyên tắc : tách cặn bằng trọng lực.

b. Nguyên tắc : tách cặn bằng trọng lực.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đồ án môn học: Kỹ thuật xử lý nước cấp.

Thiết kế hệ thống xử lý nước mặt cấp nước sinh hoạt cho khu dân cư với công suất

3.200m3/ngày đêm

Nguyên tắc làm việc : đầu tiên nước chảy vào ống trung tâm ở giữa bể, rồi đi xuống

dưới qua bộ phận hãm là triệt tiêu chuẩn động xoáy rồi vào bể lắng. Trong bể lắng

đứng, nước chuyển động theo chiều đứng từ dưới lên trên, cặn rơi từ trên xuống đáy

bể. Nước đã lắng trong được thu vào máng vòng bố trí xung quanh thành bể và được

đưa sang bể lọc.



Hình 2.3 - Sơ đồ cấu tạo bể lắng đứng

Nguồn : internet

 Bể lắng ngang: Sử dụng khi công suất lớn hơn 3000m 3/ngày đêm đối với

trường hợp xử lý nước có phèn và áp dụng với cơng śt bất kì cho các trạm xử lý

không dùng phèn.

Nguyên lý làm việc : Nước thải đi vào vùng phân phối nước đặt ở đầu bể lắng, qua

vách phân phối, nước chuyển động đều nước vào vùng lắng, thường cấu tạo dạng

máng có lỗ.

Cấu tạo bể lắng ngang : bộ phận phân phối nước vào bể; vùng lắng cặn; hệ thống

thu nước đã lắng; hệ thống thu nước xã cặn. Có kích thước hình chữ nhật, làm bằng bê



Đồ án môn học: Kỹ thuật xử lý nước cấp.

Thiết kế hệ thống xử lý nước mặt cấp nước sinh hoạt cho khu dân cư với cơng śt

3.200m3/ngày đêm

tơng cốt thép.Có 2 loại bể lắng ngang: bể lắng ngang thu nước ở cuối và bể lắng ngang

thu nước đều trên bề mặt. Bể lắng ngang thường chia làm nhiều ngăn, chiều rộng mỗi

ngăn không quá 6m. Khi bể có chiều dài quá lớn có thể cho nước chảy xoay chiều. Để

giảm bớt diện tích bề mặt xây dựng có thể xây dựng bể lắng nhiều tầng. Hiệu suất lắng

của bể lắng đứng thường thấp hơn bể lắng ngang từ 10 - 20%. Hiệu quả xử lý cao hơn

các bể lắng khác và tốn ít diện tích xây dựng hơn.



Hình 2.4 - Cấu tạo bể lắng ngang

Nguồn : internet

 Bể lắng ly tâm (bể lắng radian): sử dụng với công suất ≥ 30.000m3/ngày đêm.

Nguyên tắc hoạt động : Bể lắng ly tâm là loại trung gian giữa bể lắng ngang và

đứng. Nước từ vùng lắng chuyển động từ trong ra ngoài và từ dưới lên trên. Nước cần

xử lí theo ống trung tâm vào giữa ngăn phân phối , rồi được phân phối vào vùng lắng.

Trong vùng lắng nước chuyển động chậm dần từ tâm bể ra ngoài. Ở đây cặn được lắng

xuống đáy, nước trong thì được thu vào máng vòng và theo đường ống sang bể lọc.

Bể lắng ly tâm có dạng hình tròn, đường kính có thể tư 5m trở lên. So với mợt số

kiểu bể lắng khác, bể lắng li tâm có mợt số ưu điểm sau: nhờ có thiết bị gạt bùn, nên

đáy bể có đợ dốc nhỏ hơn so với bể lắng đứng ( 5 ÷ 8%), do đó chiều cao cơng tác bể

nhỏ (1,5 ÷ 3,5 m) nên thích hợp xây dựng ở những khu vực có mực nước ngầm cao.

Nhưng bể lắng li tâm có kết quả lắng cặn kém hơn so với các bể lắng khác do bể có

đường kính lớn, tốc đợ dòng nước chủn đợng chậm dần từ trong ra ngoài, ở vùng

trong do tốc đợ lớn, cặn khó lắng đơi khi x́t hiện chủn đợng khối. Mặc khác nước

trong chỉ có thể thu vào bằng hệ thống máng vong xung quanh bể nên thu nước khó



Đồ án mơn học: Kỹ thuật xử lý nước cấp.

Thiết kế hệ thống xử lý nước mặt cấp nước sinh hoạt cho khu dân cư với công suất

3.200m3/ngày đêm

đều. Ngoài ra hệ thống gạt bùn cấu tạo phức tạp và làm việc trong điều kiện ẩm ướt

nên chống bị hư hỏng.

.2.5 Bể lọc :

a. Mục tiêu :

 Khử các hạt mịn vô cơ và hữu cơ.

 Trong xử lý nước cấp : Loại bỏ bông cặn mịn không lắng được ở bể lắng.

 Trong xử lý nước thải:Thường sử dụng cho xử lý bậc cao đòi hỏi SS và COD thấp.

b. Nguyên tắc :

Quá trình lọc nước là cho nước đi qua lớp vật liệu lọc với một chiều dày nhất định đủ

để giữ lại trên bề mặt hoặc giữ lại trên bề mặt hoặc giữa các khe hở của lớp vật liệu lọc

các hạt cặn và vi trùng có trong nước. Trong dây chuyền xử lý nước ăn uống sinh hoạt,

lọc là giai đoạn cuối cùng để làm trong nước triệt để. Hàm lượng cặn còn lại trong

nước sau khi qua bể lọc phải đạt tiêu chuẩn cho phép (SS ≤ 3 mg/l).

Quá trình lọc nước được đặc trưng bởi hai thông số cơ bản là: tốc độ lọc và chu kì

lọc. Dựa vào tốc độlọc, chế độ dòng chảy, chiều của dòng nước, số lượng lớp vật liệu

mà có thể chia bể lọc thành nhiều loại khác nhau.

c. Phân loại :

 Bể lọc chậm : thường áp dụng cho nhà máy nước có cơng śt đến 1000

m3/ngày với hàm lượng cắn đến 50 mg/l. độ đục ≤ 10 NTU và độ màu ≤ 50 Pt-Co.

Nước từ máng phân phối di vào bể qua lớp cát lọc vận tốc rất nhỏ ( 0.1 - 0.5 m/h).

Lớp cát lọc được đỏ trên lớp sỏi đỡ, dưới lớp sỏi đỡ là hệ thống thu nước đã lọc đưa

sang bể chứa.

Bể lọc chậm có dạng hình chữ nhật hoặc vng, bề rộng mỗi ngăn của bể không

được lớn hơn 6m và bề dày không lớn hơn 60m. Số bể lọc không được ít hơn 2. Bể lọc

chậm có thể xây bằng gạch hoặc làm bằng bê tông cốt thép. Đáy bể thường có đợ đốc

5% về phía xả đáy.



Đồ án mơn học: Kỹ thuật xử lý nước cấp.

Thiết kế hệ thống xử lý nước mặt cấp nước sinh hoạt cho khu dân cư với công suất

3.200m3/ngày đêm



Hình 2.5 - Cấu tạo bể lọc chậm

Nguồn : slide bài giảng GS.TS. Lâm Minh Triết

Ưu điểm của bể lọc chậm : cấu tạo, quản lý và vận hành đơn giản, giá thành thấp,

chất lượng nước tốt và ln ởn định.

Nhược điểm : đòi hỏi diện tích xây dựng lớn do vận tốc lọc nhỏ; khó cơ khí hóa và

tự đợng hóa quá trình rửa lọc vì vậy phải quản lý bằng thủ công nặng nhọc.

 Bể lọc nhanh : sử dụng trong xử lý nước mặt có dùng chất keo tụ.

Ngun lý hoạt đợng : Theo nguyên tắc cấu tạo và hoạt động, bể lọc nhanh bao

gồm bể lọc một chiều và bể lọ 2 chiều. Trong bể lọc một chiều gồm 1 lớp vật liệu lọc

hoặc hai hay nhiều lớp vật liệu lọc.

- Khi lọc: nước được được dẫn từ bể lắng sang, qua máng phân phối vào bể lọc,

qua lớp vật liệu ọc, lớp sỏi đỡ vào hệ thống thu nước trong và được đưa vào bể chứa

nước sạch.

- Khi rửa: Nước rửa do bơm hoặc đài nước cung cấp, qua hệ thống phân phối

nước rửa lọc, qua lớp sỏi đỡ , lớp vật liệu lọc và kéo theo cặn bẩn tràn vào máng thu

nước rửa, thu về máng tập trung, rồi được xả ra ngoaig theo mương thoát nước.

- Sau khi rửa, nước được đưa vào bể đến mực nước thiết kế, rồi cho bể làm việc.

Do cát mới rửa chưa được sắp xếp lại, độ rỗng lớn, nên chất lượng nước lọc ngay sau

khi rửa chưa đảm bảo, phải xả lọc đầu, không đưa ngay vào bể chứa.



Đồ án môn học: Kỹ thuật xử lý nước cấp.

Thiết kế hệ thống xử lý nước mặt cấp nước sinh hoạt cho khu dân cư với cơng śt

3.200m3/ngày đêm

1.ÄÚng dáùn nỉåïc vo

bãø

(tỉì bãø làõng sang)

2. Mạng phán phäúi nỉåïc

lc

v thu nỉåïc rỉía lc

3. Mạng phủ phán phäúi

nỉåïc

lc v thu nỉåïc rỉía

lc

4. Låïp váût liãûu lc

5. Låïp váût liãûu âåỵ

6. Sn âåỵ chủp lc



7. ÄÚng thu nỉåïc trong

vãư

bãø chỉïa

8. ÄÚng cáúp nỉåïc rỉía

bãø

lc

9. ÄÚng x nỉåïc rỉía

lc

10. Van x nỉåïc lc

âáưu

11. Cỉía qun l (D =

500Hình 2.6 - Cấu tạo bể lọc nhanh trọg lực

600mm)

Nguồn : internet



Hiệu quả làm việc của bể lọc phụ thuộc vào chu kì công tác của bể lọc, tức là phụ

thuộc vào khoảng thời gian giữa 2 lần rửa bể. Chu kì công tác của bể lọc dài hay ngắn

phụ thuộc vào bể chứa. Thời gian xả nước lọc đàu quy định là 10 phút.



Đồ án môn học: Kỹ thuật xử lý nước cấp.

Thiết kế hệ thống xử lý nước mặt cấp nước sinh hoạt cho khu dân cư với công suất

3.200m3/ngày đêm

 Bể lọc nhanh 2 lớp :

Bể lọc nhanh 2 lớp có nguyên tắc làm việc, cấu tạo và tính toán hoàn toàn giống bể

lọc nhanh phổ thông. Bể này chỉ khác bể lọc nhanh phổ thông là có 2 lớp vật liệu lọc:

lớp phía dưới là cát thạch anh, lớp phía trên là lớp than Angtraxit.

Nhờ có lớp vật liệu lọc phía trên có cỡ hạt lớn hơn nên đợ rỗng lớn hơn. Do đó sức

chứa cặn bẩn của bể lắng lên từ 2 ÷ 2,5 lần so với bể lọc nhanh phổ thông. Vì vậy có

thể tăng tốc đợ lọc của bể và kéo dài chu kì làm việc của bể. Tuy nhiên khi rửa bể lọc 2

lớp vật liệu lọc thì cát và than rất dê xáo trợn lẫn nhau. Do đó chỉ dùng biện pháp rửa

nước thuần túy để rửa bể lọc nhanh 2 lớp vật liệu lọc.



 Bể lọc sơ bộ : Bể lọc sơ bợ còn được gọi là bể lọc phá được sử dụng để lọc

nước có đợ đục 50-250 mg/l trước khi làm sạch triệt để trong bể lọc chậm.

Bể lọc sơ bợ có ngun tắc làm việc giống như bể lọc nhanh phổ thông. Số bể lọc

sơ bộ trong 1 trạm không được nhỏ hơn 2.



 Bể lọc áp lực : sử dụng trong dây chuyền xử lí nước mặt có dùng chất phản ứng

khi hàm lượng cặn của nước nguồn đến 50mg/l độ màu đến 80o với công suất trạm xử

lý đến 3000m3/ngàyđêm, hay dùng trong dây truyền khử sắt khi dùng ezecto thu khí

với công suất nhỏ hơn 500m3/ngàyđêm và dùng máy nén khí cho công suất bất kì.

Bể lọc áp lực là một loại bể lọc nhanh kín, thường được chế tạo bằng thép có dạng

hình trụ đứng ( cho công suất nhỏ) và hình trụ ngang ( cho công suất lớn).

Nguyên lý hoạt động : Nước được đưa vào bể qua 1 phêu bố trí ở đỉnh bể, qua lớp

cát lọc, lớp đỡ vào hệ thống thu nước trong, đi vào đáy bể và phát vào mạng lưới. Khi

rửa bể, nước từ đường ống áp lực chảy ngược từ dưới lên trên qua lớp cát lọc và qua

phêu thu, chảy theo ống thoát nước rửa xuống mương thoát nước dưới sàn.



Đồ án môn học: Kỹ thuật xử lý nước cấp.

Thiết kế hệ thống xử lý nước mặt cấp nước sinh hoạt cho khu dân cư với công suất

3.200m3/ngày đêm

Hình 2.7 - Cấu tạo bể lọc áp lực

1- Vỏ bể;

2- Cát lọc;

3- Sàn chụp lọc;

4- Phêu đưa nước vào bể;

5- Ống dẫn nước vào bể;

6- Ống dẫn nước đã lọc

7- Ống dẫn nước rửa lọc;

8- Ống xã nước rửa lọc;

9- Ống gió rửa lọc;

10-Van xả khí;

11-Van xã kiệt;

12-Lỗ thăm.



Nguồn : internet



 Bể lọc tiếp xúc : sử dụng trong xử lí nước mặt có dùng chất phản ứng đối với

ng̀n nước có hàm lượng cặn đến 150 mg/l, độ màu đến 150o (thường là nước hồ) với

công suất bất kì hoặc khử sắt trong nước ngầm cho trạm xử lí có cơng śt đến 10.000

m3/ngàyđêm

Khi dùng bể lọc tiếp xúc, dây chuyền công nghệ xử lý nước mặt sẽ khơng cần có

bể phản ứng và bể lắng. Trong bể lọc tiếp xúc, quá trình lọc xảy ra theo chiều từ dưới

lên trên. Nước đã pha phèn theo ống dẫn nước vào bể qua hệ thống phân phối nước

lọc, qua lớp cát lọc rồi tràn vào máng thu nước và theo đường ống dẫn nước sạch sang

bể chứa.

Ưu điểm của bể lọc tiếp xúc: Khả năng chứa cặn cao, chu kì làm việc kéo dài. Đơn

giản hóa dây trùn cơng nghệ xử lí.

Nhược điểm : tốc độ lọc bị hạn chế nên diện tích bể lọc lớn. Hệ thống phân phối

hay bị tắt, nhất lad trường hợp nước chứa nhiều sinh vật và phù du rong tảo.

.3. XỬ LÝ NƯỚC CẤP BẰNG PHƯƠNG PHÁP HÓA HỌC

.3.1. Quá trình keo tụ :

Trong nước sông suối, hồ ao,.. thường chứa các hạt cặn có ng̀n gốc thành phần

và kích thước rất khác nhau. Đối với các loại cặn này dùng các biện pháp xử lý cơ học

trong công nghệ xử lý nước như lắng lọc có thể loại bỏ được cặn có kích thước lớn

hơn 10-4mm. Cũng như hạt có kích thước nhỏ hơn 10-4mm khơng thể tự lắng được mà



Đồ án môn học: Kỹ thuật xử lý nước cấp.

Thiết kế hệ thống xử lý nước mặt cấp nước sinh hoạt cho khu dân cư với công suất

3.200m3/ngày đêm

luôn tồn tại ở trạng thái lơ lửng. Muốn loại bỏ các hạt cặn lơ lửng phải dùng biện pháp

lí cơ học kết hợp với biện pháp hoá học, tức là cho vào nước cần xử lí các chất phản

ứng để tạo ra các hạt keo có khả năng kết lại với nhau và dính kết các hạt cặn lơ lửng

có trong nước, taọ thành các bơng cặn lớn hơn có trọng lượng đáng kể.

Để thực hiện quá trỡnh keo tụ người ta cho vào nước các chất phản ứng thích hợp

như : phèn nhôm Al2(SO4)3; phốn sắt FeSO4 hoặc FeCl3. Các loại phèn này được đưa

vào nước dưới dạng dung dịch hoà tan.

Trường hợp độ kiềm tự nhiên của nước thấp, không đủ để trung hoà ion H+ thỡ cần

phải kiềm hơi nước. Chất dùng để kiềm hoá thông dụng nhất là vôi CaO. Một số

trường hợp khác cụ thể là Na2CO3 hoặc xút NaOH. Thông thường phèn nhôm đạt được

hiệu quả keo tụ cao nhất khi nước có pH = 5.57.5.

Một số nhân tố cũng ảnh hưởng đến quá trình keo tụ như: các thành phần ion có

trong nước, các hợp chất hữu cơ, liều lượng phèn, điều kiện khuấy trộn, môi trường

phản ứng, nhiệt độ…

.3.2.



Khử trùng nước :



Mục tiêu : khử các vi sinh gây bệnh (pathogen) lây lan đường nước.

Phương pháp :

Khử trùng bằng tác nhân hóa lý : chlorine và các hợp chất của clo, bromine, iodine,

ozone,…; hiệu suất cao áp dụng rộng rãi ở mọi quy mô.

a. Khử trùng bằng tác nhân vật lý : nhiệt, ánh sáng, tia cực tím (UV), siêu âm, lọc

bằng MF; hiệu suất thấp chỉ áp dụng ở quy mô nhỏ.

 Phương pháp nhiệt : Đây là phương pháp cổ truyền. Đun sôi nước ở nhiệt độ

100oC trong 10-20 phút có thể tiêu diệt phần lớn các vi khuẩn có trong nước. Mợt ít

khi nhiệt đợ tăng cao chủn sang dạng bào tử với lớp bảo vệ vững chắc. Để tiêu diệt

nhóm vi kh̉n này cần đun sơi 120oC. Phương pháp đun sôi nước tuy đơn giản, nhưng

tốn nhiên liệu và cồng kềnh, nên chỉ dùng trong quy mô gia đình xử lý nước ăn uống.

 Phương pháp tia cực tím (UV) : Tia tử ngoại hay còn gọi là tia cực tím, là các

tia có bước sóng 4-400 nm có tác dụng diệt trùng rất mạnh. Tia cực tím làm thay đổi

AND của tế bào vi khuẩn, tia cực tím có bước bóng 254 nm có khả năng diệt khuẩn

cao nhất. Tuy nhiên phương pháp này có chi phí vận hành cao.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Nguyên tắc : tách cặn bằng trọng lực.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×