Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhiệm vụ ngay từ đầu. Đa số các cơ quan (từ những nước phát triển đến các

nước đang phát triển) đều đã trải qua thời kỳ hoạt động, sau đó đổi tên hoặc

đổi đơn vị chủ quản để điều chỉnh hoạt động của mình cho phù hợp với sự

phát triển và vận động không ngừng của các hoạt động thương mại quốc tế và

q trình tự do hố thương mại và tồn cầu hố.

Từ những nhìn nhận về thực tiến hoạt đông của cơ quan trực tiếp điều

tra, áp dụng biện pháp PVTM và từ những nghiên cứu về mô hình hoạt động

của cơ quna này ở nước ngồi, tác giả thiết nghĩ vị trí pháp lý của cơ quan

trực tiếp điều tra, áp dụng biện pháp PVTM cụ thể ở đây là Cục PVTM phải

là một thiết chế thuộc Chính phủ mới có thể giải quyết những vấn đề tồn tại

hiện nay.

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về cơ quan trực tiếp điều tra, áp dụng

biện pháp PVTM phải bảo đảm cơ cấu, tổ chức của cơ quan này độc lập,

khách quan khi giải quyết vụ việc.

Một trong những nội dung đã và đang gây tranh cãi nhiều trong vòng

đàm phán DOHA liên quan đến Hiệp định chống bán phá của WTO liên quan

đến quy định khá chung chung và mơ hồ về “thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt

hại cho ngành công nghiệp nội địa”. Nội hàm của quy định này chỉ mới đưa ra

được “định tính” chứ chưa đưa ra “định lượng” của vấn đề. Hơn nữa, Hiệp

định chống bán phá giá, trợ cấp và tự vệ của WTO cũng đã khơng đưa ra

những tiêu chí, nhân tố cơ bản để đánh giá về “định tính” nêu trên. Điều này

đã trao quyền khá lớn cho các nước thành viên được tự do áp đặt quy định và

ý chí của mình khi xem xét và quyết định về “thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt

hại”.

Chính vì tính chất quan trọng của vấn đề và liên quan đến toàn bộ

ngành sản xuất nội địa của một quốc gia, do vậy khi phân tích và ra quyết

định về vấn đề này, phần lớn các nước thành viên đều áp dụng phương thức

bỏ phiếu theo đa số cho dù cơ quan có thẩm quyền xem xét và giải quyết vụ

72



việc của quốc gia đó được chia tách ra làm hai (như Hoa Kỳ, Canada..) hay

chỉ thành lập một cơ quan (EU, Brazil, Ấn Độ, Việt Nam…). Điều quan trọng

ở đây không phải là hai cơ quan đó phải độc lập với nhau thì mới có thể độc

lập và khách quan khi giải quyết vụ việc mà chính là các quy định pháp luật

của nước đó cần tạo ra được hành lang pháp lý tương thích và trao đầy đủ các

quyền cần thiết cho cơ quan thẩm quyền để đảm bảo sự độc lập tối cao khi

đưa ra các quyết định của mình.

Thứ ba, hồn thiện pháp luật về cơ quan trực tiếp điều tra, áp dụng biện

pháp PVTM phải bảo đảm cho cơ quan này thực thi được các chức năng và

nhiệm vụ một cách có hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Nếu như ở một số quốc gia đang phát triển hoặc có nền kinh tế chuyển

đổi, vấn đề liên quan đến tự vệ đối với hàng hoá nhập khẩu thường được giao

cho cùng một cơ quan giải quyết chống bán phá giá, chống trợ cấp thì ở

những nước có nền kinh tế phát triển, việc điều tra, phân tích và áp dụng biện

pháp tự vệ được giao cho một cơ quan khác thực hiện do trên thực tế, việc

điều tra và phân tích để quyết định có áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng

nhập khẩu hay khơng thì nước nhập khẩu chỉ cần chứng minh về “thiệt hại

nghiêm trọng” cho ngành sản xuất nội địa. Trong khi đối với các biện pháp

chống bán phá giá, chống trợ cấp, ngoài việc chứng minh về thiệt hại nghiệm

trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất trong

nước, cơ quan điều tra còn phải xác định biên độ phá giá và mức độ trợ cấp để

làm cơ sở áp dụng các biện pháp phù hợp.

Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về cơ quan hỗ trọ và tổ chức xã hội liên

quan trong hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM.

Pháp luật về các biện pháp PVTM là một hệ thống phức tạp về cả nội

dung cũng như trình tự thủ tục điều tra, áp dụng biện pháp PVTM. Để điều tra

vụ việc PVTM, cơ quan trực tiếp điều tra, áp dụng biện pháp PVTM cần tiến

73



hành thu thập thông tin, chứng cứ một cách chính xác, minh bạch. Việc thu

thập này khơng chỉ diễn ra trong một lĩnh vực mà nó diễn ra trên toàn bộ cơ

cấu của nền kinh tế khơng những tiễn hành trong nước mà còn ở nước ngoài.

Cho nên sự phối hợp của các cơ quan hỗ trợ trọng hoạt động điều tra, áp dụng

biện pháp PVTM là một yêu cầu tất yếu.

Bên cạnh những cơ quan Nhà nước thì các tổ chức xã hội như hiệp hội

ngành hàng cũng có vai trò quan trọng trong việc sử dụng các biện pháp

PVTM của thành viên mình. Đây là công cụ để bảo vệ ngành sản xuất nội địa

trước sự cạnh tranh khốc liệt của xu hướng thương mại tự do. Với khả năng

tập hợp lực lượng cũng như tiềm năng “nội lực” của mình, hiệp hội ngành

hàng đã góp phần khơng nhỏ vào kết quả điều tra, áp dụng biện pháp PVTM.

Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả của hoạt động điều tra, áp dụng biện

pháp PVTM cần phải có những giải pháp hữu hiệu xuất phát từ các doanh

nghiệp nội địa, các hiệp hội chuyên ngành; cơ sở pháp lý về PVTM; hoàn

thiện cơ chế hỗ trợ giữa cơ quan trực tiếp điều tra, áp dụng biện pháp phòng

vệ thương mại, cơ quan hỗ trợ và tổ chức xã hội trong hoạt động điều tra, áp

dụng biện pháp PVTM theo pháp luật Việt Nam.

3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƠ QUAN

ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI THEO

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

3.2.1. Hoàn thiện về cơ quan pháp luật về cơ quan trực điều tra, áp

dụng biện pháp phòng vệ thương mại

3.2.1.1. Hồn thiện quy định về Cục Phòng vệ thương mại

3.2.1.1.1 Hồn thiện quy định về vị trí pháp lý

Giải quyết được những vấn đề bất cập đang đặt ra từ vị trí pháp lý của

cơ quan điều tra, cụ thể:

74



Thứ nhất, với một vị trí trong một cơ quan trực thuộc Chính phủ, độc

lập với các Bộ, hồn tồn đảm bảo cho cơ quan điều tra một vị thế đủ để yêu

cầu các Bộ, Ủy ban nhân dân địa phương nơi các doanh nghiệp đóng trụ sở

cùng phối hợp điều tra, cung cấp thông tin, số liệu để làm rõ có hay khơng

hành vi vi phạm.

Mặt khác, với vị trí trong cơ quan trực thuộc Chính phủ, các cơng văn

phục vụ cho quá trình điều tra sẽ do Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn, do đó

hồn tồn đủ cơ sở pháp lý để buộc các cơ quan chuyên ngành như Tổng cục

Hải quan, Tổng cục Thuế phải có nghĩa vụ phối hợp, cung cấp các số liệu liên

quan đến hoạt động nhập khẩu cũng như số liệu thuế của các doanh nghiệp để

làm rõ các căn cứ phục cho việc ra quyết định áp dụng các biện pháp phòng

vệ thương mại;

Thứ hai, đầy đủ thẩm quyền để tổ chức điều tra, phối hợp điều tra các

vụ việc khi doanh nghiệp Việt Nam là bị đơn ở nước ngoài. Với tư cách nằm

trong cơ quan trực thuộc Chính phủ, cơ quan điều tra hoàn toàn đầy đủ thẩm

quyền để chủ động phối hợp điều tra, tiếp xúc với cơ quan điều tra nước ngoài

nhằm xác định việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp

đối với hàng hóa Việt Nam đúng hay sai, từ đó có các biện pháp xử lý phù

hợp. Hơn nữa, với vị trí nằm trong cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan điều tra

hồn tồn có quyền chủ động đề nghị Chính phủ nước ngoài cung cấp các

chứng cứ để chứng minh trong các vụ kiện chống trợ cấp hàng hóa;

Thứ ba, tạo tính chủ động, hiệu quả cho cơ quan điều tra trong việc

phúc đáp các công hàm từ cơ quan ngoại giao nước ngồi. Với vị trí trong cơ

quan trực thuộc Chính phủ, cơ quan điều tra hồn tồn chủ động phúc đáp các

công hàm phản đối của cơ quan ngoại giao nước ngoài khi mà doanh nghiệp

của họ là bị đơn trong vụ điều tra phòng vệ thương mại, bằng cách báo cáo

trực tiếp cho Thủ tướng Chính phủ để giải quyết hoặc sẽ được ủy quyền giải

75



quyết. Điều này giúp cho cơ quan điều tra nhanh chóng giải quyết được sự

việc, phù hợp với cấp hàm ngoại giao, vừa bảo vệ kịp thời quyền lợi cho

doanh nghiệp Việt Nam.

3.2.1.1.2. Hoàn thiện quy định về cơ cấu, tổ chức

Cần đảm bảo chủ động về nhân lực, nguồn tài chính cho hoạt động. Là

cơ quan trực thuộc Chính phủ, cơ quan điều tra vụ việc phòng vệ thương mại

sẽ được cấp kinh phí trực tiếp từ nguồn kinh phí của Nhà nước, điều này giúp

cơ quan chủ động trong việc triển khai nhiệm vụ cho quá trình điều tra các vụ

kiện phòng vệ thương mại trong và ngồi nước. Chủ động về mặt tài chính

giúp cơ quan điều tra chủ động thực hiện hoặt động điều tra trên địa bàn của

các địa phương có doanh nghiệp đóng trụ sở, điều này đảm bảo việc xác định

thiệt hại nghiêm trọng của ngành sản xuất được chính xác. Khi chủ động về

mặt tài chính thì mới đảm bảo có nguồn kinh phí cho cơ quan điều tra chủ

động tiến hành xác minh thiệt hại của nước ngoài khi bị áp dụng biện pháp

PVTM để đưa ra các mức đền bù thiệt hại phù hợp. Chủ động nguồn kinh phí

giúp cơ quan điều tra tiến hành hoạt động đào tạo, nâng cao kĩ năng nghiệp vụ

cho điều tra viên thường xuyên. Điều này là hết sức quan trọng cho việc thực

thi pháp luật về tự vệ thương mại một cách có hiệu quả.

Mặt khác, các điều tra viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn

nhiệm trên cơ sở đề nghị của Thủ trưởng cơ quan phòng vệ thương mại nên

tạo điều kiện cho cơ quan điều tra chủ động đề xuất số lượng điều tra viên

phù hợp, đảm bảo thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ được giao, tránh tình trạng

nhiệm vụ quá nhiều mà số lượng điều tra viên lại ít.

3.2.1.1.3. Hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ

Phải đảm bảo tính chun trách và hiệu quả trong q trình thực hiện

nhiệm vụ, quyền hạn, cụ thể:

76



Thứ nhất, đảm bảo tính chun trách của cơ quan phòng vệ thương

mại. Cùng với mơ hình cơ quan phòng vệ thương mại thiết kế trực thuộc

Chính phủ, thì cần xác định rõ chức năng của cơ quan này là giúp Chính phủ

quản lý nhà nước về chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp

tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam.

Với quy định này, thông qua cơ quan điều tra, cơ quan phòng vệ thương

mại chỉ tập trung thực hiện những nhiệm vụ liên quan đến lĩnh vực phòng vệ

thương mại, khơng còn q nhiều chức năng, nhiệm vụ như trước đây. Giải

pháp này đảm bảo được tính chun trách trong q trình thực thi nhiệm vụ,

đồng thời đảm bảo được tính độc lập, nhưng vẫn có mối quan hệ giữa các

quan với cùng mục đích là đảm bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa nội địa;

Thứ hai, việc ban hành quyết định áp dụng biện pháp phòng vệ thương

mại được thực hiện một cách kịp thời, hiệu quả. Với vị trí nằm trong cơ quan

trực thuộc Chính phủ, do đó cơ quan điều tra chỉ báo cáo kết quả lên Thủ

trưởng cơ quan phòng vệ thương mại để trình lên Thủ tướng Chính phủ ra

quyết định áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại. Với một thủ tục ngắn

ngọn như trên sẽ đảm báo tính nhanh chóng về thời gian và bằng một quyết

định áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại của Thủ tướng Chính phủ, thì

buộc các cơ quan liên quan, đặc biệt là hải quan và thuế phải thực thi nhanh

chóng và hiệu quả.

3.2.2. Hoàn thiện pháp luật về cơ quan hỗ trợ và tổ chức xã hội liên

quan trong hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại

Chính phủ cần có những quy định cụ thể hơn nhằm phát triển mối quan

hệ đối tác công – tư trong PVTM. Đây có thể coi là yếu tố cản trở nhất đối với

quy trình giải quyết tranh chấp tại WTO và các FTA do không xây dựng được

liên kết chính thức và khơng chính thức giữa chính phủ và khu vực tư nhân.



77



Bên cạnh đó, phải quy định chi tiết về trách nhiệm của các cơ quan hỗ

trợ và tổ chức xã hội liên quan trong hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp

phòng vệ thương mại nhằm tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các doanh

nghiệp cũng rất cần thiết trong việc thiết lập mối quan hệ đối tác cơng-tư hiệu

quả. Chính các doanh nghiệp cần xây dựng mối liên kết trong lĩnh vực của

mình thơng qua các hiệp hội ngành hàng.

Trong bối cảnh thị trường Việt Nam tăng cường tự do hóa, các hiệp hội

thương mại của nước này đã rất nỗ lực phối hợp trao đổi thơng tin về các vấn

đề thương mại với chính phủ. Đồng thời, các tổ chức nghiên cứu và tư vấn

được tập hợp để hỗ trợ chính phủ và doanh nghiệp trong việc phát triển kế

hoạch và chiến lược tham gia giải quyết tranh chấp nhằm hỗ trợ cho quá trình

đàm phán với các nước liên quan.

Khi các ngành cơng nghiệp trong nước được xây dựng thành công, họ

cần tham gia vào việc trao đổi thông tin một cách hiệu quả với chính phủ..

Vấn đề là việc sử dụng thơng tin đó theo cách nào để bảo vệ các quyền lợi của

nước đó tại WTO và các FTA. Do nguồn lực hạn chế, chính phủ cần dựa vào

khu vực tư nhân với nguồn lực dồi dào để thu thập thông tin về các rào cản

thương mại của nước ngoài, nhưng chính phủ cần tự mình sắp xếp và hệ

thống hóa các thơng tin này. Sau đó, ngành cơng nghiệp trong nước cũng dựa

vào chính phủ để sử dụng các thơng tin đã được hệ thống để bảo vệ lợi ích

của mình. Như vậy, cả hai phía đều có động lực để hợp tác chặt chẽ.

Để tạo thuận lợi cho việc trao đổi thơng tin giữa các doanh nghiệp và

chính phủ, các doanh nghiệp cũng cần hỗ trợ từ các công ty tư vấn pháp lý.

Ngay cả khi một công ty hoặc hiệp hội ngành hàng có thể xác định được các

hàng rào thương mại và khả năng khởi kiện, các nguồn lực sẽ được sử dụng

hiệu quả hơn nếu có sự tham gia của luật sư trong việc xây dựng các lập luận

pháp lý. Các doanh nghiệp hoặc hiệp hội ngành hàng cần chi trả cho tư vấn

78



của luật sư để đảm bảo việc tiếp cận hiệu quả các cơ chế giải quyết tranh chấp

theo các hiệp định thương mại quốc tế.

Cuối cùng, chính phủ phải có những chính sách tạo điều kiện cho các

doanh nghiệp và hiệp hội có đại diện tham gia các diễn đàn thương mại quốc

tế, bao gồm các hội thảo, tọa đàm và ấn phẩm, phân tích của các tổ chức quốc

tế về các vấn đề thương mại quốc tế. Nguồn thông tin mà các doanh nghiệp

có thể thu được từ các diễn đàn này rất phong phú và hữu ích.

3.3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU

TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT

NAM

3.3.1. Về phía Nhà nước

3.3.1.1. Hồn thiện quy định của pháp luật về phòng vệ thương mại

Việc hoàn thiện các biện pháp PVTM cần nghiên cứu, kỹ càng cả về lý

thuyết cũng như thực tiễn của thế giới và Việt Nam. Tuy nhiên, rà soát về

những vấn đề vướng mắc thực tiễn ở Việt Nam thấy rằng, cần xem xét điều

chỉnh một số nội dung sau:

Thứ nhất, liên quan đến các quy định về quyền tiếp cận thông tin của

daonh nghiệp trong hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM: Việt Nam

cần phải ban hành quy định cụ thể về các tiêu chí để đánh giá mức độ tin cậy

của các thông tin được cung cấp trong đơn kiện cũng như yêu cầu về việc

thông báo cho nước có hàng xuất khẩu vào Việt Nam nằm trong đối tượng

điều tra trước khi ra quyết định điều tra. Bên cạnh đó, cần quy định trình tự,

thủ tục để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các thông tin trong vụ việc điều tra,

áp dụng các biện pháp PVTM; cần quy định cụ thể thời hạn công bố thông tin

trong vụ việc điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM; cần quy định thống nhất

những thông tin nào doanh nghiệp không được phép tiếp cận, hoặc tiếp cận

79



hạn chế; cần quy định cụ thể địa chỉ công bố thơng tin, cơ quan có nghĩa vụ

phải cơng bố thơng tin trong vụ việc điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM.

Thứ hai, liên quan đến việc căn cứ khởi xướng điều tra và phương thức

các định thiệt hại: doanh nghiệp muồn khởi kiện phải sản xuất ra ít nhất 25%

tổng lượng sản phẩm liên quan tại Việt Nam; đơn kiện nhận được sự ủng hộ

của các doanh sản xuất ra ít nhất 50% tổng lượng sản phẩm liên quan đến sản

xuất tại Việt Nam. Chính quy định này đã dẫn đến hệ quả xuất hiện những

khó khăn trong việc sử dụng công cụ PVTM của doanh nghiệp như đã phân

tích ở mục 2.2.2.1.1. Cần phải có những quy định điều chỉnh tỉ lệ này cho phù

hợp với năng lực và tình hình của các doanh nghiệp hiện nay để cơng cụ

PVTM phát huy được hết vai trò của mình đối với thị trường nội địa.

3.3.1.2. Nâng cao chất lượng và số lượng đối với nguồn nhân lực

Cần tăng cường về số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

điều tra. Đặc biệt cần quan tâm nghiên cứu tình hình kinh tế, giá cả hàng hóa,

chiến lược xuất khẩu của các quốc gia có lượng xuất khẩu lớn vào Việt Nam.

Các cơ quan có thẩm quyền phải chủ động theo dõi tình hình thế giới, dự báo

kịp thời, nhằm hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp, bảo đảm bảo vệ hiệu quả nền

sản xuất trong nước, đồng thời thích ứng với xu hướng mới của thế giới.

Ngoài việc đào tạo nâng cao năng lực cho cơ quan thực thi pháp luật về

PVTM yêu cầu đặt ra là cần phải tổ chức các khóa đào tạo cho các cán bộ

chuyên trách của các Bộ trực tiếp quản lý sản xuất. Từ đó, trong q trình

triển khai áp dụng biện pháp PVTM cần có sự phối hợp chặt chẽ với các Bộ

trực tiếp quản lý sản xuất vì hơn ai hết, các cán bộ trực tiếp quản lý sản xuất

hiểu rõ về ngành sản xuất, thực trạng cạnh tranh và các vấn đề mang tính chất

chun mơn sâu cũng như thơng lệ kinh doanh của các doanh nghiệp trong

ngành. Qua thực tế kháng kiện của các vụ kiện bán phá giá cá tra, ba tra, tơm,

xe đạp... có thể thấy hiểu biết về các biện pháp PVTM của các đơn vị có liên

80



quan tại Việt Nam vẫn chưa tồn diện. Vì vậy, việc đào tạo nâng cao năng lực

về các biện pháp PVTM cho đội ngũ cán bộ làm công tác này là hết sức cần

thiết và cấp bách, góp phần tăng cường sự hợp tác và hỗ trợ của các cơ quan,

bộ ngành trong việc thi hành các pháp lệnh liên quan.

3.3.1.3. Tăng cường kinh phí hoạt động cho Cục Phòng vệ thương

mại

Việc thiếu kinh phí hoạt động xuất phát từ vị trí pháp lý; cơ cấu, tổ chức;

chức năng, nhiệm vụ của Cục PVTM như đã phân tích ở chương 2. Để giải

quyết vấn đề này, ngoài những giải pháp đã được tác giả nêu ra ở mục 3.2.1

thì nhằm giải quyết phần nào vấn đề kinh phí hoạt động của Cục PVTM tác

giả xin đề xuất lấy các khoản thu từ việc áp dụng các biện pháp PVTM, cụ thể

là các khoàn thu từ thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và thuế tự vệ

cung cấp trực tiếp cho Cục PVTM để tiến hành hoạt động của mình trong tình

hình nguồn kinh phí do Bộ Cơng thương cấp không đáp ứng được yêu cầu.

Bởi lẽ, trong quá trình điều tra, áp dụng biện pháp PVTM Cục PVTM là cơ

quan có thẩm quyền trực tiếp điều tra. Việc thu thập thông tin, tài liệu, chứng

cứ được Cục PVTM tiến hành khơng chỉ ở trong nước mà còn cả ở nước

ngồi. Khơng những thế, có nhưng thơng tin, tài liệu Cục PVTM cần phải

mua từ các chủ thể khác ở nước ngoài với giá cao. Nếu các nguồn thu từ kết

quả của việc điều tra, áp dụng biện pháp PVTM được cấp trực tiếp cho Cục

PVTM sẽ chủ động và linh hoạt hơn khi mà nguồn kinh phí phụ thuộc vào số

lượng vụ việc áp dụng biện pháp PVTM mà cơ quan này tiến hành.

3.3.1.4. Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ giữa cơ quan trực tiếp điều tra, áp

dụng biện pháp phòng vệ thương mại, cơ quan hỗ trợ và tổ chức xã hội

trong hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại

Các cơ quan quản lý liên quan đến lĩnh vực PVTM như Bộ Công

Thương, cụ thể là Cục PVTM cần thường xuyên tổ chức các hoạt động hướng

81



dẫn và tư vấn cho doanh nghiệp. Đồng thời, hỗ trợ các doanh nghiệp hoàn

thiện bộ hồ sơ khởi kiện cũng như các thông tin, bằng chứng cần phải bổ sung

hay cung cấp trong quá trình điều tra vụ việc. Ngồi ra, cơng tác tun truyền,

phổ biến cho các nhà sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam về pháp luật của Việt

Nam và quốc tế, về các quy định và thực tiễn của các thiết chế kinh tế thương

mại quốc tế, cũng như các quy định pháp luật nội địa của các thị trường nước

ngoài quan trọng sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có thêm kiến thức

để tự bảo vệ mình.

Xét đến tầm quan trọng của các biện pháp PVTM trong thời gian tới, để

có thể gia tăng hiệu quả trong cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà

nước có liên quan cần xây dựng một cơ quan liên ngành với bộ phận chuyên

về các vấn đề PVTM. Bộ phận này được xây dựng từ việc tập hợp cán bộ đại

diện cho các bộ ngành liên quan như: Hải quan, Tài chính, Cơng Thương,

Ngoại Giao, Thống kê… Mỗi đại diện sẽ là đầu mối để cung cấp các thông tin

cần thiết trong các vụ khởi kiện cũng như đối phó với các vụ kiện PVTM tại

nước ngồi. Bộ phận này đóng vai trò hỗ trợ hiệu quả từ việc cảnh báo đến cả

quá trình khởi kiện cũng như kháng kiện PVTM của Việt Nam.

Hơn nữa, do tính chất phức tạp của vấn đề, hàng hóa đa dạng và ngay

cả việc sử dụng dữ liệu để tính tốn cũng có thể gặp khó khăn. Do đó, thực tế

điều tra , áp dụng biện pháp PVTM ở các nước do các cơ quan chuyên trách

thực hành song không thể thiếu việc tham vấn các chuyên gia trong các lĩnh

vực liên quan. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành của Việt Nam khơng có quy

định về việc tham vấn chuyên gia trong quá trình điều tra mà chỉ có tham vấn

với các bên liên quan (nguyên đơn và bị đơn). Tất nhiên, trên thực tế cơ quan

điều tra có thể tiến hành tự thực hiện việc tham vấn này nhưng khi khơng có

quy định của pháp luật thì việc lấy ý kiến tham vấn chuyên gia có thể mang



82



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×