Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hơn nữa, trong quá trình điều tra, áp dụng biện pháp PVTM không thể thiếu sự có mặt của các Hiệp hội ngành hàng trong việc thu thập thông tin, chứng cứ. Nhận thấy điều này mà pháp luật đã quy định trách nhiệm của các Hiệp hội ngành hàng trong hoạt động đi

Hơn nữa, trong quá trình điều tra, áp dụng biện pháp PVTM không thể thiếu sự có mặt của các Hiệp hội ngành hàng trong việc thu thập thông tin, chứng cứ. Nhận thấy điều này mà pháp luật đã quy định trách nhiệm của các Hiệp hội ngành hàng trong hoạt động đi

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.1.4. Đánh giá chung thực trạng pháp luật về Cơ quan điều tra, áp

dụng biện pháp phòng vệ thương mại

Từ những phân tích ở trên về thực trạng pháp luật về Cơ quan điều tra,

áp dụng biện pháp PVTM, tác giả đưa ra đánh giá như sau: pháp luật hiện

hành đã tạo dựng được một hành lang pháp lý về hoạt động của cơ quan điều

tra, áp dụng biện pháp PVTM theo 03 nhóm mà tác giả đã chỉ ra bao gồm:

nhóm cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp thực hiện hoạt động điều tra, áp

dụng biện pháp PVTM; nhóm cơ quan quản lý Nhà nước phối hợp trong hoạt

động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM; và nhóm các tổ chức xã hội liên

quan trong hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM. Với vai trò của

mình đối với nền kinh tế thị trường, đối với xã hội và đối với doanh nghiệp

việc cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM thực thi nghiêm túc các chính

sách PVTM sẽ góp phần tạo dựng sự phát triển bền vũng của nền kinh tế,

mang lại lợi ích cho đất nước. Tuy nhiên, những quy định này còn tồn tại

nhiều bất cập ở các nhóm chủ thể. Những bất cập này xuất phát từ những quy

định về vị trí pháp lý, cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Cục PVTM;

các quy định về sự phối hợp của cơ quan quản lý Nhà nước phối hợp trong

hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM các tổ chức xã hội liên quan

trong hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM. Những bất cập và thiếu

sót này có thể là nguyên nhân làm hạn chế sự hiệu quả của hoạt động điều tra,

áp dụng biện pháp PVTM và kéo theo đó là hệ lụy nghiêm trọng có thể xảy ra

đối với toàn bộ nền kinh tế nước nhà trước thách thức hội nhập. Vì vậy, việc

hồn thiện pháp luật về tự vệ thương mại là vấn đề vô cùng quan trọng.



2.2. THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN

PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

56



2.2.1. Những kết quả đạt được thời gian qua

Năm 2002, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số

42/2002/PL-UBTVQH10 về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngồi vào

Việt Nam. Tiếp đó, vào năm 2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục ban

hành Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11 về chống bán phá giá hàng hóa

nhập khẩu vào Việt Nam và Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 về chống

trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam. Kèm theo đó, Chính phủ

và các bộ, ngành liên quan cũng ban hành các nghị định và thông tư chi tiết

hướng dẫn thi hành các điều trong các pháp lệnh nêu trên. Năm 2017, Quốc

hội ban hành Luật Quản lý ngoại thương có hiệu lực pháp luật ngày 01 tháng

01 năm 2018 trên cơ sở hợp nhất 03 pháp lệnh này một cách có kế thừa và

phát triển. Bên cạnh đó, việc thành lập Cục PVTM – Bộ Cơng thương còn khá

là mới nên ta có thể đánh giá thực trạng pháp luật về cơ quan điều tra, áp

dụng biện pháp PVTM thông qua các số liệu thông kê từ trước đến nay.

90

80

70

60

50

40

30

20

10

0



81



14



4



Chống bán phá giá



việt nam khởi xướng



0

Chống

trợ cấp



22

6



Tự vệ



hàng hóa việt nam bị điều tra



Biểu đồ 2.2.1.1. So sánh vụ việc PVTM Việt Nam khởi xướng điều tra với

hoàng hóa của Việt Nam bị điều tra15



15 Số liệu dựa trên báo cáo của VCCI tính đến 31/12/2018 đối với chống bán pháp giá và chống trợ cấp, tính

đến hết năm 2017 đối với tự vệ;



57



350

300

250

200

Chống bán phá giá

chống trợ cấp

tự vệ



150

100

50

0



Biểu đồ 2.2.1.2. số lượng điều tra PVTM trên thế giới giai đoạn 2006 - 201716

Nhìn vào những con số thống kê trên đây đối với hoạt động điều tra, áp

dụng biện pháp PVTM của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam và cùng so sánh

với xu hướng của thế giới, tác giả đưa ra một số nhận định như sau:

Thứ nhất, số lượng vụ việc mà Việt Nam khởi xướng điều tra, áp dụng

biện pháp PVTM so với số lượng vụ việc mà hàng hóa Việt Nam bị khởi

xướng có sự chênh lệch khá lớn. Đặc biệt là trong lĩnh vực bán phá giá.

Thứ hai, xu hướng điều tra, áp dụng biện pháp PVTM của thế giới chủ

yếu là chống bán phá giá, chống tự vệ có xu hướng ngày càng tăng trong khi

đó tự vệ lại giảm dần. Còn tại Việt Nam, xu hướng này lại ngược lại khi mà

cac vụ việc về tự vệ có xu hướng tăng và chiếm cao hơn so với chống bán phá

giá.

Đối với những vụ việc mà Việt Nam khởi xướng điều tra, từ những con

số thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp đã đi đến những nhận

định sau:

Thứ nhất, số lượng các vụ việc đang tăng. Cụ thể: 2002/2004 - 2014 có

03 vụ trong vòng hơn 10 năm trong khi có 07 vụ từ 2015 – 2017.

16 Số liệu dựa trên thống kê của WTO giao đoạn từ 1995 đến 2017;



58



Thứ hai, 5/10 vụ có đối tương là thép. Giống với thế giới khi thép là đối

tượng của nhiều vụ kiện tuy nhiên đây là thép nguyên liệu còn tại Việt Nam là

thép thành phẩm.

Thứ ba, 6/10 vụ là kiện tự vệ chiếm đa số và có xu hương tăng trong

khi xu hướng thế giới là ngược lại. Trong khi đó, trong suốt 14 năm, Bộ Cơng

Thương chưa tiến hành điều tra áp dụng biện pháp chống trợ cấp nào.

Tỷ lệ điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại



bán phá giá

tự vệ

trợ cấp



Biều đồ 2.2.1.3. Tỷ lệ điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại17

Thứ tư, có những vụ việc khơng đạt được kết quả đơn cử như vụ kiện

tôm cũng phải mất hơn 1 năm để cân nhắc vì sợ ảnh hưởng đến quan hệ ngoại

giao. Riêng vụ đùi gà, năm 2015, Cục cũng phải làm việc ròng rã với Hiệp hội

chăn nuôi Đông Nam bộ để hướng dẫn các thủ tục và nhận được sự đồng lòng

của các bên. Nhờ vậy, Cục đã có đầy đủ yếu tố khởi kiện. Tuy nhiên, khi bắt

tay thực hiện thì doanh nghiệp lại khơng đồng ý vì nhiều lý do và cả hiệp hội

cũng khơng còn mặn mà nên đành phải gác lại hoặc năm 2009, lần đầu tiên

Việt Nam khởi xướng vụ việc tồn cầu đối với mặt hàng Kính nổi trong xây

dựng theo đề nghị của đại diện các nhà sản xuất mặt hàng kính nổi trong

nước, nhưng sau một thời gian điều tra, Cơ quan điều tra đã ra kết luận ngành

sản xuất hàng hóa tương tự trong nước khơng phải chịu thiết hại nghiêm trọng

do do việc nhập khẩu ồ ạt hàng hóa nhập khẩu bị điều tra gây ra trước sự ngỡ

ngàng của các doanh nghiệp trong nước hay một loạt các vụ việc khác liên

17 Số liệu thống kê của VCCI và WTO;



59



quan đến mặt hàng trứng gia cầm, giấy in, dầu đậu nành, ống gang đúc, bột

nhựa, tôn, tỏi đến từ các doanh nghiệp nhập khẩu, đặc biệt từ doanh nghiệp

của Trung Quốc cũng đã bị đình chỉ hoặc khơng bị điều tra.

2.2.2. Những tồn tại và nguyên nhân của hoạt động điều tra, áp

dụng biện pháp phòng vệ thương mại

Từ lúc hình thành hệ thống pháp luật PVTM cũng như cơ quan điêu tra,

áp dụng biện pháp PVTM tại Việt Nam, thị trường Việt Nam đã hiện rõ tính

hai mặt của thương mại tự do. Với hệ thống pháp luật còn rất mới về cả nội

dung lẫn mơ hình hoạt động của Cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM

mặc dù đã có những kết quả nhất định trong quá trình áp dụng pháp luật tuy

nhiên mãi đến năm 2009 Việt Nam mới khởi xướng điều tra vụ việc đầu tiên

liên quan đến mặt hàng kính nổi.

Lịch sử điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM tại Việt Nam cũng đã có

những vụ việc bị ngừng điều tra hoặc đình chỉ điều tra giữa chừng hoặc không

áp dụng biện pháp trừng phạt mà doanh nghiệp khơng hiểu vì sao, điển hình

như vụ việc Đùi gà năm 2015, Cục Quản lý cạnh tranh đã làm việc ròng rã

với Hiệp hội Chăn ni Đơng Nam bộ để hướng dẫn các thủ tục và nhận được

sự đồng lòng của các bên và kết quả là Cục đã có đầy đủ yếu tố khởi kiện.

Tuy nhiên, khi đã đủ căn cứ để tiến hành khởi kiện, áp thuế thì đột ngột dừng

lại mà đa số doanh nghiệp và người tiêu dùng không rõ lý do, hoặc năm 2009,

lần đầu tiên Việt Nam khởi xướng vụ việc toàn cầu đối với mặt hàng Kính nổi

trong xây dựng theo đề nghị của đại diện các nhà sản xuất mặt hàng kính nổi

trong nước, nhưng sau một thời gian điều tra, Cơ quan điều tra đã ra kết luận

ngành sản xuất hàng hóa tương tự trong nước khơng phải chịu thiết hại

nghiêm trọng do do việc nhập khẩu ồ ạt hàng hóa nhập khẩu bị điều tra gây ra

trước sự ngỡ ngàng của các doanh nghiệp trong nước hay một loạt các vụ việc

khác liên quan đến mặt hàng trứng gia cầm, giấy in, dầu đậu nành, ống gang

60



đúc, bột nhựa, tôn, tỏi đến từ các doanh nghiệp nhập khẩu, đặc biệt từ doanh

nghiệp của Trung Quốc cũng đã bị đình chỉ hoặc khơng bị điều tra.18

Cùng nhìn lại vụ việt đầu tiên Việt Nam khởi xướng điều tra được tóm

tắt như sau: Dựa trên những căn cứ cho rằng có sự gia tăng đột biến về nhập

khẩu đối với mặt hàng kính nổi, dẫn đến sụt giảm về sản lượng, công suất, thị

phận, lợi nhuận và nguy cơ cắt giảm lao động trong khu vực ngành sản xuất

trong nước, ngày 5/5/52009 Cơng ty kính nổi Viglacera (VIFG) và Cơng ty

Kính nổi Việt Nam (VFG) là 2 doanh nghiệp đại diện cho hơn 90% tổng sản

lượng nội địa của loại mặt hàng này (sau đây gọi là “Nguyên đơn”) đã nộp

Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ đối với mặt hàng kính nổi nhập khẩu

vào Việt Nam với mã HS 7005 29 90 00 và 7005 21 90 00. Trong đơn yêu

cầu, Nguyên đơn đề nghị áp dụng mức thuế tự vệ tương đương

0,6USD/m2QTC đối với hàng hóa thuộc đối tượng điều tra. Trước khi có

quyết định chính thức áp dụng biện pháp tự vệ, Nguyên đơn yêu cầu Bộ Công

Thương áp dụng mức thuế tự vệ tạm thời 40% đối với hàng hóa thuộc đối

tượng điều tra.

Đơn yêu cầu của Nguyên đơn đã được kiểm tra về tính hợp lệ theo qui

định tại điều 10 Pháp lệnh số 42/2002/PL-UBTVQT do UBTVQH ban hành

ngày 25/05/2002 về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam (Pháp lệnh

42). Ngày 01.07.2009, Thứ trưởng Bộ công thương Lê Danh Vĩnh đã thay

mặt Bộ trưởng ký Quyết định số 3329/QĐ-BCT v/v tiến hành điều tra áp dụng

biện pháp tự vệ đối với hai nhóm hàng nhập khẩu này (Quyết định 3329).



18 Theo Mai Xuân Hợi (2018), “Quyền tiếp cận thông tin điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại

của hoanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam”, http://vienasean.ac.vn/quyen-tiep-can-thong-tin-dieu-tra-apdung-bien-phap-phong-ve-thuong-mai-cua-doanh-nghiep-theo-phap-luat-viet-nam-d1182.th,

cứu Pháp luật và Kinh tế ASEAN – Hội luật gia Việt Nam;



61



Viện



Nghiên



Theo thủ tục qui định tại Hiệp định WTO về các biện pháp phòng vệ

thương mại 1994 (WTO Agreement on Safeguard Measures – Hiệp định SA)

và Pháp lệnh 42, ngày 20.11.2009, Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương

đã tiến hành Phiên tham vấn vụ điều tra áp dụng biện pháp tự vệ đối với sản

phẩm kính nổi nhập khẩu vào Việt Nam với thành phần tham dự bao gồm đại

diện của cơ quan điều tra là Cục quản lý cạnh tranh, các bên Nguyên đơn, đại

diện các nhà xuất khẩu (Công ty Mulia Glass của Indonesia, Công ty

Guardian Industrie của Thái Lan), Hiệp hội gốm sứ thủy tinh Việt Nam và các

doanh nghiệp nhập khẩu của Việt Nam có liên quan.

Sau thủ tục tham vấn và các kết quả điều tra ban đầu, ngày 30/10/2009,

VCAD đã công bố báo cáo sơ bộ về vụ điều tra này. Theo kết quả điều tra sơ

bộ, Cơ quan điều tra kết luận (i) hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa

thuộc đối tượng điều tra thuộc nhóm hàng hóa tương tự; (ii) có sự gia tăng cả

về tuyệt đối lẫn tương đối của nhóm hàng hóa liên quan trong giai đoạn điều

tra ; (iii) thiệt hại xảy ra đối với sản xuất trong nước; và (iv) việc gia tăng

nhập khẩu là nguyên nhân cơ bản gây ra thiệt hại đối với sản xuất trong nước.

Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, Bộ cơng thương khơng tiến hành áp thuế

phòng vệ tạm thời đối với hai nhóm hàng thuộc đối tượng điều tra theo nhu

yêu cầu của nguyên đơn.

Sau 7 tháng tiến hành điều tra, ngày 08/02/2010, Cục quản lý cạnh

tranh, Bộ công thương đã công bố Báo cáo cuối cùng về kết quả điều tra.

Trong Báo cáo điều tra cuối cùng, cơ quan điều tra kết luận (i) tuy có sự gia

tăng nhập khẩu và thiệt hại đối với sản xuất trong nước, song từ Quí II 2009,

thị phần của các nhà sản xuất trong nước đã có dấu hiệu phục hồi, cụ thể

lượng bán hàng nội địa tăng lên, cùng với chiều hướng bắt đầu suy giảm của

lượng hàng hóa nội địa tồn kho; (ii) trong bối cảnh suy giảm kinh tế toàn cầu

giai đoạn 2008-2009 cùng với những biến động trái chiều của giá dầu F.O tại

thị trường Việt Nam so với thị trường thế giới, sự gia tăng nhập khẩu khơng

62



phải là ngun nhân chính gây ra thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước.

Từ những kết quả điều tra cơ bản trên, cùng với thực tế là thị phần của hàng

nội địa đối với hàng hóa thuộc nhóm đối tượng bị điều tra, cho dù có suy

giảm vẫn ở mức khá cao, hơn 80% tổng thị phần tiêu thụ nội địa, cơ quan điều

tra đi đến kết luận cuối cùng là việc áp dụng các biện pháp tự vệ đối với sản

phẩm kính nổi nhập khẩu là khơng còn phù hợp.

Ngày 23/2/2010, Bộ trưởng Bộ cơng thương ký Quyết định số

0809/QĐ-BCT về việc không áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại đối với

mặt hàng kính nổi nhập khẩu có mã số HS 7005 29 90 00 và 7005 21 90 000.

Sau 7 tháng, vụ điều tra áp dụng các biện pháp tự vệ đầu tiên của Việt Nam

theo qui định của pháp luật WTO đã chấm dứt với kết quả không áp dụng các

biện pháp tự vệ.19

Từ những vụ việc trên, tác giả nhận thấy một số nguyên ngân chính dẫn

đến thực trạng này bao gồm:

Một là, hạn chế nguồn nhân lực: Cục PVTM là tổ chức thuộc Bộ Công

Thương, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương

quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật đối với lĩnh vực chống bán phá

giá, chống trợ cấp và tự vệ; tổ chức, quản lý hoạt động sự nghiệp dịch vụ

công thuộc lĩnh vực, phạm vi quản lý của Cục theo quy định của pháp luật và

phân cấp, ủy quyền của Bộ trưởng.

Tuy nhiên, để thực thi đầy đủ và có hiệu quả pháp luật về PVTM đồng

thời để vượt qua thách thức lớn của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc

biệt thời kỳ đẩy mạnh tự do hóa thương mại thì Cục PVTM với tổng số biên

chế 40 người trong đó chỉ có hơn một nửa có nhiệm vụ trực tiếp trong việc



19 TS. Hoàng Thị Thanh Thủy, giảng viên Khoa Luật Đại học KTQD Hà Nội, LS tư vấn tại Văn phòng

Luật Gide Loyrette Nouel, “Vụ kiện tự vệ đầu tiên của Việt Nam – Thực tiễn và Kinh nghiệm”,

http://chongbanphagia.vn/vu-kien-tu-ve-dau-tien-cua-viet-nam--thuc-tien-va-kinh-nghiem-n2204.html,

cập ngày 08/4/2019;



63



truy



điều tra vụ việc PVTM. Với số lượng như vậy cho đến hiện tại là chưa đủ đáp

ứng với khối lượng công việc.

Hơn nữa, trong việc phối hợp giữa cơ quan trực tiếp điều tra, áp dụng

biện pháp phòng vệ thương mại, cơ quan hỗ trợ và hiệp hội ngành hàngmỗi

chủ thể đều có cơng việc chuyên trách riêng của mình trong quá trình hoạt

động. Số lượng các chuyên viên hiểu về PVTM và có thể vận dụng tốt là con

số rất ít. Dẫn đến sự khó khăn, bị động trong q trình phối hợp điều tra, áp

dụng biện pháp PVTM.

Hai là, Cục PVTM thiếu kinh phí hoạt động: Khó khăn này do cơ quan

mới, chức năng, nhiệm vụ mới đặc biệt là tính chất “lưỡng tính” của cơ quan

điều tra, áp dụng biện pháp PVTM nên các quy định hiện hành về quản lý

hành chính sự nghiệp là khơng phù hợp, thậm chí dẫn tới khó đảm bảo thực

hiện cơng việc.

Để tiến hành điều tra một vụ việc PVTM, các điều tra viên cần phải

thược hiện các nghiệp vụ: thu thập thông tin, xác minh chứng cứ, … Bên cạnh

đó, các điều tra viên còn phải ra nước ngồi xem hàng hóa đó có bán phá giá

hay được trợ cấp khi nhập khẩu vào Việt Nam hay không. Để vụ việc điều tra

đạt hiệu quả cao, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố tài chính của cơ

quan điều tra đóng vai trò quan trọng.Theo quy định hiện hành, thì nguồn

ngân sách hoạt động của cơ quan điều tra được bố trí theo ngân sách hoạt

động hàng năm của Bộ Công thương. Quy định này làm hạn chế tính chủ

động trong các hoạt động của cơ quan điều tra, đặc biệt với đặc thù có nhiều

hoạt động trong và ngồi nước như cơ quan điều tra vụ việc tự vệ thương mại.

Do đó, để công việc được giải quyết một cách kịp thời phải đảm bảo tính chủ

động về ngân sách hoạt động cho cơ quan điều tra.

Không những vậy, với nhiệm vụ “Xây dựng và trình Bộ trưởng Bộ

Cơng Thương ban hành hoặc đề nghị Bộ trưởng Bộ Cơng Thương trình cơ

quan có thẩm quyền phê duyệt, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, đề

64



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hơn nữa, trong quá trình điều tra, áp dụng biện pháp PVTM không thể thiếu sự có mặt của các Hiệp hội ngành hàng trong việc thu thập thông tin, chứng cứ. Nhận thấy điều này mà pháp luật đã quy định trách nhiệm của các Hiệp hội ngành hàng trong hoạt động đi

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×