Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại nhằm để bảo hộ cho

ngành sản xuất trong nước, nhưng đồng thời phải phù hợp với pháp luật quốc

tế như WTO và các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam cam kết

thì với vị trí là một cơ quan trực thuộc BCT dẫn tới:

Một là, để thực hiện chức năng bảo hộ cho hàng hóa trong nước trước

các hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ doanh nghiệp nước ngoài, Cục

PVTM phải thực hiện việc điều tra, thu thập chứng cứ, lấy lời khai các doanh

nghiệp trong cũng như ngoài nước liên quan đến các vụ kiện PVTM. Nhiệm

vụ này cần có sự phối hợp của UBND cấp tỉnh trong khâu thẩm tra bị đơn và

thu thập các chứng cứ tài liệu liên quan. Nói cách khác, do đóng trên địa bàn

các tỉnh nên UBND cấp tỉnh có thực quyền trong việc yêu cầu các doanh

nghiệp cung cấp những số liệu cần thiết cho hoạt động thẩm tra. Tuy nhiên,

với vị trí là cấp cục thì Cục PVTM rất khó u cầu UBND cấp tỉnh phối hợp

trong q trình điều tra vì khơng thuộc thẩm quyền quản lý. Vấn đề này dễ

dàng được giải quyết nếu vị trí của Cục PVTM là cơ quan trực thuộc Chính

phủ, và với cơng văn có bút phê của Thủ tướng thì UBND địa phương phải có

nghĩa vụ phối hợp điều tra, thu thập chứng cứ.

Hai là, để kết luận có hay khơng hành vi bán phá giá, trợ cấp từ chính

phủ cho hàng hóa nước ngồi tại thị trường Việt Nam, hoặc để chứng minh

được có sự gia tăng bất thường của hàng hóa nước ngồi vào Việt Nam thì

khơng thể thiếu sự phối hợp điều tra, cung cấp số liệu từ Tổng cục Hải quan,

Tổng cục Thuế. Tuy nhiên, với vị trí cấp cục thì rất khó để yêu cầu các cơ

quan cấp tổng cục cung cấp các số liệu, đồng thời phối hợp điều tra.

Ba là, cục PVTM thực hiện chức năng quản lý nhà nước về PVTM, với

các nhiệm vụ là phát hiện, thụ lý, điều tra và kiến nghị áp dụng các biện pháp

PVTM. Để thực hiện nhiệm vụ này đòi hỏi Cục PVTM phải có một vị trí

pháp lý tương xứng. Bởi lẽ, để chứng minh rằng các doanh nghiệp nước ngồi

45



có hay không hành vi bán phá giá hoặc trợ cấp từ chính phủ thì buộc phải có

q trình điều tra, thu thập số liệu. Tuy nhiên, với vị trí là cấp cục thì rất khó

trong việc tiếp cận, đối thoại để thu thập các thông tin, số liệu, đặc biệt là các

chứng cứ để chứng minh rằng đã tồn tại trợ cấp của chính phủ nước ngồi cho

hàng hóa xuất khẩu vào Việt Nam.

Bốn là, khi điều tra các vụ kiện PVTM của doanh nghiệp trong nước thì

hàng hóa của doanh nghiệp nước ngoài là đối tượng bị điều tra. Do liên quan

đến doanh nghiệp nước ngoài nên cơ quan ngoại giao của các nước có doanh

nghiệp bị điều tra thường có cơng hàm phản đối, đề nghị chấm dứt việc điều

tra mà khơng có lý do. Trong trường hợp này, xét về cấp ngoại giao thì cấp

cục khơng có thẩm quyền trả lời mà thẩm quyền thuộc Chính phủ. Trước thực

tế đó, để giải quyết thì Cục trưởng Cục PVTM báo cáo cho Bộ trưởng BCT để

xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Với một quy trình như vậy, để

có cơng văn phúc đáp phải mất rất nhiều thời gian, trải qua rất nhiều các thủ

tục, báo cáo, dẫn đến bị thụ động trong việc hội kiến, phúc đáp các công hàm

từ cơ quan ngoại giao nước ngồi.

Thứ hai, q trình điều tra, áp dụng biện pháp PVTM phải chịu sự chi

phối của các mệnh lệnh hành chính. Điều mà doanh nghiệp lo ngại nhất đó là

sự tác động, chi phối của các mệnh lệnh hành chính làm “méo mó” kết quả

điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM. Do vậy, ngay từ thời điểm thành lập

thiết chế để thay thế Cục Quản lý Cạnh tranh, rất nhiều kỳ vọng được đặt vào

một thiết chế với một vị trí pháp lý chủ động, độc lập sẽ được thành lập để

thực thi các biện pháp PVTM, nhưng cuối cùng Cục PVTM trực thuộc BCT

được thành lập để “gánh vác” chức năng giúp BCT thực thi các biện pháp

PVTM, điều này chẳng khác gì “bình mới nhưng rượu cũ”, làm cho doanh

nghiệp không khỏi lo ngại. Bởi lẽ, xét về bản chất thì khơng có gì thay đổi,

khi cơ quan tiến hành điều tra các biện pháp PVTM vẫn là cơ quan cấp cục

trực thuộc BCT, thuộc nhánh cơ quan hành pháp như trước đây. Sự thay đổi

46



có chăng là sự san sẽ bớt về chức năng, nhiệm vụ, nếu trước đây Cục Quản lý

Cạnh tranh vừa là cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh vừa thực thi các biện

pháp PVTM, thì bây giờ được giao cho hai cơ quan tách biệt đó là Ủy ban

Cạnh tranh quốc gia và Cục PVTM, nhưng mấu chốt vấn đề ở đây là cơ quan

thực thi các biện pháp PVTM vẫn là cấp cục trực thuộc BCT. Điều này đặt ra

một thực tế rằng, khi thụ lý đơn yêu cầu áp dụng biện pháp PVTM sẽ đặt Cục

PVTM trong bối cảnh phải giải quyết mối quan hệ đối lập giữa lợi ích của

doanh nghiệp với bên kia là lợi ích của quốc gia trong sự ràng buộc về vị thế

kinh tế, quan hệ ngoại giao. Vì lẽ rằng, áp dụng biện pháp PVTM không đơn

thuần là áp dụng chế tài kinh tế để trừng phạt đối với doanh nghiệp nước

ngoài khi có những hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh hoặc có sự trợ giúp

bất hợp pháp từ chính phủ nước ngồi, mà lúc này vai trò răn đe của biện

pháp PVTM đã vượt qua giới hạn của một biện pháp kinh tế đơn thuần khi nó

tác động tới mối tương quan về vị thế kinh tế, chính trị, đối ngoại giữa các

quốc gia với nhau. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, khi mà quan hệ đối tác

giữa các quốc gia được thiết lập dựa trên sự so sánh về vị thế kinh tế, chính trị

và quan hệ ngoại giao, dẫn đến các quốc gia có vị thế kinh tế yếu hơn, như

Việt Nam, muốn thiết lập mối quan hệ để phát triển với các quốc gia như Hoa

Kỳ, Nhật Bản hay Trung Quốc thì phải có những chính sách “khoan nhượng”,

và kết quả các mệnh lệnh hành chính sẽ được “dội xuống” nếu đối tượng bị

điều tra trong vụ việc PVTM là doanh nghiệp của các nước này. Trước bối

cảnh đó, với vị trí là Cơ quan thuộc BCT, thì rất khó để Cục PVTM đủ tính

độc lập, sự chủ động để tự quyết vấn đề, hướng tới bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp cho doanh nghiệp và người tiêu dùng.

2.1.1.1.2. Về cơ cấu, tổ chức của Cục Phòng vệ thương mại

Cơ cấu, tổ chức của Cục PVTM được quy định tại Nghị định số

98/2017/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định chức năng, nhiệm

47



vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công thương và Quyết định

số 3752/QĐ-BCT của Bộ trưởng Bộ Công thương quy định về chức năng,

nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục PVTM bao gồm 01 văn

phòng, 04 phòng và 01 trung tâm. Cụ thể:

TÊN ĐƠN VỊ



CƠ CẤU TỔ CHỨC

01 Cục trưởng



Lãnh đạo Cục PVTM



03 Phó cục trưởng

01 Phó Chánh văn phòng



Văn Phòng



04 Chun viên

01 Nhân viên



Phòng điều tra bán phá giá và trợ cấp



02 Phó trưởng phòng

06 Chun Viên

01 Phó trưởng phòng



Phòng điều tra thiệt hại và tự vệ



03Chuyên viên



Phòng xử lý phòng vệ thương mại nước ngồi



02 Phó trưởng phòng

04 Chun viên

02 Phó Trưởng phòng



Phòng pháp chế



02 Chun viên

01 Giám đốc

01 Trưởng phòng



Trung tâm thơng tin và cảnh báo



02 Phóng trưởng phòng

04 Chun Viên



Bảng 2.1.1.1.2.1 Cơ cấu tổ chức của Cục Phòng vệ thương mại12

12 http://www.trav.gov.vn/?page=structure , truy cập 15 giờ ngày 27/02/2019.



48



Để vụ việc điều tra đạt hiệu quả cao, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong

đó yếu tố nhân lực và tài chính của cơ quan điều tra đóng vai trò quan trọng.

Với một khối lương công việc “khổng lồ” 13nhưng hiện nay cơ quan điều tra

cụ thể là Phòng điều tra bán phá giá và trợ cấp có tất cả là 08 điều tra viên và

Phòng điều tra thiệt hại và tự về là 04 điều tra viên. Số điều tra viên này phải

thực hiện mọi công việc từ việc xem xét tính hợp thức của đơn kiện, đến khởi

xướng, tiến hành điều tra và kiến nghị biện pháp áp dụng…Thực tế này dẫn

đến thời gian giải quyết chậm trễ, các vụ việc tồn đọng, hiệu quả cơng việc

khơng cao. Một khía cạnh khác, theo quy định hiện hành, thì nguồn ngân sách

hoạt động của cơ quan điều tra được bố trí theo ngân sách hoạt động hàng

năm của Bộ Công thương. Quy định này làm hạn chế tính chủ động trong các

hoạt động của cơ quan điều tra, đặc biệt với đặc thù có nhiều hoạt động trong

và ngồi nước như cơ quan điều tra vụ việc phòng vệ thương mại. Do đó, để

cơng việc được giải quyết một cách kịp thời, chính xác thì cần bố trí số lượng

điều tra viên phù hợp với khối lượng công việc, đồng thời phải đảm bảo tính

chủ động về ngân sách hoạt động cho cơ quan điều tra.

2.1.1.1.3. Về chức năng, nhiệm vụ của Cục Phòng vệ thương mại

Theo quy định của pháp luật (điều 1 quyết định 3752/QĐ-BCT), Cục

PVTM có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương quản lý

nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật đối với lĩnh vực chống bán phá giá,

chống trợ cấp và tự vệ; tổ chức, quản lý hoạt động sự nghiệp dịch vụ công

thuộc lĩnh vực, phạm vi quản lý của Cục theo quy định của pháp luật và phân

cấp, ủy quyền của Bộ trưởng. Song song với chức năng này, nhiệm vụ của

Cục PVTM cũng được quy định tại Điều 2 quyết định này. Cụ thể:

Thứ nhất, xây dựng và trình Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành

hoặc đề nghị Bộ trưởng Bộ Cơng Thương trình cơ quan có thẩm quyền phê

13 Xem thống kê vụ việc tại http://chongbanphagia.vn/tong-hop-so-lieu-sc8.html



49



duyệt, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, đề án, chiến lược, cơ chế,

chính sách về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ;

Thứ hai, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, đề án,

chiến lược, cơ chế, chính sách về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ

sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, ban hành;

Thứ ba, ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn chuyên môn,

nghiệp vụ về chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ, các văn bản cá biệt và

văn bản nội bộ theo quy định của pháp luật;

Thứ tư, quản lý nhà nước về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ

đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam;

Thứ năm, quản lý nhà nước về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự

vệ đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam;…14

Như vậy, so với chức năng nhiệm vụ của Cục PVTM hiên nay đã mang

tính chuyên ngành rõ rệt hơn trước kia khi mà những nhiệm vụ được Cục

Quản lý Cạnh tranh – Bộ Công thương đảm nhiệm. Tuy nhiên, việc quyết

định áp dụng các biện pháp PVTM hiện nay theo quy định vẫn là thuộc thẩm

quyền của Bộ trưởng Bộ Công thương, điều này là không hợp lý. Bởi lẽ, việc

điều tra, xem xét liệu có hành vi bán phá giá, trợ cấp hay không, cần áp dụng

biện pháp tự vệ là do Cục PVTM tiến hành. Bộ trưởng Bộ Cơng thương có

quyền ra quyết định có hay không áp dụng các biện pháp PVTM này trên cơ

sở đề nghị của Cục PVTM. Thực tế này dẫn đến trình tự thủ tục giải quyết

rườm rà, kéo dài. Bên cạnh đó quyết định của Bộ trưởng Bộ Cơng thương liệu

có buộc các cơ quan liên quan, đặc biệt là hải quan và thuế phải thực thi

nhanh chóng và hiệu quả. Vấn đề này sẽ được giải quyết nếu như với vị trí

nằm trong cơ quan trực thuộc Chính phủ, do đó cơ quan điều tra chỉ báo cáo

14 Xem thêm tại Điều 2 quyết định số 3752/QĐ-BCT



50



kết quả lên Thủ trưởng cơ quan phòng vệ thương mại để trình lên Thủ tướng

Chính phủ ra quyết định áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại.

2.1.1.2. Quy định về Bộ Công thương

Điều 1 Nghị định số 98/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 8 năm 2017 của

Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của

Bộ Công thương quy định: “Bộ Công Thương là cơ quan của Chính phủ, thực

hiện chức năng quản lý nhà nước về công nghiệp và thương mại, bao gồm các

ngành và lĩnh vực: Điện, than, dầu khí, năng lượng mới, năng lượng tái tạo,

hóa chất, vật liệu nổ cơng nghiệp, cơng nghiệp cơ khí, luyện kim, cơng nghiệp

khai thác mỏ và chế biến khống sản, cơng nghiệp tiêu dùng, cơng nghiệp

thực phẩm, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp môi trường, công nghiệp công

nghệ cao; cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khuyến công; thương mại

trong nước; xuất nhập khẩu, thương mại biên giới; phát triển thị trường ngoài

nước; quản lý thị trường; xúc tiến thương mại; thương mại điện tử; dịch vụ

thương mại; hội nhập kinh tế quốc tế; cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu

dùng, phòng vệ thương mại; các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc

phạm vi quản lý nhà nước của bộ”. Theo Luật Quản lý ngoại thương 2017, Bộ

trưởng Bộ Công thương là người chịu trách nhiệm trước Chính Phủ về việc

thực hiện quản lý Nhà nước về PVTM. Bộ trưởng Bộ Công thương có vai trò

quan trọng trong tồn bộ tiến trình điều tra, áp dụng biện pháp PVTM theo

pháp luật Việt Nam. Dựa vào kết quả điều tra của Cục PVTM, Bộ trưởng Bộ

Cơng thương có quyền quyết định cho hưởng miễn trừ theo các quy định của

pháp luật; quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp tạm

thời/chính thức và quyết định áp dụng các biện pháp tự vệ tạm thời/chính thức

theo quy định của pháp luật; quyết định biên chế của Cục PVTM; bổ nhiệm,

miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật Cục trưởng và các

phó Cục trưởng theo quy định của pháp luật,…

51



2.1.2. Quy định về cơ quan quản lý Nhà nước phối hợp trong hoạt

động điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại

Việc điều tra, áp dụng biên pháp PVTM là một q trình diễn ra rất

phức tạp khơng chỉ diễn ra phạm vi trong nước mà còn phải tiến hành điều tra

ở nước ngồi. Do vậy, ngồi vai trò của cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp

thực hiện hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM thì cơ quan quản lý

Nhà nước phối hợp trong điều tra vụ việc PVTM cũng có vai trò khơng hề

nhỏ.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, cơ chế phối hợp giữa các “thiết

chế” này được quy định tại Điều 6, Điều 22, Điều 76, Điều 110, Điều 111

Luật quản lý ngoại thương 2017; Điều 89, Điều 90, Điều 93 Nghị định

10/2018/NĐ-CP; chương VII nghị định 69/2018/NĐ-CP. Một trong số các cơ

quan đó bao gồm: như Cơ quan hải quan Việt Nam phối hợp với Bộ Công

Thương trong việc giám sát thực hiện chế độ khai báo nhập khẩu đối với hàng

hóa bị điều tra; kiểm sốt, quản lý việc áp dụng biện pháp hạn ngạch nhập

khẩu, hạn ngạch thuế quan; cung cấp số liệu, thơng tin về hàng hóa bị điều tra

nhập khẩu vào Việt Nam theo đề nghị của Cơ quan điều tra một cách đầy đủ,

kịp thời; phối hợp với Cơ quan điều tra cung cấp các số liệu, thông tin không

định danh về số lượng, khối lượng, trị giá hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu liên

quan đến việc điều tra, áp dụng và xử lý các biện pháp phòng vệ thương mại

theo yêu cầu của doanh nghiệp, hiệp hội ngành, nghề. Các bộ (điển hình như

Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp), cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân

dân cấp tỉnh, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khác, trong phạm

vi quyền hạn, chức năng, chịu trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu, ý kiến

đánh giá trên cơ sở đề nghị của Bộ Cơng Thương, giải trình các nội dung khi

cơ quan điều tra nước ngoài điều tra tại chỗ theo sự điều phối của Bộ Cơng

Thương; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trong phạm vi chức

52



năng, quyền hạn, phối hợp với Bộ Công Thương hướng dẫn, trợ giúp các

thương nhân khi bị nước ngoài điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ

thương mại, thực hiện các hoạt động trợ giúp khác theo đề nghị của Bộ Công

Thương; cung cấp các thông tin, số liệu về xuất nhập khẩu, tình hình hoạt

động sản xuất kinh doanh của các ngành hàng phụ trách theo đề nghị của Cơ

quan điều tra. Cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài có trách nhiệm thu

thập, theo dõi thơng tin, thơng báo của cơ quan liên quan của nước nhập khẩu

về các biện pháp phòng vệ thương mại và kịp thời thơng báo về Bộ Cơng

Thương, hỗ trợ tìm hiểu các dịch vụ tư vấn pháp lý theo đề nghị của Bộ Cơng

Thương...vv.

Tuy đã có những quy định u cầu các cơ quan quản lý Nhà nước về

các lĩnh vực liên quan phải tiến hành phối hợp, hỗ trợ nhau trong hoạt dộng

điều tra áp, dụng biện pháp PVTM nhưng còn chưa thực sự hiệu quả. Các quy

định này thực tế trong thời gian qua, việc triển khai hoạt động phối hợp trong

hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM mới chỉ dừng lại ở việc phát

triển theo chiều rộng, chưa phát triển đến chiều sâu dẫn đến kết quả mang lại

vẫn chưa được như mong đợi. Ví dụ sự hiểu biết trong lĩnh vực phòng vệ

thương mại của các cơ quan quản lý Nhà nước còn nhiều hạn chế dẫn đến

việc đưa ra những chính sách vi phạm các Hiệp định WTO, gây ra các vụ kiện

liên quan đến trợ cấp đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh đó,

pháp luật quy định việc Cơ quan chủ trì và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên

quan chịu trách nhiệm trước pháp luật về hậu quả phát sinh do không phối

hợp hoặc phối hợp không đáp ứng được yêu cầu Luật định nhưng lại khơng

có quy định các cơ quan này phải chịu trách nhiệm cụ thể là gì và như thế

nào. Nếu cơ quan này có những thơng tin mấu chốt quyết định đến việc điều

tra, áp dụng biện pháp PVTM mà không phối hợp, cung cấp cho cơ quan có

thẩm quyền dẫn đến thiệt hại đáng kể thì việc chứng minh hậu quả này có

phải do hành vi không phối hợp này gây ra hay không là rất khó và hầu như là

53



khơng thể. Điều này dẫn đến sự cần thiết phải hợp tác một cách trung thực

giữa các cơ quan để việc thực thi pháp luật mang lại được hiệu quả hơn. Các

quy định trong cơ chế hợp tác quản lý cũng cần phải rõ ràng, minh bạch và

mang lại hiệu quả.

2.1.3. Những quy định về các tổ chức xã hội liên quan trong hoạt

động điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại

Trong lĩnh vực PVTM mà cụ thể hơn là việc yêu cầu điều tra, áp dụng

biện pháp PVTM theo quy định của Luật quản lý ngoại thương 2017, căn cứ

để điều tra, áp dụng biện pháp PVTM thì tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ yêu

cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá được coi là đại diện cho ngành sản

xuất trong nước khi có đủ các điều kiện sau đây:

Một là, tổng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa tương tự được sản xuất

của các nhà sản xuất trong nước nộp hồ sơ và các nhà sản xuất trong nước

ủng hộ việc yêu cầu áp dụng biện pháp PVTM phải lớn hơn tổng khối lượng

hoặc số lượng hàng hóa tương tự được sản xuất của các nhà sản xuất trong

nước phản đối việc yêu cầu áp dụng biện pháp PVTM;

Hai là, tổng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa tương tự được sản xuất

của các nhà sản xuất trong nước nộp hồ sơ và các nhà sản xuất trong nước

ủng hộ việc yêu cầu áp dụng biện pháp PVTM chiếm ít nhất 25% tổng khối

lượng hoặc số lượng hàng hóa tương tự được sản xuất của ngành sản xuất

trong nước.

Như vậy, để đáp ứng các điều kiện này vai trò của Hiệp hội ngành hàng

là không hề nhỏ. Thực trạng là nhiều doanh nghiệp chưa mặn mà tham gia

hiệp hội. Một số hiệp hội cũng chưa chứng tỏ vai trò của mình trong thời kỳ

hội nhập kinh tế thế giới. Xảy ra tình trạng này trước hết là do nhận thức

nhiều người quá đề cao vai trò Nhà nước, nhiều doanh nghiệp cho rằng Nhà

nước có thể giải quyết mọi công việc trong xã hội, hiệp hội chỉ là tổ chức phụ

54



trợ, thứ yếu và mang tính biểu tượng. Đây là quan điểm hết sức sai lầm về vai

trò và tầm quan trọng của hiệp hội trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở

nước ta hiện nay. Bên cạnh đó, PVTM là một cơng cụ “tập thể” vì vậy, khả

năng tập hợp lực lượng doanh nghiệp đảm bảo đại diện cho ngành sản xuất là

một yếu tố quan trọng trong các vụ kiện PVTM. Tuy nhiên khả năng này trên

thực tế là rất khó thực hiện. Quy định này khơng tương thích với các quy định

tại hiệp định về tự vệ (hiệp định SG - SG Agreement), theo đó hiệp định này

khơng đòi hỏi các nước thành viên phải quy đinh “cứng” về điều kiện yêu cầu

áp dụng biện pháp tự vệ.

Hơn nữa, trong quá trình điều tra, áp dụng biện pháp PVTM khơng thể

thiếu sự có mặt của các Hiệp hội ngành hàng trong việc thu thập thông tin,

chứng cứ. Nhận thấy điều này mà pháp luật đã quy định trách nhiệm của các

Hiệp hội ngành hàng trong hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM tại

Luật quản lý ngoại thương 2017, nghị định số 10/2018/NĐ-CP của Chính phủ

đó là phối hợp với Bộ Cơng Thương theo dõi các thông tin về thị trường xuất

khẩu để đánh giá nguy cơ nước ngoài điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ

thương mại với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, thông báo các thông tin

liên quan đến vụ việc nước ngoài điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ

thương mại tới các thành viên, xem xét tham gia bên liên quan trong vụ việc,

thực hiện các hoạt động khác theo đề nghị của Bộ Công Thương; cung cấp

các thông tin, số liệu về xuất nhập khẩu, tình hình hoạt động sản xuất kinh

doanh của các ngành hàng phụ trách theo đề nghị của Cơ quan điều tra; Các

hiệp hội ngành, nghề trong phạm vi chức năng, quyền hạn, phối hợp với Cơ

quan điều tra cung cấp các thơng tin, số liệu về xuất nhập khẩu, tình hình hoạt

động sản xuất kinh doanh của các ngành hàng phụ trách theo đề nghị của Cơ

quan điều tra.



55



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×