Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

(Advisory Committee) về các biện pháp PVTM, Ủy ban châu Âu sẽ đệ trình

đề xuất lên Hội đồng châu Âu (European Council) để cơ quan đó ra quyết

định cuối cùng hay tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa là Bộ Thương

mại Trung Quốc và Uỷ ban Thuế quan Hội đồng Nhà nước; tại Hợp chúng

quốc Hoa Kỳ là Bộ Thương mại (United States Department of Commerce USDOC) và Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ ( United States

International Trade Center - USITC), Tổng thống có quyền quyết định cuối

cùng có tiến hành điều tra hay khơng, quyết định về hình thức và thời hạn áp

dụng các biện pháp tự vệ tạm thời/chính thức; tại Canada, cơ quan có thẩm

quyền điều tra, áp dụng biện pháp PVTM bao gồm: Cục dịch vụ Biên giới

Canada (Canada Border Services Agency - CBSA) và Tòa án Thương mại

quốc tế Canada (Canadian International Trade Tribunal – CITT).

Nhìn chung tên gọi khác nhau nhưng các cơ quan này đều mang tính

“lưỡng tính” hay bản chất là “hành chính bán tư pháp”. Điều này có nghĩa là

cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM vừa là cơ quan hành chính, chịu

trách nhiệm thực thi các chính sách, pháp luật theo chỉ đạo của cơ quan chủ

quản, vừa là cơ quan hoạt động mang tính tài phán khi có quyền ra quyết định

điều tra, áp dụng biện pháp PVTM đối với các bên có hành vi vi phạm pháp

luật. Sự kết hợp hai đặc tính “hành chính” và “tư pháp” là yếu tố đảm bảo cho

cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM thực hiện đầy đủ các chức năng,

nhiệm vụ của mình.

Về vị trí pháp lý, thực tiễn cho thấy, cơ quan điều tra, áp dụng biện

pháp PVTM được thành lập và tổ chức theo những mơ hình riêng biệt và có

tính đặc thù. Vị trí pháp lý của những cơ quan này có thể là cơ quan trực

thuộc Bộ hay là cơ quan trực thuộc Chính phủ\Tổng thống hay là cơ quan trực

thuộc Quốc Hội. Bên cạnh đó, để Nhà nước quản lý về PVTM nói chung và

điều tra, áp dụng biện pháp PVTM nói riêng, tùy vào từng mơ hình quản lý

15



mà có một hoặc hai hay nhiều cơ quan được giao nhiệm vụ này. Việc lựa chọn

này là tùy thược vào mỗi quốc gia tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được tính độc

lập trong việc quản lý và xử lý về điều tra, áp dụng biện pháp PVTM của

mình, tính cơng bằng, minh bạch. Bởi lẽ, pháp luật về chống bán phá giá,

chống trợ cấp và tự vệ là một trong những phần phức tạp nhất trong hệ thống

pháp luật thương mại quốc tế, không những để đảm bảo quyền và lợi ích hợp

pháp của các doanh nghiệp sản xuất trong nước trước áp lực cạnh tranh của

hàng hóa nhập khẩu mà còn đảm bảo sự hợp tác các quốc trong bối cảnh hội

nhập kinh tế quốc tế.

Từ những nghiên cứu ở trên, ta có thể đưa ra kết luận: Cơ quan điều

tra, áp dụng biện pháp PVTM là một hay một hệ thống các cơ quan nằm

trong hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước của mỗi quốc gia và mang tính chất

hành chính bán tư pháp. Tùy vào cơ chế tổ chức và chính sách của mỗi quốc

gia mà cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM có thể thuộc Bộ hoặc

thuộc Chính phủ/ Tổng thống hoặc thuộc Quốc hội. Cơ quan này có nhiệm vụ

phát hiện, thụ lý đơn khởi kiện vụ việc PVTM, điều tra mức độ bán phá giá,

mức trợ cấp, mức tăng trưởng nhập khẩu, điều tra thiệt hại do các hành vi

trên gây ra đối với ngành sản xuất trong nước và ra quyết định xử lý vụ việc

dựa trên cơ sở điều tra của cơ quan trên.

Trên cơ sở pháp luật Việt Nam hiện hành và những phân tích ở trên, tác

giả đưa ra khái niệm về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM như sau:

Cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM là hệ thống các cơ quan, tổ chức

trực tiếp hoặc hỗ trợ trong hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM. Từ

khái niệm này, chúng ta có thể nhận diện các nhóm cơ quan điều tra, áp dụng

biện pháp PVTM như sau:

Nhóm thứ nhất, cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp thực hiện hoạt

động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM. Bao gồm: Cục PVTM, Bộ Cơng

thương.

16



Nhóm thứ hai, cơ quan quản lý Nhà nước phối hợp trong hoạt động

điều tra, áp dụng biện pháp PVTM. Bao gồm một số cơ quan sau: Hải quan,

các Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh, các cơ quan quản lý nhà nước có

thẩm quyền khác, cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài, phòng Thương

mại và cơng nghiệp,…

Nhóm thứ ba, các tổ chức xã hội liên quan trong hoạt động điều tra, áp

dụng biện pháp PVTM. Bao gồm các hiệp hội ngành, nghề.

1.1.1.2. Đặc điểm về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM

Các cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM dù được thành lập và

tổ chức theo mơ hình nào đi chăng nữa thì cũng mang trong mình những đặc

điểm riêng biệt so với các cơ quan khác trong hệ thống Nhà nước. Cụ thể:

Thứ nhất, cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM là một hay một

hệ thống các cơ quan nằm trong hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước của mỗi

quốc gia.

Bởi lẽ, sử dụng cơng cụ PVTM là một phần trong chính sách thương

mại của quốc gia. PVTM có mục đích nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp

nội địa khỏi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Để đảm bảo thực hiện một

cách hiệu quả nhất vai trò của cơ quan Nhà nước là không thể thiếu. Dưới sự

quản lý của cơ quan này bằng một hệ thống pháp luật PVTM hiệu lực cao, các

doanh nghiệp sẽ có một sân chơi bình đẳng, lành mạnh, vươn tầm thế giới có

thể cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa cũng như thì

trường nước ngồi.

Tùy vào cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước, điều kiện của mỗi quốc gia

mà việc điều tra, áp dụng biên pháp PVTM có thể giao cho một cơ quan có

thẩm quyền chung tiến hành hoặc là được giao cho 2 hoặc 3 cơ quan riêng

biệt.

17



Thứ hai, Cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM có nhiệm vụ phát

hiện, thụ lý đơn khởi kiện vụ việc PVTM, điều tra mức độ bán phá giá, mức

trợ cấp, mức tăng trưởng nhập khẩu, điều tra thiệt hại do các hành vi trên gây

ra đối với ngành sản xuất trong nước và ra quyết định xử lý vụ việc dựa trên

cơ sở điều tra của cơ quan điều tra.

Với những mơ hình khác nhau về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp

PVTM thì chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan này trong hệ thống quản lý

Nhà nước về PVTM cũng có sự khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung các cơ

quan này có chức năng, nhiệm vụ cơ bản như trên.

Thứ ba, cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM mang tính chất

hành chính bán tư pháp. Điều này có nghĩa là cơ quan điều tra, áp dụng biện

pháp PVTM vừa mang trong mình tính chất của một cơ quan hành pháp vùa

mang trong mình tính chất của cơ quan tư pháp.

Qua thực tiễn nghiên cứu cho thấy, cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp

PVTM có thể thuộc Bộ hoặc thuộc Chính phủ/ Tổng thống hoặc thuộc Quốc

hội, có chức năng chính đó là quản lý Nhà nước về PVTM, là công cụ để Nhà

nước thực thi những chính sách, pháp luật về PVTM của mỗi quốc gia (tính

chất hành pháp). Ngồi ra, cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM có

những hoạt động mang tính tài phán. Cụ thể, ngồi nhiệm vụ phát hiện, điều

tra mức độ bán phá giá, mức trợ cấp, mức tăng trưởng nhập khẩu, điều tra

thiệt hại do các hành vi trên gây ra đối với ngành sản xuất trong nước thì cơ

quan này còn có nhiệm vụ thụ lý đơn khởi kiện vụ việc PVTM và ra quyết

định xử lý vụ việc dựa trên cơ sở điều tra của cơ quan điều tra. Để có thể ra

quyết định xử lý vụ viện về PVTM, cơ quan này phải thơng qua các trình tự

thủ tục chặt chẽ, được pháp luật quy định và thủ tục điều trần hay tham vấn

(có tính chất như một phiên tòa khi mà các bên liên quan có quyền trình bày

quan điểm, cung cấp chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc PVTM) đối với

18



các bên liên quan là không thể thiếu và các quyết định xử lý vụ việc PVTM

có thể bị khiếu nại, khởi kiện (tính chất tư pháp).

1.1.2. Nguồn gốc hình thành và phát triển Cơ quan điều tra, áp

dụng biện pháp phòng vệ thương mại

Trên thế giới, sự ra đời và phát triển của cơ quan điều tra, áp dụng biện

pháp PVTM có sự khác biệt. Chẳng hạn ở Canada, ngày 10/8/1904, các quy

định đầu tiên về chống bán phá giá đã được thông qua. Những quy định chống

bán phá giá này được hình thành từ việc sửa đổi Đạo luật thuế hải quan năm

1897 của nước này. Tiếp theo đó, vào năm 1905 và năm 1906, các quy định

chống bán phá giá đã lần lượt được New Zealand và Australia áp dụng.

Năm 1890, Hoa Kỳ áp dụng một mức thuế chống trợ cấp chung đối với

đường nhập khẩu được nước ngồi trợ cấp vào Hoa Kỳ. Sau đó, năm 1897,

Hoa kỳ ban hành quy định theo đó tất cả các mặt hàng nhập khẩu được nước

ngoài trợ cấp đều có thể bị đánh thuế chống trợ cấp. Các quy định về thuế

chống trợ cấp sau đó được thay thế bởi Mục 303 Luật Thuế Fordney –

McCumber năm 1922 (mở rộng diện điều chỉnh với cả trợ cấp sản xuất), và

sau đó được thay thế bởi Mục 303 Luật Thuế quan năm 1930. Tiếp sau Hoa

Kỳ, đã có nhiều nước khác có quy định về áp dụng thuế chống trợ cấp.

Năm 1947, với sự ra đời của GATT (General Agreement of Tariffs and

Trade - Hiệp định chung về thuế quan và thương mại), vấn đề chống bán phá

và tự vệ mới được đặt dưới sự chi phối của luật quốc tế, thông qua Điều 6 và

Điều 19 của Hiệp định này. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại lúc

ấy chưa đề cập đến vấn đề trợ cấp. Tại thời điểm đó, hai chủ đề chống bán

phá giá và tự vệ chưa được đưa ra tranh cãi nhiều mà chỉ về sau này, khi các

dòng chảy thương mại phát triển ngày càng nhanh, sự cạnh tranh ngày càng

trở nên gay gắt hơn và khốc liệt hơn và các nước thành viên của GATT cũng

đơng hơn thì các biện pháp đảm bảo công bằng trong thương mại quốc tế mới

19



thực sự trở thành mối quan tâm chính, ngày càng lớn qua các vòng thương

thảo tiếp nối nhau.

Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) được ký kết từ

năm 1947 và ngay sau đó, năm 1948 hệ thống thương mại đa biên được thiết

lập. Điều 6 và Điều 19 GATT đã có quy định liên quan đến trường hợp một

ngành công nghiệp cho rằng việc bán phá giá đã gây thiệt hại cho ngành sản

xuất của họ hoặc việc nhập khẩu quá mức gây thiệt hại nghiêm trọng đối với

ngành sản xuất nội địa. Những điều khoản này cho phép chính phủ được áp

đặt “thuế chống bán phá giá” hoặc “thuế tự vệ” lên hàng hóa nhập khẩu nhằm

loại bỏ tác động tiêu cực.

Hiệp định GATT 1947 không có các quy định về thủ tục áp dụng biện

pháp chống bán phá giá và tự vệ. Hiệp định mặc nhiên thừa nhận quyền tự do

của các quốc gia trong việc xây dựng các thủ tục điều tra, áp dụng thuế chống

bán phá giá và áp dụng biện pháp tự vệ. Tình trạng này là nguyên nhân chủ

yếu để nhiều nước lợi dụng áp dụng pháp luật chống bán phá giá và tự vệ như

là cơng cụ thực hiện chính sách bảo hộ thái quá thị trường nội địa.

Kết thúc vòng đàm phán Tokyo các bên cũng đã cho ra đời Hiệp định

Tokyo (có hiệu lực từ năm 1980) và Hiệp định này đã cho thấy một sự tiến bộ,

thể hiện ở việc cung cấp khá nhiều hướng dẫn chi tiết cụ thể hoá hiệp định

chung. Hiệp định đã đưa ra quy trình, thủ tục tiến hành và các vấn đề cần

được hoàn thiện trong giai đoạn điều tra cùng với sự ra đời của Tổ chức

Thương mại Thế giới (WTO) các bên đã ký kết Hiệp định về Chống bán phá

giá, chống trợ cấp và tự vệ chính thức ra đời.1

Để thực thi pháp luật về PVTM mà các quốc gia đã quy định cũng như

đã tham gia ký kết tại các Hiệp định quốc tế thì khơng thể thiếu cơ chế quản

lý và hoạt động cơ quan có thẩm quyền về PVTM của từng quốc gia.

1 Vũ Thu Trang (2012), “Pháp luật về Cơ quan quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự

vệ thương mại ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội,tr18-19;



20



Lịch sử hình thành và phát triển của cơ quan điều tra, áp dụng biện

pháp PVTM bắt đầu từ năm 1916 với việc Hoa Kỳ lập ra Ủy ban Thuế quan

(sau này đổi tên thành Ủy ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ - USITC). Sau đó

Canada cũng thành lập Cục dịch vụ biên giới (Canada Border Services

Agency - CBSA) năm 1921, Nam Phi thành lập Ban Thương mại và Công

nghiệp năm 1923. 2 Với sự hình thành và phát triển của pháp luật về chống

bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thì kể từ đây nhiều nước trên thế giới đã

thành lập các cơ quan chuyên trách về vấn đề PVTM. Tuy nhiên, mơ hình

hoạt động của cơ quan quản lý về PVTM trên thê giới rất đa dạng. Nhìn

chung khơng khơng có mơ hình quốc gia nào giống hoàn toàn nhau mà mỗi

quốc gia đều xây dựng một mơ hình riêng biệt phù hợp với u cầu, nhiệm vụ

và điều kiện của nước mình.

Ở Việt Nam, mơ hình về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM ra

đời khá muộn so với các nước khác. Điều này được thể hiện qua sơ đồ sau:



Bảng 1.1.2.1. Sơ đồ cơ quan PVTM trước tháng 8/2017 theo pháp luật Việt Nam

2 Đinh Thị Mỹ Loan (2007), “Xây dựng mơ hình cơ quan quản lý Nhà nước về cạnh tranh, chống bán phá

giá, chống trợ cấp và tự vệ trong thương mại quốc tế. Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho Việt Nam”, Đề tài

nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội, tr81;



21



Bảng 1.1.2.2. Sơ đồ cơ quan PVTM trước tháng 8/2017 theo pháp luật Việt Nam3







Trước đây, cơ quan điều PVTM đó chính là Cục quản lý cạnh

tranh cụ thể là phòng điều tra vụ kiện PVTM, phòng xử lý vụ kiện PVTM và

Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại.

Tiền thân của Cục quản lý cạnh tranh là Ban Quản lý cạnh tranh được thành

lập trực thuộc Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) được thành lập năm

2003.Theo khoản 1 Điều 1 Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 9/1/2006 về

việc thành lập, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức

của Cục quản lý cạnh tranh, Cục Quản lý cạnh tranh ngoài chức năng giúp Bộ

trưởng Bộ Công thương thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh, còn thực

hiện chức năng chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ

đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

phối hợp với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trong việc đối phó với

các vụ kiện trong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp

dụng các biện pháp tự vệ. Cục Quản lý cạnh tranh do Chính phủ thành lập và

3 Phạm Thị Quỳnh Chi, Những điểm mới trong pháp luật Việt Nam về PVTM – đánh giá tác động đối với

việc kiện PVTM ở Việt Nam, http://chongbanphagia.vn/Modules/News/Uploaded/38/201811151646267141slide-cuc-pvtm--vie.pdf, truy cập ngày 28/02/2019.



22



quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức. Cục trưởng Cục

Quản lý cạnh tranh do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ

trưởng Bộ Công thương. Cũng theo Nghị định này chức năng, nhiệm vụ chính

của Cục Quản lý cạnh tranh được thể hiện trên ba lĩnh vực chính đó là: cạnh

tranh, phòng vệ thương mại và bảo vệ người tiêu dùng. Hội đồng xử lý vụ

việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại là tổ chức trực

thuộc Bộ Cơng thương có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Công thương xem

xét việc áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và áp dụng các

biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam trên cơ sở các kết

luận và kết quả điều tra vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và áp dụng

các biện pháp tự vệ của Cục Quản lý cạnh tranh. Tuy nhiên, mơ hình này hiện

nay ở Việt Nam đã có sự thay đổi lớn.

Sỡ dĩ có sự thay đổi này là do theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công

thương, ngày 18 tháng 8 năm 2017 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị

định số 98/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu

tổ chức Bộ Công thương. Theo đó đã tách Cục Phòng vệ thương mại và Cục

Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng trên cơ sở Cục Quản lý Cạnh tranh.

Căn cứ vào quyết định số 3752/QĐ-BCT của Bộ trưởng Bộ Công thương quy

định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Phòng vệ

thương mại thì Cục Phòng vệ thương mại là tổ chức thuộc Bộ Công Thương,

thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương quản lý nhà

nước và tổ chức thực thi pháp luật đối với lĩnh vực chống bán phá giá, chống

trợ cấp và tự vệ; tổ chức, quản lý hoạt động sự nghiệp dịch vụ công thuộc lĩnh

vực, phạm vi quản lý của Cục theo quy định của pháp luật và phân cấp, ủy

quyền của Bộ trưởng. Cục Phòng vệ thương mại có cơ cấu tổ chức bao gồm:

Văn phòng; Phòng Điều tra bán phá giá và trợ cấp; Phòng Điều tra thiệt hại và

tự vệ; Phòng Xử lý phòng vệ thương mại nước ngồi; Phòng Pháp chế; Trung

tâm Thơng tin và Cảnh báo.

23



1.1.3. Vai trò của Cơ quan điều tra trong việc điều tra, áp dụng

biện pháp phòng vệ thương mại

Q trình thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế

giới giúp nền kinh tế phát triển, đặc biệt các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa

có cơ hội tăng thị phần, mở rộng thị trường kinh doanh. Bên cạnh đó, để thực

hiện các cam kết theo hiệp định thương mại, các quốc gia phải loại bỏ hàng

rào phi thuế quan, giảm thuế nhập khẩu. Điều này không chỉ làm cho hàng

hóa từ các quốc gia có cơ hội cạnh tranh với nhau trên “đất khách” mà còn là

sự cạnh tranh của hàng hóa nội địa với “những vị khách” của mình. Đứng

trước thách thức về cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường nội địa khi

mà các hàng rào thuế quan và phi thuế quan được nới lỏng dần dần tiến tới

dỡ bỏ, các quốc gia đã tăng cường sử dụng các công cụ bảo hộ thông qua các

biện pháp bảo đảm thương mại công bằng của WTO, một trong số đó có

phòng vệ thương mại.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp sản xuất

trong nước trước áp lực cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu việc sử dụng các

biện pháp phòng vệ thương mại là tất yếu.

Trên thực tế, pháp luật về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ là

một trong những phần phức tạp nhất trong hệ thống pháp luật thương mại

quốc tế. Để đáp ứng xu thế hội nhập và ứng phó với những diễn biến khó

lường của thương mại quốc tế và khu vực, việc xuất hiện cơ quan chuyên

trách về lĩnh vực phòng vệ thương mại là yêu cầu cấp bách.

Chính với những lí do này mà cơ quan điều tra trong việc điều tra, áp

dụng biện pháp PVTM có vai trò sau:

Thứ nhất, đối với nền kinh tế thị trường, sự có mặt của cơ quan điều tra

trong việc điều tra, áp dụng biện pháp PVTM đồng thời với việc thực thi và

giám sát thực hiện pháp luật PVTM của các chủ thể tham gia thị trường sẽ tạo

nền tàng cơ bản cho q trình cạnh tranh với hàng hóa nước ngồi cũng như

24



qua trình hội nhập nền kinh tế thế giới. Thơng qua thơng qua việc thực thi các

chính sách PVTM của cơ quan này mà Nhà nước có thể quản lý về chống bán

phá giá, chống trợ cấp và tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa xuất

khẩu. Các biện pháp PVTM này nhằm bảo vệ/hỗ trợ ngành sản xuất trong

nước của các nước thành viên trước những hành vi thương mại không lành

mạnh (bán phá giá, trợ cấp) hoặc ứng phó với sự gia tăng nhập khẩu đột biến

(tự vệ).

Rõ ràng là cơ quan điều tra trong việc điều tra, áp dụng biện pháp

PVTM giữ một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế thị trường. Dưới sự điều

chỉnh của cơ quan này bằng một hệ thống pháp luật PVTM hiệu lực cao, các

doanh nghiệp sẽ có một sân chơi bình đẳng, lành mạnh, vươn tầm thế giới có

thể cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa cũng như thì

trường nước ngồi trong đó người tiêu dùng sẽ mua hàng hóa/dịch vụ với chất

lượng tốt nhất và giá cả rẻ nhất có thể.

Thứ hai, đối với xã hội, việc thực thi hệ thống pháp luật PVTM của cơ

quan điều tra trong việc điều tra, áp dụng biện pháp PVTM thông qua những

cơ chế giám sát, phát hiện xử lý hay đưa ra các phán quyết sẽ là một áp lực

không nhỏ đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Khi một cuộc điều tra

được tiến hành thì ngay lập tức nó sẽ gây ra sự bất ổn đối với các mặt hàng

xuất khẩu là đối tượng điều tra từ các nước xuất khẩu, từ đó sẽ có sự dịch

chuyển đáng kể nguồn lực xã hội vào sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

còn thiếu, qua đó nâng cao năng lực sản xuất của tồn xã hội. Việc tạo ra một

mơi trường kinh doanh bình đẳng, cơng bằng tất yếu sẽ xuất hiện những

doanh nghiệp chấp nhận và thích nghi được với môi trường mới và rõ ràng

những doanh nghiệp này sẽ ngày càng lớn mạnh nhờ làm ăn hiệu quả.

Ngoài ra, việc cơ quan điều tra trong việc điều tra, áp dụng biện pháp

PVTM thực thi nghiêm túc các chính sách PVTM sẽ góp phần tạo dựng sự

phát triển bền vững của nền kinh tế, mang lại lợi ích cho đất nước.

25



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×