Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chính sách tài khoá:

Chính sách tài khoá:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thu - chi NSNN thực hiện trong giai đoạn 2001 - 2015 liên tục tăng cao hàng năm. Bình

quân tốc độ tăng thu giai đoạn 2001 - 2011 là 20,97%, tốc độ tăng chi là 20,28%, trong

khi đó tốc độ tăng GDP giá thực tế là 17,38%.

So với số dự toán, thu - chi thực hiện của các năm giai đoạn 2001 - 2011 đều vượt khá

cao Tổng thu thực hiện so dự tốn hàng năm giai đoạn này bình quân vượt 21,27% và

tổng chi vượt dự toán khoảng 14,24%. Số thu thực hiện vượt dự toán là cao hơn mức

vượt chi. Tuy nhiên, do số tuyệt đối về chi NSNN ở các năm đều cao hơn so với số thực

hiện thu NSNN, cho nên số tuyệt đối về thâm hụt NSNN vẫn có xu hướng tăng.

Tóm lại, cùng với các chính sách kinh tế vĩ mơ khác, khi thực hiện mục tiêu thúc đẩy

tăng trưởng CSTK được thực hiện theo hướng nới lỏng và khi chống lạm phát thì được

thực hiện theo hướng thắt chặt.





Đánh giá những kết quả đạt được

- Chủ động áp dụng các biện pháp về thuế, kiểm tra và giám sát việc kê khai và thu

nộp thuế, hạn chế thất thoát nguồn thu nhằm tăng thu ngân sách góp phần giảm bội

chi ngân sách từ đó giúp chính phủ chủ động hơn trong điều tiết cung tiền giúp

chống lạm phát.

- Chính phủ xem xét, miễn, giảm thuế và gia hạn nộp thuế nguyên liệu đầu vào,

đặc biệt là các ngành sản xuất hàng xuất khẩu, những ngành mà nguyên liệu trong

nước còn thiếu như da, giầy, dược phẩm… từ đó giúp sản xuất trong nước phát

triển tăng cung hàng hóa

- Tăng thuế xuất khẩu đối với những mặt hàng khơng khuyến khích xuất khẩu như

ngun, nhiên liệu thơ.

- Tiếp tục thực hiện chính sách hồn thuế đầu vào cho các mặt hàng thực xuất khẩu

nhằm giảm bớt khó khăn cho sản xuất







Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách chống lạm phát



- Hồn thiện chính sách thuế phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế theo hướng

tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ cho thị trường. Định hướng chính

sách thuế và thu NSNN nên theo hướng giảm thuế suất, mở rộng đối tượng chịu thuế;

tăng thuế suất thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng khơng khuyến khích nhập khẩu và

các mặt hàng có khả năng sản xuất trong nước, tăng thuế suất thuế xuất khẩu đối với

các sản phẩm từ khai thác tài nguyên., tránh thất toát nguồn thu,. Tiếp tục rà soát, điều

chỉnh và ban hành các văn bản, thông tư hướng dẫn thực hiện các chính sách thuế, phí

21



và chế độ thu cho phù hợp với tình hình thực tế; tiếp túc đẩy mạnh cơng tác cải cách

hành chính trong lĩnh vực Thuế và Hải quan nhằm giảm thiểu tối đa thời gian kê khai,

nộp thuế cho DN, khuyến khích các DN kê khai qua mạng.Tăng cường công tác thanh

tra, kiểm tra thuế tại DN và đẩy mạnh các hoạt động chống chuyển giá, chống buôn lậu

và gian lận thương mại… qua đó đã phát hiện và xử lý kịp thời nhiều trường hợp vi

phạm, gian lận, trốn lậu thuế.

- Thực hiện tiết kiệm chi thường xuyên và đẩy nhanh việc thực hiện các nhiệm vụ chi

đầu tư phát triển, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; đồng thời, tăng cường kiểm

soát chi ngân sách, bảo đảm tiết kiệm, chặt chẽ và hiệu quả.

- Đẩy mạnh quá trình sắp xếp cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và đổi mới cơ chế

tài chính đối với lĩnh vực sự nghiệp cơng. Hồn thiện cơ chế, chính sách tài chính liên

quan đến sắp xếp, cổ phần hoá DNNN, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm đẩy

nhanh kế hoạch sắp xếp, đổi mới DNNN. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối

với hoạt động của các Tập đồn, Tổng cơng ty nhà nước…; Tiếp tục cải thiện môi

trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp,

tổ chức kinh tế ngoài Nhà nước.

- Đẩy nhanh việc đổi mới cơ chế tài chính đối với lĩnh vực sự nghiệp công theo hướng

tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị; khẩn trương nghiên

cứu, ban hành cơ chế, chính sách thích hợp để từng bước điều chỉnh khung giá dịch vụ

công theo cơ chế thị trường đối với các dịch vụ giáo dục, y tế.

- Sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khố và một số chính sách kinh

tế vĩ mô khác. Hiện nay trong bối cảnh kinh tế thế giới sụt giảm, thì việc điều hành

chính sách tiền tệ trong quan hệ phối hợp chính sách tài khố nhằm mục tiêu góp phần

ngăn chặn nguy cơ sụt giảm nền kinh tế trong nước, nhưng đồng thời kiểm sốt được

lạm phát.

Qua những phân tích trên cho thấy thời gian qua Việt Nam đã có những thành cơng

nhất định trong việc kiểm soát và điều chỉnh lạm phát góp phần đưa đất nước phát

triển bền vững.







Tóm lại, thực tế điều hành CSTT và CSTK thời gian qua cho thấy đây là hai công

cụ quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mơ. NHNN và Bộ Tài chính thời gian qua

đã có những can thiệp linh hoạt thơng qua các cơng cụ của chính sách của mình.

Tuy nhiên, các mục tiêu kinh tế vĩ mơ trong đó có mục tiêu tăng trưởng kinh tế

không phải năm nào cũng đạt được do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ

quan. CSTT và CSTK trong thời gian qua đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện

mục tiêu kinh tế vĩ mô của Chính phủ.

22



II. Các giải pháp kiềm chế lạm pháp ở nước ta:

1. Giải pháp của Đảng và nhà nước:

Đảng cần nâng cao nhận thức chính trị, kinh tế. Đảng viên phải theo hướng đổi mới

trên mọi lĩnh vực. Đồng thời, nhà nước phải vững mạnh chun chính vơ sản, lậ lại

trật tự kỉ cương xã hội, đấu tranh không khoan nhượng, xoá bỏ những đặc quyền, đặc

lợi, những tư tưởng cục bộ địa phương đang làm trì trệ.

Để làm được việc này nhà nước cần ban hành những đạo luật chung về kinh tế, các

đạo luật cụ thể về giá cả, lao động, tài chính, ngân hàng…Pháp luật của nhà nước đảm

bảo các quyền lợi, quyền bình đẳng, khơng phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh

tế. Từ đây các thành phần kinh tế tạo nên sự cạnh tranh trong hoạt động, gây sức ép

với nhau để đổi mới, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động.

2.



Giải pháp của chính phủ:



Một là, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt: Mức cung tiền trong lưu thông và dư nợ

tín dụng tăng liên tục từ năm 2004 qua các năm và tăng cao trong năm 2007 là nguyên

nhân quan trọng gây lạm phát nên ngân hàng nhà nước cũng đã giảm lượng cung tiền

và tín dụng, áp dụng mức lãi suất trần 14%/năm cho các ngân hàng thương mại.

Hai là, cắt giảm đầu tư và chi tiêu công: Cắt giảm đầu tư cơng và chi phí thường

xun của các cơ quan sử dụng ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh

nghiệp nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách.

Ba là, mở rộng việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội.

Bốn là, tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp:

-



Khắc phục nhanh hậu quả của thời tiết và dịch bệnh để tăng sản

lượng lương thực, thực phẩm.

Mở rộng kho dự trữ quốc gia về lương thực thực phẩm.

Kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về vốn, về thị trường, về thủ

tục hành chính, thúc đẩy sản xuất phát triển.



Năm là, bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu.

Sáu là, triệt để tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng: Chính phủ yêu cầu các cơ quan

cắt giảm 10% chi tiêu hành chính, các doanh nghiệp phải rà sốt tất cả các khoản chi

nhằm hạ giá thành và chi phí lưu thơng, nhất là nhiên liệu, năng lượng.

23



Bảy là, tăng cường cơng tác quản lý thi trường, kiểm sốt việc chấp hành pháp luật

nhà nước về giá:

Ngăn chặn tình trạng buôn lậu qua biên giới, đặc biệt là buôn lậu

xăng dầu, khống sản.

- Chính phủ cũng u cầu các hiệp hội ngành hàng tham gia tích cực,

ủng hộ các chủ trương và giải pháp bình ổn thị trường.

3. Các biện pháp tiền tệ-tín dụng, thanh tốn và giải pháp của ngân hàng trung

ương và các ngân hàng thương mại.

-



+ Xố bao cấp qua tín dụng.

+ Đổi mới cơ chế quản lý ngoại hối, hạ cơn sốt ngoại tệ.

+ Đổi mới cơ cấu và phương thức cân đối ngân sách, cải tiến việc phân cấp quản lý

ngân sách.

Giảm hoặc rút bớt về một khối lượng lớn giấy bạc. Để thực hiện được điều này chính

phủ và ngân hàng thường sử dụng các hình thức thu hút vốn vào quỹ ngân hàng như

sau:

+ Khuyến khích doanh nghiệp, cá nhân gửi tiền vào ngân hàng bằng cách này nâng

cao mức lãi suất trên mức lạm phát.

+Thu hẹp khả năng thanh toán cuối cùng các hối phiếu hoặc kỳ phiếu thương mại đối

với các ngân hàng thương mại thông qua việc hạn chế chiết khấu và nâng cao tỷ lệ

quỹ vốn lao động.

+Hạn chế và thu hẹp tín dụng ngân hàng nói chung.

+Để hạn chế và điều hồ tín dụng, ngân hàng trung ương thường sử dụng các biện

pháp sau:tăng hay giảm lãi suất để giảm hay tăng khối lượng tín dụng.

4.



Điều chỉnh giá cả và sự quản lý của nhà nước:



Nhà nước thả nổi giá cả hầu hết các mặt hàng, giờ đây giá cả hàng hoá do thị trường

định đoạt. Nhà nước chỉ dừng lại ở mức quy định một ít mặt hàng theo giá của nhà

nước đưa ra. Một số mặt hàng quan tọng nhà nước can thiệp bằng các biện pháp kinh

tế tích cực chẳng hạn giá gạo hạ thấp, nhà nước bỏ tiền ra mua với giá cao hơn thị

trường tự do để giữ vững khuyến khích nơng nghiệp, giá vàng lên cao, ngân hàng nhà

nước bán vàng ra thị trường với mức giá thấp hơn để kéo giá vàng hạ xuống. Với giải

24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chính sách tài khoá:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×