Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Công cụ dự trữ bắt buộc (DTBB):

Tỷ lệ DTBB đã được điều chỉnh ngày càng linh hoạt phù hợp với mục tiêu CSTT và diễn

biến tiền tệ trong từng thời kỳ. Từ tháng 11/2000 - 5/2001, NHNN đã liên tục thực hiện

tăng tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ từ 5% lên 15% và giữ nguyên tỷ lệ DTBB bằng VND là

5% để hạn chế dòng chuyển dịch từ VND sang USD, hạn chế việc các TCTD huy động

tiền gửi ngoại tệ gửi ra nước ngoài. Tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ tại nước ngoài trên tổng

huy động ngoại tệ giảm từ mức 96% tháng 12/2000 xuống 41,5% tháng 6/2003, góp phần

tăng cường nguồn vốn đầu tư trong nước.

Từ tháng 12/2001 và trong năm 2002, trong điều kiện lãi suất trên thị trường quốc tế

giảm mạnh, tác động nhất định đến tình hình tài chính của các NHTM, NHNN đã giảm tỷ

lệ DTBB bằng ngoại tệ từng bước từ 15% xuống 10%, sau đó xuống 8% (4/2002) và

xuống 5% (12/2002), đồng thời giảm tỷ lệ DTBB bằng VND từ 5% xuống 3% để tạo điều

kiện hỗ trợ cho hoạt động của các TCTD.

Từ tháng 8/2003, NHNN đã quyết định thay đổi một số quy định về DTBB như mở rộng

diện tiền gửi phải DTBB từ tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng lên tiền gửi

khơng kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 24 tháng; cho phép TCTD được tính cả tiền gửi tại các

chi nhánh NHNN là tiền duy trì DTBB. Đồng thời NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ lệ

DTBB đối với tiền gửi bằng VND kỳ hạn dưới 12 tháng từ 3% xuống 2% đã có tác động

nhất định giảm lãi suất thị trường, góp phần thực hiện thành công mục tiêu CSTT năm

2003. Việc mở rộng diện tiền gửi DTBB đến dưới 24 tháng đã có tác dụng tích cực đến

cơng tác huy động vốn dài hạn của các TCTD.

Năm 2004, trước bối cảnh chỉ số giá tiêu dùng liên tục tăng, tháng 6/2004 NHNN đã điều

chỉnh tăng tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi bằng VND và ngoại tệ (có hiệu lực thi hành từ

tháng 7/2004) nhằm tác động hạn chế khả năng mở rộng tín dụng thơng qua việc hạn chế

khả năng tạo tiền, qua đó tác động kiềm chế lạm phát. Năm 2005, do những biến động

trên thị trường quốc tế, lãi suất trong nước và quốc tế đều đứng ở mức cao. Để duy trì ổn

định tiền tệ, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, trong điều kiện lạm phát đã bắt đầu

được kiểm soát, NHNN đã giữ nguyên cơ chế và các tỷ lệ DTBB áp dụng đối với các

TCTD.

Năm 2007, để trung hòa lượng thanh khoản dư thừa trong hệ thống ngân hàng do dòng

ngoại tệ đổ vào mạnh và cũng để thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát, bên cạnh công

cụ NVTTM và phát hành tín phiếu bắt buộc, NHNN cũng tăng DTBB đối với các TCTD

vào giữa năm 2007, đầu năm 2008 và điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi DTBB. Bên cạnh

đó, trong năm 2008, NHNN cũng mở rộng thêm diện tiền gửi phải DTBB có kỳ hạn từ 24

tháng trở lên (trước đây chỉ quy định DTBB đối với tiền gửi khơng kỳ hạn và có kỳ hạn

dưới 24 tháng) nhằm nâng cao hơn nữa khả năng hút tiền về của NHNN.



18



Sau đó cuối năm 2008, lại điều chỉnh giảm DTBB do áp lực lạm phát giảm liên tục nhằm

giảm áp lực thanh khoản cho TCTD, giảm chi phí huy động vốn qua đó khuyến khích

TCTD tăng cường huy động và cho vay ra nền kinh tế. Trong đó, tỷ lệ DTBB đối với tiền

gửi VND giảm nhanh từ 11% vào giữa năm 2008 xuống 3% trong quý I/2009 và giữ ở

mức đó cho đến nay. Tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi ngoại tệ giảm chậm hơn, từ mức 11%

giữa năm 2008 xuống 4% năm 2010.

Công cụ nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM):

NVTTM được NHNN áp dụng từ tháng 7/2000, kể từ đó đến nay, NVTTM khơng ngừng

hồn thiện để trở thành công cụ điều tiết chủ yếu của NHNN. Việc sử dụng công cụ

NVTTM để điều tiết thị trường tiền tệ được coi là bước chuyển căn bản trong việc điều

hành chính sách tiền tệ từ cơng cụ trực tiếp sang công cụ gián tiếp. Trong giai đoạn đầu,

NVTTM còn nhiều hạn chế do mục tiêu hoạt động của NHNN chưa rõ ràng là điều tiết

lãi suất thị trường hay điều tiết vốn khả dụng của TCTD. Để giải quyết tình trạng thiếu

tiền đồng tạm thời trên thị trường trong khi một số TCTD dư thừa ngoại tệ, NHNN đã

đưa nghiệp vụ SWAP vào hoạt động (tháng 7/2001), đây là hình thức hốn đổi ngoại tệ,

VND giữa NHNN và TCTD.

Giai đoạn 2003 - 2005, NVTTM được NHNN sử dụng nhằm ổn định lãi suất, ổn định

tiền tệ, hỗ trợ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát theo mục tiêu

trong điều kiện chỉ số giá tiêu dùng liên tục gia tăng nhưng mục tiêu tăng trưởng kinh tế

vẫn được đặt ra ở mức cao, thị trường vốn chưa thực sự phát triển, tín dụng ngân hàng

vẫn đóng vai trò chủ yếu trong việc đáp ứng vốn cho tăng trưởng kinh tế.

Giai đoạn 2006 - 2007, NVTTM thực hiện vai trò là kênh hút tiền về để trung hòa lượng

tiền NHNN đưa ra mua ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, góp phần kiểm soát

lạm phát. Giai đoạn 2008 - 2009, NVTTM phối hợp chặt chẽ với các công cụ CSTT khác

trong việc kiểm soát tiền tệ chặt chẽ nhằm thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát trong

điều kiện tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh tốn ở mức cao, khủng hoảng

kinh tế - tài chính thế giới và kinh tế trong nước có dấu hiệu suy giảm. Giai đoạn năm

2010 đến nay, NVTTM là kênh hỗ trợ vốn thanh khoản VND cho các TCTD, trở thành

cơng cụ có vai trò chủ yếu trong việc điều tiết vốn khả dụng của các TCTD nhằm ổn định

thị trường tiền tệ, kiểm sốt lạm phát và ổn định tỷ giá.





Đánh giá những kết quả đạt được



- Kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng, giới hạn tổng phương tiện thanh tốn tăng ở

mức hợp lý nhằm điều tiết lượng cung tiền, ngăn chặn lạm phát gia tăng

- Kiểm soát tỷ giá, hoạt động kinh doanh ngoại tệ nhằm khuyến khích xuất khẩu,

tăng dự trữ ngoại hối



19



- Kiểm soát hoạt động của thị trường vàng nhằm hạn chế tiến tới xóa bỏ hiện

tượng đầu cơ, huy động nguồn vốn cho phát triển sản xuất, tăng cung hàng hóa và hạn

chế nhập khẩu vàng.





Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách chống lạm phát

- Điều hành các cơng cụ chính sách tiền tệ chủ động và linh hoạt. Trong điều kiện

nước ta hội nhập kinh tế quốc tế và nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới đang sụt

giảm, thì việc tiếp tục điều hành các cơng cụ chính sách tiền tệ cần chủ động, linh

hoạt; theo kịp sự phát triển của thị trường tiền tệ và trong khả năng kiểm soát tiền

tệ là một trong các giải pháp để đạt được chính sách tiền tệ hiệu quả.

- Tiếp tục điều hành công cụ dự trữ bắt buộc một cách chủ động và linh hoạt theo

diễn biến của thị trường nhằm kiểm soát tiền tệ; mặt khác tạo điều kiện cho các tổ

chức tín dụng sử dụng vốn khả dụng linh hoạt và hiệu quả

- Tiếp tục điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt theo quan hệ cung cầu trên thị

trường, trong mối quan hệ phối hợp với lãi suất, có sự kiểm sốt của Nhà nước

nhằm đảm bảo các cân đối vĩ mơ: kiểm sốt được lạm phát; kích thích xuất khẩu,

kiểm sốt nhập khẩu; khuyến khích đầu tư nước ngồi vào Việt Nam; khơng ảnh

hưởng lớn đến việc doanh nghiệp vay nợ bằng ngoại tệ; tạo điều kiện quản lý và

thu hút nguồn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng; nâng cao quỹ trữ ngoại tệ của Nhà

nước. Đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến cho các doanh nghiệp áp dụng các cơng cụ

phòng ngừa, bảo hiểm rủi ro tỷ giá.

- Nâng cao tính độc lập, trách nhiệm của NHNN.

Đây là một trong các điều kiện tiên quyết nhằm nâng cao hiệu quả điều hành

chính sách tiền tệ của NHNN. Việc nâng cao tính độc lập, trách nhiệm cho NHNN

phải thích ứng với mức độ hội nhập tài chính thế giới và phù hợp thể chế chính trị

ở Việt Nam.

- Đẩy mạnh sự phát triển của thị trường tiền tệ. Tiếp tục tạo hàng hoá và phát triển

nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ; mở rộng thành viên tham gia thị trường; nâng

cao vai trò điều tiết, hướng dẫn của NHNN trên thị trường tiền tệ; hoàn thiện hành

lang pháp lý tạo điều kiện cho thị trường tiền tệ phát triển. Sự phát triển của thị

trường tiền tệ sẽ là kênh dẫn có hiệu quả trong cơ chế truyền tải các tác động của

chính sách tiền tệ đến nền kinh tế.



2. Chính sách tài khố:





Nội dung:

20



Thu - chi NSNN thực hiện trong giai đoạn 2001 - 2015 liên tục tăng cao hàng năm. Bình

quân tốc độ tăng thu giai đoạn 2001 - 2011 là 20,97%, tốc độ tăng chi là 20,28%, trong

khi đó tốc độ tăng GDP giá thực tế là 17,38%.

So với số dự toán, thu - chi thực hiện của các năm giai đoạn 2001 - 2011 đều vượt khá

cao Tổng thu thực hiện so dự tốn hàng năm giai đoạn này bình qn vượt 21,27% và

tổng chi vượt dự toán khoảng 14,24%. Số thu thực hiện vượt dự toán là cao hơn mức

vượt chi. Tuy nhiên, do số tuyệt đối về chi NSNN ở các năm đều cao hơn so với số thực

hiện thu NSNN, cho nên số tuyệt đối về thâm hụt NSNN vẫn có xu hướng tăng.

Tóm lại, cùng với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, khi thực hiện mục tiêu thúc đẩy

tăng trưởng CSTK được thực hiện theo hướng nới lỏng và khi chống lạm phát thì được

thực hiện theo hướng thắt chặt.





Đánh giá những kết quả đạt được

- Chủ động áp dụng các biện pháp về thuế, kiểm tra và giám sát việc kê khai và thu

nộp thuế, hạn chế thất thoát nguồn thu nhằm tăng thu ngân sách góp phần giảm bội

chi ngân sách từ đó giúp chính phủ chủ động hơn trong điều tiết cung tiền giúp

chống lạm phát.

- Chính phủ xem xét, miễn, giảm thuế và gia hạn nộp thuế nguyên liệu đầu vào,

đặc biệt là các ngành sản xuất hàng xuất khẩu, những ngành mà nguyên liệu trong

nước còn thiếu như da, giầy, dược phẩm… từ đó giúp sản xuất trong nước phát

triển tăng cung hàng hóa

- Tăng thuế xuất khẩu đối với những mặt hàng khơng khuyến khích xuất khẩu như

ngun, nhiên liệu thơ.

- Tiếp tục thực hiện chính sách hồn thuế đầu vào cho các mặt hàng thực xuất khẩu

nhằm giảm bớt khó khăn cho sản xuất







Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách chống lạm phát



- Hồn thiện chính sách thuế phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế theo hướng

tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ cho thị trường. Định hướng chính

sách thuế và thu NSNN nên theo hướng giảm thuế suất, mở rộng đối tượng chịu thuế;

tăng thuế suất thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu và

các mặt hàng có khả năng sản xuất trong nước, tăng thuế suất thuế xuất khẩu đối với

các sản phẩm từ khai thác tài nguyên., tránh thất toát nguồn thu,. Tiếp tục rà soát, điều

chỉnh và ban hành các văn bản, thông tư hướng dẫn thực hiện các chính sách thuế, phí

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chính sách tiền tệ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×