Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nguyên nhân gây ra lạm phát

Nguyên nhân gây ra lạm phát

Tải bản đầy đủ - 0trang

b) Lạm phát do chi phí đẩy :



Ngay cả khi sản lượng chưa đạt tiềm năng nhưng vẫn có khả năng và trên

thực tế đã xảy ra lạm phát ở nhiều nước, kể cả những nước phát triển cao.

Đó là một đặc điểm của lạm phát hiện đại. Kiểu lạm phát này gọi là lạm

phát chi phí đẩy, vừa lạm phát, vừa suy giảm sản lượng, tằng thêm thất

nghiệp nên cũng gọi là “lạm phát đình trệ”, các cơn sốc giá cả của thị

trường đầu vào, đặc biệt là các vật tư cơ bản (xăng dầu, điện,….) là nguyên

nhân chủ yếu đẩy chi phí lên cao, đường AS dịch chuyển lên trên. Tuy tổng

cầu không thay đổi nhưng giá đã tăng lên và sản lượng lại giảm xuống. Giá

cả đầu vào tăng đột biến thường do các nguyên nhân sau: chiến tranh, kinh

tế, biến động chính trị, thiên tai,….



9



c) Lạm phát do cơ cấu :

-



Ngành kinh doanh có hiệu quả khi tăng tiền công danh nghĩa cho

người lao động



-



Ngành kinh doanh không hiệu quả là không thể tăng tiền công cho

người lao động



-



Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận thì ngành kinh doanh kém hiệu

quả sẽ tăng giá thành sản phẩm -> Lạm phát nảy sinh từ đó



d) Lạm phát do cầu thay đổi :



Ví dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi trong khi lượng cầu về mặt hàng

khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả chỉ

có thể tăng là khơng thể giảm thì mặt hàng có lượng cầu giarmvaaxn khơng

thể giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng lên thì lại tăng giá.

Kết quả mức giá chung tăng lên dẫn đến lạm phát.

e) Lạm phát do xuất khẩu:



Xuất khẩu tăng dẫn đến tổng cầu tăng hơn so với tổng cung hoặc sản phẩm

được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường

trong nước giảm khiến cho tổng cung thấp hơn tổng cầu, lạm phát nảy sinh

do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng

f) Lạm phát do nhập khẩu :



Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng thì giá bán sản phẩm trong nước cũng

tăng. Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên.

g) Lạm phát tiền tệ :



Cung tiền tăng do quản lí tiền mặt kém hiệu quả, chi tiêu ngân sách ngày

càng lớn, sức hút thị trường chứng khoán ,….

h) Lạm phát đẻ ra lạm phát :



Khi nhận thấy có lạm phát cá nhân với nhận thức duy lí sẽ cho rằng tới đây

giá cả hàng hóa sẽ còn tăng nên đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại. Tổng cầu xảy

ra cao hơn tổng cung gây ra lạm phát.

10



5. Biện pháp khắc phục lạm phát:

Khi lạm phát tăng cao và kéo dài sẽ gây những hậu quả lớn, ảnh hưởng trầm trọng đến

đời sống nhân dân lao động và sự tăng trưởng kinh tế. Do đó tuỳ vào từng hồn cảnh cụ

thể khác nhau chính phủ sẽ áp dụng những biện pháp khác nhau để khắc phục lạm phát.

a



Lạm phát do cầu:



Khi xảy ra lạm phát vừa, sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế, là loại lạm phát có lợi cho

nền kinh tế. Chỉ khi xảy ra lạm phát cao sản lượng thực vượt quá sản lượng tiềm

năng, nền kinh tế tăng trưởng nóng, phải tìm biện pháp giảm lạm pháp, ổn định nền

kinh tế là giảm tổng cầu, bằng cách:

Áp dụng chính sách tài khố thu hẹp: giảm chi tiêu ngân sách (giảm

cầu tiêu dùng của chính phủ, làm giảm sự tăng nhanh của tổng cầu,

nhà nước có thể hạn chế tăng tiền lương làm giảm lượng cầu chi tiêu

của dân cư), tăng thuế.

- Áp dụng chính sách tiền tệ thu hẹp: giảm mức cung tiền (cụ thể ngân

hàng trung ương sẽ bán các chứng khoán ngắn hạn, bán ngoại tệ,

phát hành các công cụ nợ của chính phủ để vay tiền trong nền kinh

tế), tăng lãi suất (các ngân hàng sẽ ấn định lãi suất cao từ đó sẽ

khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng, doanh nghiệp gửi

tiền khơng kì hạn, dẫn đến lượng tiền trong lưu thông giảm).

 Kết quả là: tổng cầu sụt giảm, đường AD dịch chuyển sang trái, mức giá giảm, sản

lượng giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng.

-



b



Lạm phát do cung:



Phải làm tăng tổng cung, giảm chi phí sản xuất bằng cách:

+ Tìm nguyên liệu mới rẻ tiền thay cho nguyên liệu cũ đắt tiền.

+ Gảm thuế, giảm lãi suất.

+ Cải tiến kỹ thuật sản xuất, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất để tăng năng suất

lao động, giảm chi phí.

+ Nâng cao trình độ quản lý: tổ chức lao động khoa học và hợp lý hoá sản xuất.



11



Ngồi ra chính phủ còn nhập hàng hố về để bổ sung cho hàng hoá thiếu hụt trong

nước. Phát triển các ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu và ngành du lịch.





Kết quả là: chi phí sản xuất của nền kinh tế sẽ giảm xuống, đường SAS dịch

chuyển sang phải, mức giá giảm, sản lượng tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm.



PHẦN II THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM NĂM 2000-2010

Trong điều hành vĩ mô phát triển nền kinh tế, mọi quốc gia trên thế giới đều phải quan

tâm tới chính sách tài chính, tiền tệ để chống lạm phát, ổn định giá cả đang là một vấn đề

lớn đặt ra trong điều hành của chính phủ, của các nhà quản lý vì sự phát triển và ổn định.





Tăng trưởng kinh tế



Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, Việt Nam chứng kiến một giai đoạn tăng trưởng

kinh tế có tốc độ chững lại so với thập niên trước đó. Vào cuối thập niên 1990, đà tăng

trưởng kinh tế của Việt Nam chậm lại vì những dấu hiệu do dự trong tiến trình cải cách

kinh tế xuất hiện từ năm 1996 và những ảnh hưởng lan truyền tiêu cực từ cuộc khủng

hoảng tài chính Châu Á 1997. Hậu quả của tình trạng này là nền kinh tế trải qua một giai

đoạn suy giảm tốc độ tăng trưởng đi liền với hiện tượng giảm phát trong những năm

1999-2001

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nguyên nhân gây ra lạm phát

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×