Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN III CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ VĨ MÔ NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT VÀ CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM NĂM 2000-2010

PHẦN III CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ VĨ MÔ NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT VÀ CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM NĂM 2000-2010

Tải bản đầy đủ - 0trang

Mục tiêu của chính sách chống lạm phát là: Kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô,

đảm bảo an sinh xã hội. Để thực hiện mục tiêu trên Việt nam sử dụng hai cơng cụ chủ yếu

là chính sách tiền tệ và chính sách tài khố.

1. Chính sách tiền tệ





Nội dung chính sách chống lạm phát trong cơng cụ chính sách tiền tệ:



Cùng với tiến trình cải cách nền kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có nhiều

đổi mới, đặc biệt là trong việc hoạch định và thực thi CSTT, nhờ vậy, ngành Ngân

hàng đã có những đóng góp khơng nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, ổn

định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế

ngày càng hội nhập sâu và rộng với nền kinh tế thế giới kéo theo thương mại và chu

chuyển vốn quốc tế diễn ra nhanh hơn, mạnh hơn, việc xây dựng và điều hành CSTT

trở nên phức tạp và khó khăn hơn, đặc biệt từ năm 2007 trở lại đây, bối cảnh kinh tế

trong và ngoài nước có nhiều thay đổi. CSTT được thực hiện linh hoạt thông qua việc

điều chỉnh các công cụ của CSTT. Cụ thể:



Công cụ lãi suất:

Từ tháng 8/2000, NHNN áp dụng cơ chế lãi suất cơ bản thay cho cơ chế trần lãi suất cho

vay, theo đó, hàng tháng NHNN cơng bố lãi suất cơ bản trên biên độ cộng 0,3%/tháng,

cho vay trung và dài hạn cộng 0,5%/tháng. Đối với lãi suất ngoại tệ, từ năm 2001, được

tự do hóa trên cơ sở cung cầu trên thị trường. Từ ngày 01/6/2002, NHNN không quy định

biên độ dao động của lãi suất mà chỉ công bố lãi suất cơ bản để tham khảo và định hướng

lãi suất trên thị trường. Sự thay đổi là đánh dấu bước đi thận trọng cũng như sự thành

cơng trong đổi mới chính sách tiền tệ.

Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thối kinh tế toàn cầu, từ ngày

01/02/2009, thực hiện chủ trương của Quốc hội, Chính phủ và căn cứ vào tình hình thực

tế, NHNN đã từng bước cho phép các TCTD thực hiện lãi suất thỏa thuận đối với các

khoản vay tiêu dùng và các khoản vay trung hạn, dài hạn phục vụ sản xuất kinh doanh,

dịch vụ và đầu tư phát triển. Theo đó, NHNN đã ban hành Thơng tư số 12/2010/TTNHNN cho phép các TCTD thực hiện cho vay bằng đồng VND theo cơ chế lãi suất thỏa

thuận. Đồng thời, để hạn chế tình trạng găm giữ ngoại tệ và giảm sức hấp dẫn của việc

nắm giữ đồng USD, NHNN cũng ban hành Thông tư số 03/2010/TT-NHNN quy định

mức lãi suất tối đa tiền gửi bằng ngoại tệ đối với khách hàng là tổ chức kinh tế, mức lãi

suất suất tiền gửi bằng ngoại tệ theo cơ chế thỏa thuận đối với khách hàng là cá nhân.

Trong giai đoạn này, NHNN tiếp tục công bố lãi suất cơ bản hàng tháng nhằm định

hướng lãi suất thị trường.



17



Công cụ dự trữ bắt buộc (DTBB):

Tỷ lệ DTBB đã được điều chỉnh ngày càng linh hoạt phù hợp với mục tiêu CSTT và diễn

biến tiền tệ trong từng thời kỳ. Từ tháng 11/2000 - 5/2001, NHNN đã liên tục thực hiện

tăng tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ từ 5% lên 15% và giữ nguyên tỷ lệ DTBB bằng VND là

5% để hạn chế dòng chuyển dịch từ VND sang USD, hạn chế việc các TCTD huy động

tiền gửi ngoại tệ gửi ra nước ngoài. Tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ tại nước ngoài trên tổng

huy động ngoại tệ giảm từ mức 96% tháng 12/2000 xuống 41,5% tháng 6/2003, góp phần

tăng cường nguồn vốn đầu tư trong nước.

Từ tháng 12/2001 và trong năm 2002, trong điều kiện lãi suất trên thị trường quốc tế

giảm mạnh, tác động nhất định đến tình hình tài chính của các NHTM, NHNN đã giảm tỷ

lệ DTBB bằng ngoại tệ từng bước từ 15% xuống 10%, sau đó xuống 8% (4/2002) và

xuống 5% (12/2002), đồng thời giảm tỷ lệ DTBB bằng VND từ 5% xuống 3% để tạo điều

kiện hỗ trợ cho hoạt động của các TCTD.

Từ tháng 8/2003, NHNN đã quyết định thay đổi một số quy định về DTBB như mở rộng

diện tiền gửi phải DTBB từ tiền gửi khơng kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng lên tiền gửi

khơng kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 24 tháng; cho phép TCTD được tính cả tiền gửi tại các

chi nhánh NHNN là tiền duy trì DTBB. Đồng thời NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ lệ

DTBB đối với tiền gửi bằng VND kỳ hạn dưới 12 tháng từ 3% xuống 2% đã có tác động

nhất định giảm lãi suất thị trường, góp phần thực hiện thành công mục tiêu CSTT năm

2003. Việc mở rộng diện tiền gửi DTBB đến dưới 24 tháng đã có tác dụng tích cực đến

cơng tác huy động vốn dài hạn của các TCTD.

Năm 2004, trước bối cảnh chỉ số giá tiêu dùng liên tục tăng, tháng 6/2004 NHNN đã điều

chỉnh tăng tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi bằng VND và ngoại tệ (có hiệu lực thi hành từ

tháng 7/2004) nhằm tác động hạn chế khả năng mở rộng tín dụng thơng qua việc hạn chế

khả năng tạo tiền, qua đó tác động kiềm chế lạm phát. Năm 2005, do những biến động

trên thị trường quốc tế, lãi suất trong nước và quốc tế đều đứng ở mức cao. Để duy trì ổn

định tiền tệ, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, trong điều kiện lạm phát đã bắt đầu

được kiểm soát, NHNN đã giữ nguyên cơ chế và các tỷ lệ DTBB áp dụng đối với các

TCTD.

Năm 2007, để trung hòa lượng thanh khoản dư thừa trong hệ thống ngân hàng do dòng

ngoại tệ đổ vào mạnh và cũng để thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát, bên cạnh cơng

cụ NVTTM và phát hành tín phiếu bắt buộc, NHNN cũng tăng DTBB đối với các TCTD

vào giữa năm 2007, đầu năm 2008 và điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi DTBB. Bên cạnh

đó, trong năm 2008, NHNN cũng mở rộng thêm diện tiền gửi phải DTBB có kỳ hạn từ 24

tháng trở lên (trước đây chỉ quy định DTBB đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn

dưới 24 tháng) nhằm nâng cao hơn nữa khả năng hút tiền về của NHNN.



18



Sau đó cuối năm 2008, lại điều chỉnh giảm DTBB do áp lực lạm phát giảm liên tục nhằm

giảm áp lực thanh khoản cho TCTD, giảm chi phí huy động vốn qua đó khuyến khích

TCTD tăng cường huy động và cho vay ra nền kinh tế. Trong đó, tỷ lệ DTBB đối với tiền

gửi VND giảm nhanh từ 11% vào giữa năm 2008 xuống 3% trong quý I/2009 và giữ ở

mức đó cho đến nay. Tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi ngoại tệ giảm chậm hơn, từ mức 11%

giữa năm 2008 xuống 4% năm 2010.

Công cụ nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM):

NVTTM được NHNN áp dụng từ tháng 7/2000, kể từ đó đến nay, NVTTM khơng ngừng

hồn thiện để trở thành cơng cụ điều tiết chủ yếu của NHNN. Việc sử dụng công cụ

NVTTM để điều tiết thị trường tiền tệ được coi là bước chuyển căn bản trong việc điều

hành chính sách tiền tệ từ công cụ trực tiếp sang công cụ gián tiếp. Trong giai đoạn đầu,

NVTTM còn nhiều hạn chế do mục tiêu hoạt động của NHNN chưa rõ ràng là điều tiết

lãi suất thị trường hay điều tiết vốn khả dụng của TCTD. Để giải quyết tình trạng thiếu

tiền đồng tạm thời trên thị trường trong khi một số TCTD dư thừa ngoại tệ, NHNN đã

đưa nghiệp vụ SWAP vào hoạt động (tháng 7/2001), đây là hình thức hốn đổi ngoại tệ,

VND giữa NHNN và TCTD.

Giai đoạn 2003 - 2005, NVTTM được NHNN sử dụng nhằm ổn định lãi suất, ổn định

tiền tệ, hỗ trợ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát theo mục tiêu

trong điều kiện chỉ số giá tiêu dùng liên tục gia tăng nhưng mục tiêu tăng trưởng kinh tế

vẫn được đặt ra ở mức cao, thị trường vốn chưa thực sự phát triển, tín dụng ngân hàng

vẫn đóng vai trò chủ yếu trong việc đáp ứng vốn cho tăng trưởng kinh tế.

Giai đoạn 2006 - 2007, NVTTM thực hiện vai trò là kênh hút tiền về để trung hòa lượng

tiền NHNN đưa ra mua ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, góp phần kiểm sốt

lạm phát. Giai đoạn 2008 - 2009, NVTTM phối hợp chặt chẽ với các cơng cụ CSTT khác

trong việc kiểm sốt tiền tệ chặt chẽ nhằm thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát trong

điều kiện tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán ở mức cao, khủng hoảng

kinh tế - tài chính thế giới và kinh tế trong nước có dấu hiệu suy giảm. Giai đoạn năm

2010 đến nay, NVTTM là kênh hỗ trợ vốn thanh khoản VND cho các TCTD, trở thành

cơng cụ có vai trò chủ yếu trong việc điều tiết vốn khả dụng của các TCTD nhằm ổn định

thị trường tiền tệ, kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá.





Đánh giá những kết quả đạt được



- Kiểm sốt mức tăng trưởng tín dụng, giới hạn tổng phương tiện thanh toán tăng ở

mức hợp lý nhằm điều tiết lượng cung tiền, ngăn chặn lạm phát gia tăng

- Kiểm soát tỷ giá, hoạt động kinh doanh ngoại tệ nhằm khuyến khích xuất khẩu,

tăng dự trữ ngoại hối



19



- Kiểm soát hoạt động của thị trường vàng nhằm hạn chế tiến tới xóa bỏ hiện

tượng đầu cơ, huy động nguồn vốn cho phát triển sản xuất, tăng cung hàng hóa và hạn

chế nhập khẩu vàng.





Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách chống lạm phát

- Điều hành các cơng cụ chính sách tiền tệ chủ động và linh hoạt. Trong điều kiện

nước ta hội nhập kinh tế quốc tế và nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới đang sụt

giảm, thì việc tiếp tục điều hành các cơng cụ chính sách tiền tệ cần chủ động, linh

hoạt; theo kịp sự phát triển của thị trường tiền tệ và trong khả năng kiểm soát tiền

tệ là một trong các giải pháp để đạt được chính sách tiền tệ hiệu quả.

- Tiếp tục điều hành công cụ dự trữ bắt buộc một cách chủ động và linh hoạt theo

diễn biến của thị trường nhằm kiểm soát tiền tệ; mặt khác tạo điều kiện cho các tổ

chức tín dụng sử dụng vốn khả dụng linh hoạt và hiệu quả

- Tiếp tục điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt theo quan hệ cung cầu trên thị

trường, trong mối quan hệ phối hợp với lãi suất, có sự kiểm soát của Nhà nước

nhằm đảm bảo các cân đối vĩ mơ: kiểm sốt được lạm phát; kích thích xuất khẩu,

kiểm sốt nhập khẩu; khuyến khích đầu tư nước ngồi vào Việt Nam; không ảnh

hưởng lớn đến việc doanh nghiệp vay nợ bằng ngoại tệ; tạo điều kiện quản lý và

thu hút nguồn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng; nâng cao quỹ trữ ngoại tệ của Nhà

nước. Đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến cho các doanh nghiệp áp dụng các cơng cụ

phòng ngừa, bảo hiểm rủi ro tỷ giá.

- Nâng cao tính độc lập, trách nhiệm của NHNN.

Đây là một trong các điều kiện tiên quyết nhằm nâng cao hiệu quả điều hành

chính sách tiền tệ của NHNN. Việc nâng cao tính độc lập, trách nhiệm cho NHNN

phải thích ứng với mức độ hội nhập tài chính thế giới và phù hợp thể chế chính trị

ở Việt Nam.

- Đẩy mạnh sự phát triển của thị trường tiền tệ. Tiếp tục tạo hàng hoá và phát triển

nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ; mở rộng thành viên tham gia thị trường; nâng

cao vai trò điều tiết, hướng dẫn của NHNN trên thị trường tiền tệ; hoàn thiện hành

lang pháp lý tạo điều kiện cho thị trường tiền tệ phát triển. Sự phát triển của thị

trường tiền tệ sẽ là kênh dẫn có hiệu quả trong cơ chế truyền tải các tác động của

chính sách tiền tệ đến nền kinh tế.



2. Chính sách tài khố:





Nội dung:

20



Thu - chi NSNN thực hiện trong giai đoạn 2001 - 2015 liên tục tăng cao hàng năm. Bình

quân tốc độ tăng thu giai đoạn 2001 - 2011 là 20,97%, tốc độ tăng chi là 20,28%, trong

khi đó tốc độ tăng GDP giá thực tế là 17,38%.

So với số dự toán, thu - chi thực hiện của các năm giai đoạn 2001 - 2011 đều vượt khá

cao Tổng thu thực hiện so dự toán hàng năm giai đoạn này bình quân vượt 21,27% và

tổng chi vượt dự toán khoảng 14,24%. Số thu thực hiện vượt dự toán là cao hơn mức

vượt chi. Tuy nhiên, do số tuyệt đối về chi NSNN ở các năm đều cao hơn so với số thực

hiện thu NSNN, cho nên số tuyệt đối về thâm hụt NSNN vẫn có xu hướng tăng.

Tóm lại, cùng với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, khi thực hiện mục tiêu thúc đẩy

tăng trưởng CSTK được thực hiện theo hướng nới lỏng và khi chống lạm phát thì được

thực hiện theo hướng thắt chặt.





Đánh giá những kết quả đạt được

- Chủ động áp dụng các biện pháp về thuế, kiểm tra và giám sát việc kê khai và thu

nộp thuế, hạn chế thất thoát nguồn thu nhằm tăng thu ngân sách góp phần giảm bội

chi ngân sách từ đó giúp chính phủ chủ động hơn trong điều tiết cung tiền giúp

chống lạm phát.

- Chính phủ xem xét, miễn, giảm thuế và gia hạn nộp thuế nguyên liệu đầu vào,

đặc biệt là các ngành sản xuất hàng xuất khẩu, những ngành mà nguyên liệu trong

nước còn thiếu như da, giầy, dược phẩm… từ đó giúp sản xuất trong nước phát

triển tăng cung hàng hóa

- Tăng thuế xuất khẩu đối với những mặt hàng không khuyến khích xuất khẩu như

ngun, nhiên liệu thơ.

- Tiếp tục thực hiện chính sách hồn thuế đầu vào cho các mặt hàng thực xuất khẩu

nhằm giảm bớt khó khăn cho sản xuất







Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách chống lạm phát



- Hồn thiện chính sách thuế phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế theo hướng

tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ cho thị trường. Định hướng chính

sách thuế và thu NSNN nên theo hướng giảm thuế suất, mở rộng đối tượng chịu thuế;

tăng thuế suất thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng khơng khuyến khích nhập khẩu và

các mặt hàng có khả năng sản xuất trong nước, tăng thuế suất thuế xuất khẩu đối với

các sản phẩm từ khai thác tài nguyên., tránh thất toát nguồn thu,. Tiếp tục rà soát, điều

chỉnh và ban hành các văn bản, thơng tư hướng dẫn thực hiện các chính sách thuế, phí

21



và chế độ thu cho phù hợp với tình hình thực tế; tiếp túc đẩy mạnh cơng tác cải cách

hành chính trong lĩnh vực Thuế và Hải quan nhằm giảm thiểu tối đa thời gian kê khai,

nộp thuế cho DN, khuyến khích các DN kê khai qua mạng.Tăng cường công tác thanh

tra, kiểm tra thuế tại DN và đẩy mạnh các hoạt động chống chuyển giá, chống buôn lậu

và gian lận thương mại… qua đó đã phát hiện và xử lý kịp thời nhiều trường hợp vi

phạm, gian lận, trốn lậu thuế.

- Thực hiện tiết kiệm chi thường xuyên và đẩy nhanh việc thực hiện các nhiệm vụ chi

đầu tư phát triển, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; đồng thời, tăng cường kiểm

soát chi ngân sách, bảo đảm tiết kiệm, chặt chẽ và hiệu quả.

- Đẩy mạnh q trình sắp xếp cổ phần hố doanh nghiệp nhà nước và đổi mới cơ chế

tài chính đối với lĩnh vực sự nghiệp cơng. Hồn thiện cơ chế, chính sách tài chính liên

quan đến sắp xếp, cổ phần hố DNNN, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm đẩy

nhanh kế hoạch sắp xếp, đổi mới DNNN. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối

với hoạt động của các Tập đồn, Tổng cơng ty nhà nước…; Tiếp tục cải thiện môi

trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp,

tổ chức kinh tế ngồi Nhà nước.

- Đẩy nhanh việc đổi mới cơ chế tài chính đối với lĩnh vực sự nghiệp cơng theo hướng

tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị; khẩn trương nghiên

cứu, ban hành cơ chế, chính sách thích hợp để từng bước điều chỉnh khung giá dịch vụ

công theo cơ chế thị trường đối với các dịch vụ giáo dục, y tế.

- Sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khố và một số chính sách kinh

tế vĩ mơ khác. Hiện nay trong bối cảnh kinh tế thế giới sụt giảm, thì việc điều hành

chính sách tiền tệ trong quan hệ phối hợp chính sách tài khố nhằm mục tiêu góp phần

ngăn chặn nguy cơ sụt giảm nền kinh tế trong nước, nhưng đồng thời kiểm soát được

lạm phát.

Qua những phân tích trên cho thấy thời gian qua Việt Nam đã có những thành cơng

nhất định trong việc kiểm sốt và điều chỉnh lạm phát góp phần đưa đất nước phát

triển bền vững.







Tóm lại, thực tế điều hành CSTT và CSTK thời gian qua cho thấy đây là hai công

cụ quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô. NHNN và Bộ Tài chính thời gian qua

đã có những can thiệp linh hoạt thơng qua các cơng cụ của chính sách của mình.

Tuy nhiên, các mục tiêu kinh tế vĩ mơ trong đó có mục tiêu tăng trưởng kinh tế

khơng phải năm nào cũng đạt được do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ

quan. CSTT và CSTK trong thời gian qua đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện

mục tiêu kinh tế vĩ mơ của Chính phủ.

22



II. Các giải pháp kiềm chế lạm pháp ở nước ta:

1. Giải pháp của Đảng và nhà nước:

Đảng cần nâng cao nhận thức chính trị, kinh tế. Đảng viên phải theo hướng đổi mới

trên mọi lĩnh vực. Đồng thời, nhà nước phải vững mạnh chun chính vơ sản, lậ lại

trật tự kỉ cương xã hội, đấu tranh khơng khoan nhượng, xố bỏ những đặc quyền, đặc

lợi, những tư tưởng cục bộ địa phương đang làm trì trệ.

Để làm được việc này nhà nước cần ban hành những đạo luật chung về kinh tế, các

đạo luật cụ thể về giá cả, lao động, tài chính, ngân hàng…Pháp luật của nhà nước đảm

bảo các quyền lợi, quyền bình đẳng, khơng phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh

tế. Từ đây các thành phần kinh tế tạo nên sự cạnh tranh trong hoạt động, gây sức ép

với nhau để đổi mới, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động.

2.



Giải pháp của chính phủ:



Một là, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt: Mức cung tiền trong lưu thơng và dư nợ

tín dụng tăng liên tục từ năm 2004 qua các năm và tăng cao trong năm 2007 là nguyên

nhân quan trọng gây lạm phát nên ngân hàng nhà nước cũng đã giảm lượng cung tiền

và tín dụng, áp dụng mức lãi suất trần 14%/năm cho các ngân hàng thương mại.

Hai là, cắt giảm đầu tư và chi tiêu công: Cắt giảm đầu tư công và chi phí thường

xuyên của các cơ quan sử dụng ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh

nghiệp nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách.

Ba là, mở rộng việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội.

Bốn là, tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp:

-



Khắc phục nhanh hậu quả của thời tiết và dịch bệnh để tăng sản

lượng lương thực, thực phẩm.

Mở rộng kho dự trữ quốc gia về lương thực thực phẩm.

Kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về vốn, về thị trường, về thủ

tục hành chính, thúc đẩy sản xuất phát triển.



Năm là, bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu.

Sáu là, triệt để tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng: Chính phủ yêu cầu các cơ quan

cắt giảm 10% chi tiêu hành chính, các doanh nghiệp phải rà soát tất cả các khoản chi

nhằm hạ giá thành và chi phí lưu thơng, nhất là nhiên liệu, năng lượng.

23



Bảy là, tăng cường công tác quản lý thi trường, kiểm soát việc chấp hành pháp luật

nhà nước về giá:

Ngăn chặn tình trạng bn lậu qua biên giới, đặc biệt là bn lậu

xăng dầu, khống sản.

- Chính phủ cũng yêu cầu các hiệp hội ngành hàng tham gia tích cực,

ủng hộ các chủ trương và giải pháp bình ổn thị trường.

3. Các biện pháp tiền tệ-tín dụng, thanh toán và giải pháp của ngân hàng trung

ương và các ngân hàng thương mại.

-



+ Xố bao cấp qua tín dụng.

+ Đổi mới cơ chế quản lý ngoại hối, hạ cơn sốt ngoại tệ.

+ Đổi mới cơ cấu và phương thức cân đối ngân sách, cải tiến việc phân cấp quản lý

ngân sách.

Giảm hoặc rút bớt về một khối lượng lớn giấy bạc. Để thực hiện được điều này chính

phủ và ngân hàng thường sử dụng các hình thức thu hút vốn vào quỹ ngân hàng như

sau:

+ Khuyến khích doanh nghiệp, cá nhân gửi tiền vào ngân hàng bằng cách này nâng

cao mức lãi suất trên mức lạm phát.

+Thu hẹp khả năng thanh toán cuối cùng các hối phiếu hoặc kỳ phiếu thương mại đối

với các ngân hàng thương mại thông qua việc hạn chế chiết khấu và nâng cao tỷ lệ

quỹ vốn lao động.

+Hạn chế và thu hẹp tín dụng ngân hàng nói chung.

+Để hạn chế và điều hồ tín dụng, ngân hàng trung ương thường sử dụng các biện

pháp sau:tăng hay giảm lãi suất để giảm hay tăng khối lượng tín dụng.

4.



Điều chỉnh giá cả và sự quản lý của nhà nước:



Nhà nước thả nổi giá cả hầu hết các mặt hàng, giờ đây giá cả hàng hoá do thị trường

định đoạt. Nhà nước chỉ dừng lại ở mức quy định một ít mặt hàng theo giá của nhà

nước đưa ra. Một số mặt hàng quan tọng nhà nước can thiệp bằng các biện pháp kinh

tế tích cực chẳng hạn giá gạo hạ thấp, nhà nước bỏ tiền ra mua với giá cao hơn thị

trường tự do để giữ vững khuyến khích nơng nghiệp, giá vàng lên cao, ngân hàng nhà

nước bán vàng ra thị trường với mức giá thấp hơn để kéo giá vàng hạ xuống. Với giải

24



pháp này, nhà nước đã xố bỏ tình trạng ngân sách bao cấp cho các xí nghiệp và các

tổ chức kinh tế.

Nhà nước Việt Nam cho phép các ngân hàng quốc gia được xác đjnh tỷ giá ngoại tệ

xấp xỉ với thị trường tự do, biện pháp này có tác dụng xoá bỏ hiện tượng đầu cơ vàng

và ngoại tệ gây rối loạn thị trường.



TÀI LIỆU THAM KHẢO:

www.undp.org

www.doc.edu

www.wikipedia.org

25



www.academia.edu

www.sbv.gov.vn



Giáo trình kinh tế vĩ mơ



STT

1



TÊN TV

HÀ TƯỜNG VY



MSSV

3118330435



2



MỸ HẰNG



3118332024



3

4



PH ƯƠNG UN

KIM TRÂM



3118330415

3118330368



CƠNG VIỆC

Soạn word, thuyết trình, tìm link

tham khảo

Soạn word, làm powerpoint, thuyết

trình, tìm link tham khảo

Thuyết trình, tìm link tham khảo

Thuyết trình, tìm link tham

khảo



26



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN III CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ VĨ MÔ NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT VÀ CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM NĂM 2000-2010

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×