Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG MARKETING

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG MARKETING

Tải bản đầy đủ - 0trang

thỏa mãn khách hàng, từ đó tạo ra hoạt động trao đổi mua bán, mang lại doanh số

để đảm bảo sự tồn tại, tăng trưởng và phát triển thương hiệu của doanh nghiệp.

+Mở rộng thị trường

Các nhà tiếp thị sử dụng các công cụ truyền thông đại chúng như quảng cáo, bán

hàng, quảng bá, tiếp thị sự kiện và PR để quảng bá sản phẩm xa và rộng. Các cuộc

cách mạng trong công nghệ truyền thông đã làm cho tiếp thị có mức độ tương tác

nhiều hơn.

+Điều chỉnh giá phù hợp

Giá cả là một yếu tố quan trọng trong hỗn hợp tiếp thị của nhà sản xuất vì nó tạo ra

doanh thu. Chiến lược tiếp thị giúp thiết lập giá cả hợp lý, kết hợp các thay đổi và

chuẩn bị một phương pháp phù hợp. Quá trình trao đổi diễn ra thuận lợi khi giá cả



được cố định.

+Cung cấp sản phẩm tốt hơn



16



Hầu hết các công ty đều bán nhiều sản phẩm: Sản phẩm hữu hình là hàng hóa phải

được đóng gói và dán nhãn và các dịch vụ được đặc trưng bởi tính vơ hình. Vì vậy,

tiếp thị đóng một vai trò quan trọng bằng cách thiết kế và quản lý các dịch vụ sản

phẩm để có thể cải tiến và cung cấp sản phẩm tốt hơn cho khách hàng.

+Tạo tiện ích

Phần lớn tiện ích của sản phẩm được tạo ra thông qua tiếp thị. Tiếp thị tạo ra hình

thức, địa điểm, thời gian, thơng tin và tiện ích sở hữu. Ví dụ, một chiếc xe đáp ứng

nhu cầu sở hữu một chiếc xe và di chuyển.

+Quản lý nhu cầu

Tiếp thị đóng vai trò chính trong việc ảnh hưởng đến mức độ, thời gian và thành

phần của nhu cầu, có thể là một nhu cầu tiêu cực, khơng có nhu cầu, nhu cầu tiềm

ẩn, nhu cầu giảm, nhu cầu không thường xuyên, nhu cầu đầy đủ hoặc nhu cầu quá

cao. Tiếp thị giúp quản lý, đối phó với các mức độ khác nhau của nhu cầu.

+Cạnh tranh

Định hướng cạnh tranh là quan trọng trong thị trường toàn cầu ngày nay. Tiếp thị

giúp duy trì sự cân bằng giữa mong đợi của người tiêu dùng và các dịch vụ của đối

thủ cạnh tranh bằng cách giám sát chặt chẽ thị trường.

+Tăng trưởng kinh tế

Marketing tạo ra nhu cầu. Nhu cầu gia tăng khuyến khích các hoạt động sản xuất

và phân phối. Do đó, tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy và mức thu nhập được cải

thiện do cơ hội việc làm tăng lên. Điều này cải thiện mức sống bằng cách cung cấp

các sản phẩm cao cấp và cải tiến. Do đó, tăng trưởng kinh tế nói chung được thúc

đẩy.

1.2 Vai trò của Đạo đức kinh doanh trong Marketing:

17



Đạo đức kinh doanh như một bộ phận cấu thành quan trọng nhất của văn hóa kinh

doanh, là yếu tố nền tảng tạo nên sự tin cậy của đối tác, khách hàng và người tiêu

dùng đối với doanh nghiệp. Đạo đức kinh doanh chính là cơ sở để xây dựng lòng

tin, sự gắn kết và trung thành của đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh

nghiệp, bảo đảm từ lãnh đạo đến tồn thể cán bộ cơng nhân viên trong doanh

nghiệp có những ứng xử đúng chuẩn mực đạo đức, qua đó khơng ngừng nâng cao

hình ảnh, uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp. Sự tồn vong, phát triển cũng

như lợi nhuận của doanh nghiệp chính là do người tiêu dùng quyết định, do đó

doanh nghiệp muốn đạt được tỷ suất lợi nhuận cao và thành cơng bền vững thì phải

xây dựng được nền tảng đạo đức kinh doanh cho doanh nghiệp mình.

2. Các yếu tố ảnh hưởng đến Đạo đức kinh doanh trong Marketing:

Mọi hoạt động của chủ thể kinh doanh gắn với thị trường vì chỉ có như vậy họ mới

có cơ hội để tồn tại và phát triển. Xuất phát từ nhu cầu đó, marketing xuất hiện với

vai trò là chiếc cầu nối đảm bảo cho hoạt động sản xuất được vận hành theo thị

trường với mục tiêu cuối cùng là “nhu cầu và ước muốn của khách hang là chỗ dựa

vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh”. Như vậy, marketing là hoạt động

sinh ra từ quá trình kinh doanh nên trong khi thực hiện các hoạt động này phải vận

dụng những nhân tố của văn hóa kinh doanh là điều tất yếu.

2.1 Yếu tố bên ngồi:

- Nhóm thứ nhất: Bao gồm tập hợp các yếu tố như các phát kiến khoa học trong

các lĩnh vực của đời sống sản xuất xã hội, trình độ phổ cập giáo dục, văn học nghệ

thuật…Đặc điểm của những yếu tố này là không tồn tại trực tiếp trong mơi trường

văn hóa của chủ thể kinh doanh mà được pháp luật hóa hoặc thể chế hóa thành

những nhân tố thuộc văn hóa xã hội, thể chế kinh tế, thể chế xã hội hay môi trường

nhân khẩu học…tác động thường xuyên đến hoạt động kinh doanh nói chung và

hoạt động marketing nói riêng.

18



Nhóm nhân tố này tác đơng đồng thời trực tiếp và gián tiếp tới hoạt động

marketing của chủ thể kinh doanh. Ảnh hường gián tiếp có thể được xem xét từ các

giá trị văn hóa được truyền tải thơng qua các tổ chức như gia đình, các tổ chức tôn

giáo, tổ chức xã hội, trường học…ảnh hưởng đến người mua từ đó chi phối đến các

biện pháp marketing của người bán; hoặc sự tác động của các tiêu chuẩn thái độ và

giá trị tới sự chấp nhận sản phẩm, nên ở Việt Nam vào đầu tháng người ta không

mở quán ăn về vịt, mực… ảnh hưởng trực tiếp của các giá trị văn hóa được biểu

hiện rõ nét thơng qua các quyết định về chính sách giá. Khi thực hiện các chính

sách này, nhà quản trị marketing phải nghiên cứu kỹ giá tâm lí, vì ở một số nơi, sự

thay đổi thường được xem là tích cực nên hàng thời trang, mốt được đặt giá cao vì

nó tượng trưng cho sự thay đổi, nhưng ở nơi khác, sự thay đổi có thể được xem là

khơng tốt nên một mức giá cao hơn cho sản phẩm mới thường chỉ làm sản phẩm

trở nên quá đắt cho người tiêu dùng bình thường, hoặc chương trình quảng cáo

phải thay đổi lời thoại vì mặc dù tại nền văn hóa này nó có ý nghĩa tích cực nhưng

tại nền văn hóa khác nó lại có ý nghĩa rất xấu.

- Nhóm thứ hai: Bao gồm rất nhiều yếu tố như ngơn ngữ, trình độ sử dụng những

cải tiến kĩ thuật, tôn giáo, cách sử dụng thời gian, các giá trị nhân sinh quan, các

tập tục lối sống… Các yếu tố này chính là những yếu tố cấu thành và thiết lập nên

văn hóa kinh doanh của chủ thể kinh doanh

2.2 Yếu tố bên trong:

Với tư cách nhân tố bên trong, văn hóa kinh doanh ảnh hưởng sâu rộng tới hoạt

động marketing của chủ thể kinh doanh cụ thể là:

- Văn hóa kinh doanh ảnh hưởng đến hàng loạt các vấn đề có tính chất chiến lược

trong marketing như lựa chọn lĩnh vực kinh doanh, lựa chọn thị trường mục tiêu,

các quyết định về nhiệm vụ của từng cơng cụ…

- Văn hóa kinh doanh ảnh hưởng đến các chiến thuật, các sách lược, biện pháp cụ

19



thể, các thao tác… của nhà hoạt động thị trường trong q trình marketing.

- Văn hóa kinh doanh ảnh hưởng tồn diện tới các cơng cụ khác nhau của hệ thống

marketing - mix, đặc biệt là công cụ sản phẩm, phân phối và xúc tiến hỗn hợp.

Như vậy, văn hóa kinh doanh có ảnh hưởng tồn diện tới hoạt động marketing.

Điều quan trọng để marketing trở thành hoạt động đem lại hiệu quả và góp phần

tích cực vào sự phát triển bền vững của chủ thể kinh doanh là văn hóa kinh doanh

phải xác định được mục đích của hoạt động marketing.

3. Thực trạng và giải pháp về Đạo đức kinh doanh trong Marketing:

3.1 Thực trạng :

Tại nhiều nước trên thế giới đã có q trình xây dựng nền sản xuất kinh doanh

trong cơ chế kinh tế thị trường qua hàng trăm năm, hoặc ít nhất 70-80 năm như

Nhật Bản, Hàn Quốc, trong đó cơ chế thị trường và hệ thống luật pháp đã được

hoàn thiện ở mức cao, đạo đức kinh doanh đã trở thành chuẩn mực và truyền thống

trong xã hội. Việt Nam mới chỉ bước vào xây dựng kinh tế thị trường từ khi bắt đầu

công cuộc Đổi mới với Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, lại xuất phát từ một nền

kinh tế tập trung quan liêu bao cấp. Văn hóa kinh doanh, trong đó quan trọng nhất

là đạo đức kinh doanh, đến nay dư luận chung trong xã hội vẫn cho là còn “bỏ

ngỏ”. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh đã xảy ra hàng vạn vụ vi phạm luật

pháp và đạo đức kinh doanh với rất nhiều hiện tượng tiêu cực như sử dụng các thủ

đoạn khơng chính đáng, kể cả bất hợp pháp, để đạt lợi nhuận càng nhiều càng tốt;

sản xuất, nhập khẩu hoặc kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng quốc cấm, hàng

kém chất lượng, độc hại, kể cả trong sản xuất kinh doanh dược phẩm và thực phẩm

không an tồn; khơng thực hiện hoặc thực hiện khơng đầy đủ các chế độ chính

sách đối với người lao động như về tiền lương, bảo hiểm, an toàn lao động, chế độ

hưu trí; thiếu tơn trọng lợi ích người tiêu dùng, khách hàng và đối tác; trốn thuế,



20



buôn lậu, gian lận thương mại; gây ô nhiễm môi trường tự nhiên và môi trường xã

hội; không thực hiện các trách nhiệm xã hội, v.v…

Tình trạng vi phạm đạo đức kinh doanh đã trở thành một vấn đề “nhức nhối” trong

xã hội hiện nay. Chỉ riêng vấn đề vi phạm đạo đức kinh doanh trong sản xuất thực

phẩm đã dấy lên hồi chuông báo động đỏ – như một đại biểu Quốc hội đã phát

biểu: “Con đường từ dạ dày đến nghĩa địa chưa bao giờ ngắn và dễ dàng như hiện

nay!”. Trước tình hình đó, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định lấy ngày 15/3 hằng

năm là Ngày Bảo vệ quyền người tiêu dùng Việt Nam và chủ đề của năm 2016 là

“Quyền được an toàn của người tiêu dùng”. Đài Truyền hình Việt Nam cũng có

hẳn một chun mục “Nói không với thực phẩm bẩn!”

3.2 Giải pháp:

Xuất phát từ thực trạng đạo đức kinh doanh và những nguyên nhân của tình trạng

yếu kém trong thực thi đạo đức kinh doanh ở Việt Nam, cần đẩy mạnh các công tác

chủ yếu sau:

Hoàn thiện khung luật pháp nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho đạo đức kinh

doanh. Hiện nay, có tình trạng chưa đủ quy định về pháp lý đối với những vi phạm

trong đạo đức kinh doanh, thủ tục pháp lý chưa được quy chuẩn rõ ràng nên khó xử

lý khi phát hiện vi phạm, chế tài chưa đủ mạnh để răn đe và ngăn chặn các biểu

hiện vi phạm đạo đức kinh doanh, từ đó dẫn đến tình trạng “nhờn luật”, cố tình vi

phạm nhưng các cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn trong xử lý.

Cần nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp, của người tiêu dùng và toàn

xã hội về vấn đề đạo đức kinh doanh, đặc biệt sự nhận thức và trách nhiệm của

doanh nghiệp, doanh nhân là những chủ thể hoạt động kinh doanh; gắn chặt và đề

cao tinh thần trách nhiệm của doanh nghiệp, doanh nhân đối với đối tác, khách



21



hàng, người tiêu dùng và toàn xã hội (về chất lượng sản phẩm, trách nhiệm hậu

mãi, trách nhiệm bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội).

Tăng cường phổ biến và giáo dục về đạo đức kinh doanh cho các chủ thể kinh

doanh, từng cá nhân doanh nghiệp, doanh nhân để họ có nhận thức đúng và đầy đủ

về các quy định luật pháp, trách nhiệm cũng như đạo đức kinh doanh. Bên cạnh đó

cũng cần giáo dục nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và toàn xã hội về những

quy định của pháp luật và vấn đề đạo đức kinh doanh để người tiêu dùng và khách

hàng (thường được gọi là “thượng đế”) có thể giám sát việc tuân thủ luật pháp và

những chuẩn mực về đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nhân.

Cần có những biện pháp khuyến khích doanh nghiệp, doanh nhân nâng cao đạo

đức kinh doanh. Nhà nước cần phổ biến Bộ Tiêu chí về đạo đức kinh doanh để

thực thi rộng rãi trong cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân và toàn xã hội; tiến

hành một cuộc vận động thường xuyên về xây dựng và thực hiện đạo đức kinh

doanh; áp dụng những hình thức tôn vinh xứng đáng các doanh nghiệp, doanh nhân

thực hiện xuất sắc những chuẩn mực của đạo đức kinh doanh.

Nâng cao vai trò của các cơ quan bộ, ban, ngành, địa phương, tổ chức xã hội (như

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở Trung ương và các cấp, Tổng Liên đoàn Lao động

Việt Nam), các hội và hiệp hội (như Hội Bảo vệ quyền người tiêu dùng, Hiệp hội

Phát triển Văn hóa Doanh nghiệp Việt Nam, Hội Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa),

Phòng Thương mại và Cơng nghiệp Việt Nam, các khu công nghiệp, các hội và

hiệp hội ngành nghề…

Tăng cường công tác thông tin, truyền thông rộng rãi về vấn đề đạo đức kinh

doanh, khuyến khích báo chí vào cuộc nhằm phát hiện và đưa ra công luận những

cá nhân và hành vi vi phạm pháp luật và đạo đức kinh doanh, đồng thời nêu những



22



tấm gương điển hình tốt về những cá nhân và tổ chức doanh nghiệp, doanh nhân có

thành tích xuất sắc trong việc xây dựng và thực hiện đạo đức kinh doanh.



CHƯƠNG III. LUẬN CỨ THỰC TẾ VÀ BIỆN LUẬN

1. Thực trạng của lĩnh vực quảng cáo hiện nay trong đạo đức marketing:

Lợi ích trong lĩnh vực kinh tế:

Quảng cáo có thể đóng một vai trò quan trọng trong quá trình của một hệ

thống kinh tế, được hướng dẫn bởi các chuẩn mực luân lý và đáp ứng được

lợi ích chung; hệ thống này góp phần vào sự phát triển của con người. Đó là

một phần cần thiết trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường hiện nay, là

nền kinh tế đã có sẵn hoặc đang ra đời ở nhiều nơi trên thế giới, cũng là nền

kinh tế xem ra “hữu hiệu nhất trong việc tận dụng các nguồn lực và đáp ứng

một cách hiệu quả các nhu cầu kinh tế - xã hội”, miễn là nó được tổ chức

theo các tiêu chuẩn luân lý dựa trên sự phát triển toàn diện con người và

cơng ích.

Quảng cáo làm được việc này bằng một trong nhiều cách là thơng tin cho

người ta biết sự có sẵn của các sản phẩm mới, các dịch vụ mới và các sự cải

thiện mặt hàng và dịch vụ đã có cách hợp tình hợp lý, nhờ đó khách hàng có

thể đưa ra quyết định một cách hiểu biết và khôn ngoan giúp nền kinh tế

được hiệu quả, giá cả hạ xuống, đồng thời kích thích sự tiến bộ kinh tế bằng

cách mở mang kinh doanh và thương mại. Từ đó, có thể giúp tạo thêm cơng

ăn việc làm, có thêm thu nhập, cải thiện mức sống đàng hoàng và nhân bản

hơn cho mọi người. Nó cũng giúp người ta có tiền để chi trả cho các ấn

phẩm, chương trình và các sản phẩm.



23



Quảng cáo là một lĩnh vực nhất định có ảnh hưởng đến nhận thức xã hội. Mỗi

ngày, bước ra đường, bạn thấy nhan nhản poster, billboard giăng đầy đường phố.

Vào đến công ty, mở internet ra là đụng ngay hàng loạt thư quảng cáo mời chào.

Sau một ngày làm việc vất vả, về nhà bật tivi lên xem giải trí, bạn cũng khơng

thốt khỏi một số phim quảng cáo “nhảy vào“ giữa chương trình u thích. Rồi

quảng cáo trên báo chí, trên radio…Quảng cáo đã và đang thay đổi từ thói quen

mua sắm, động thái tiêu dùng, đến cả suy nghĩ, quan điểm xã hội. Nói thế để thấy

rằng những quan điểm quy tắc chung về chuẩn mực đạo đức trong quảng cáo, để

“kiểm duyệt“ một mẫu quảng cáo trước khi nó “dội bom“ vào nhận thức của công

chúng là hết sức quan trọng.

Theo Laczniak & Murphy, quảng cáo gây ra những điều hết sức nguy hiểm cho xã

hội:

- Lôi cuốn con người chạy theo những động cơ thuộc bản năng.

- Gây nên nhiều tác động khác nhau nhưng hồn tồn khơng phải chịu trách nhiệm

về mặt xã hội.

-Có tác động mạnh đến q trình xây dựng tính cách của trẻ con.

Lấy ví dụ cụ thể: Quảng cáo Mì gấu đỏ – gắn kết yêu thương

Lúc mới đầu khi được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng quảng cáo

Mì gấu đỏ – gắn kết yêu thương đã lấy đi khá nhiều nước mắt của khán giả vì đây

là một quảng cáo khá hay và ý nghĩa kể về kí ức của cậu bé Tuấn. “Đó là ký ức câu

chuyện của bệnh nhân tên Long, về nụ cười ấm áp của cô y tá Mai, sự ân cần, hóm

hỉnh của bác sĩ Quang. Tuy nhiên, với bố mẹ Tuấn, ngày ra viện lại là ký ức buồn

vì họ khơng đủ kinh phí để tiếp tục điều trị cho con”.

Hàng triệu khán giả truyền hình đã rớt nước mắt khi xem hình ảnh bé Tuấn bị ung

thư phải rời bệnh viện vì khơng có tiền chữa bệnh trong clip quảng cáo mì Gấu đỏ.

Dường như, ai cũng nghĩ rằng đó là một cậu bé có hồn cảnh vơ cùng khó khăn

24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG MARKETING

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×