Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Tải bản đầy đủ - 0trang

SKKN: Khai thác sử dụng hiệu quả kênh hình trong dạy học chủ đề “Lực đẩy Ác Si

Mét - Sự nổi - Vật lí 8”

từ việc quan sát tồn cảnh của tranh, tiếp đến là các điểm nhấn của tranh, từ đó dùng

phản xạ, kinh nghiệm và tư duy trực giác của mình kết hợp với lĩnh vực kiến thức

đang đề cập tới để phát hiện thông tin liên quan tới tranh ảnh đó.

Hình ảnh với tư cách là đặc tả hoặc sự phản ánh khái quát hiện thực khác

quan là một nguồn tri thức là công cụ dạy học quan trọng của vật lý.

Hình ảnh tạo nên những biểu tượng chân thực tạo điều kiện để hình thành

một cách vững chắc khái niệm, kiến thức cơ bản.

Hình ảnh đẹp nhiều màu sác giáo dục thẩm mỹ có tác dụng kích thích hứng

thú học tập của học sinh.

Hình ảnh trực quan về đối tượng mà học sinh có thể quan sát trực tiếp sẽ tạo

ra biểu tượng ban đầu về sự vật, hiện tượng từ đó việc hình thành kiến thức của các

em diễn ra dễ dàng hơn. Thực tế kinh nghiệm dạy học cho thấy, học sinh rất thích

thú với tranh vẽ và hình ảnh.

Học sinh có thể khơng đọc kênh chữ, tuy nhiên các em tỏ ra thích thú với

kênh hình. Những bức ảnh các em quan sát kỹ hơn, dừng lại lâu hơn, và ở những

bức ảnh còn có khả năng lưu lại trong trí nhớ của học sinh một cách dễ dàng hơn hệ

thống kênh chữ. Hình ảnh hiện nay rất đa dạng và phong phú từ ảnh vẽ, ảnh đen

trắng, ảnh màu của các sự vật hiện tượng được đưa vào sách giáo khao tài liệu tham

khảo.

Ảnh giáo khoa là một nghệ thuật mô tả đối tượng khách quan bằng thông tin

nhằm tác động vào thị giác của con người. Đối tượng ghi bằng máy chụp ảnh. Đặc

điểm cơ bản của ảnh là mô tả sự vật hiện tượng ở trạng thái tĩnh, trong thời gian và

không gian nhất định.

Ảnh giáo khoa cung cấp tư liệu cho thầy trò thực hiện tốt nội dung bài học.

Khác với tranh ảnh phản ánh trực tiếp đối tượng mang tính chân thực. Ảnh còn

chứng minh sự vật đó sự kiện đó, cảnh đó, sự kiện có thật trong cuộc sống. Vì thế

có sức thuyết phục và giúp học sinh có niềm tin vào đối tượng mình nghiên cứu.

Tranh ảnh chân dung có giá trị như các tư liệu lịch sử giúp học sinh hình

thành biểu tượng con người, giúp học sinh hiểu thêm về về nững cơng trình, những

cống hiến của các nhà khoa học đối với nhân loại.

Một số lưu ý khi sử dụng tranh

Để sử dụng hình ảnh có hiệu quả trước khi lên lớp, giáo viên cần chẩn bị:

+ Nghiên cứu kỹ nội dung kết quả của các tranh ảnh sử dụng: Chuẩn bị, tìm

những tình huống cho học sinh khai thác thơng tin từ nội dung các tranh ảnh đó.

+Tìm hiểu tập hợp thơng tin tư liệu để hướng dẫn học sinh suy nghĩ, thảo

luận.

+ Xác định thời điểm sử dụng có hiệu quả nhất.

GV: Nguyễn Xuân Diệu



4



TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN



SKKN: Khai thác sử dụng hiệu quả kênh hình trong dạy học chủ đề “Lực đẩy Ác Si

Mét - Sự nổi - Vật lí 8”

Trên lớp: Khi dạy kiến thức có hình vẽ, tranh ảnh, những hình ảnh đó phải

bảo đảm hình vẽ đủ kích thước, rõ ràng để học sinh có thể quan sát. Nếu hình nhỏ

giáo viên có thể tổ chức thảo luận theo nhóm, theo bàn. Đảm bảo mọi học sinh đều

quan sát rõ hình ảnh đó.

- Kỹ năng khai thác thông tin từ bảng biểu, đồ thị, sơ đồ:

Bảng biểu, đồ thị, sơ đồ có vai trò quan trọng trong việc tóm lược, so sánh,

biện luận các kiến thức, các quy luật vật lý.

Từ bảng biểu ta có thể thấy, được sự tóm tắt các thơng tin liên quan đến các

đối tượng, các đại lượng vật lý. Khi làm việc với loại kênh thông tin này chúng ta

nên xem xét chúng bao gồm những cột, dòng thơng tin nào (bảng được lập theo

dạng hàng - cột), hoặc các khối thơng tin nào, bảng này nói về cái gì, các thông tin

nào là thông tin mà ta đang quan tâm.

Với đồ thị, chúng ta cần biết nó được vẽ ra để thể hiện mối quan hệ giữa các

đại lượng vật lý nào (căn cứ vào các trục của đồ thị, số trục của đồ thị, đơn vị

tính...). Cần xem xét dạng đường của đồ thị để biết tính chất biến thiên của các đại

lượng (tuyến tính, phi tuyến tính...). Trong nhiều bài tốn chúng ta khơng cần phải

mất thời gian để giải nó hoặc giải bằng phương pháp thơng thường sẽ gặp khơng ít

bất lợi, trong khi nếu khai thác tốt đồ thị ta có thể đưa ra kết quả nhanh và chính

xác.

Sơ đồ trong SGK Vật lý giúp tóm lược một hệ thống kiến thức, hoặc mô tả

ngắn gọn và sơ lược một đặc trưng nào đó của bài học theo ý đồ sư phạm của tác

giả, phần học hay kiến thức vật lý. Khi làm việc với kênh thông tin này, chúng ta

cần xác định sơ đồ này được lập ra để làm gì, cho phần kiến thức nào, dạng tóm tắt

hay so sánh. Nếu tóm tắt hay so sánh thì tóm tắt hay so sánh nội dung gì.

Đặc trưng của mơn Vật lý là thí nghiệm, tuy nhiên khơng phải làm thí

nghiệm nào cũng có thể tiến hành thành công. Nhờ vào bản số liệu sách giáo khoa

mà giáo viên có thể tiến hành thí nghiệm theo ý đồ của mình,hoặc từ số liệu sách

giáo khoa và những số liệu thực tế trong quá trình tiến hành thí nghiệm học sinh có

thể so sánh, đối chiếu, rút ra kết luận.

Một số lưu ý khi sử dụng bảng số liệu, đồ thị

+ Yêu cầu học sinh phải đọc tiêu đề phía trên hoặc phía dưới của bảng số

liệu, để học sinh xác định được đối tượng của bảng số liệu, đồ thị.

- Kỹ thuật khai thác thông tin từ băng đĩa hình, video clip:

Video được xây dựng dựa vào nội dung SGK, hoặc những hiện tượng diễn ra

mà bằng mắt thường HS không tri giác được…Video giúp HS thu nhận thế giới tự

nhiên vào lớp học, xóa bỏ những hạn hẹp về mặt không gian của lớp học và về mặt

thời gian của giờ học. Nhờ các cuốn phim được quay từ trước HS quan sát với tốc

GV: Nguyễn Xuân Diệu



5



TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN



SKKN: Khai thác sử dụng hiệu quả kênh hình trong dạy học chủ đề “Lực đẩy Ác Si

Mét - Sự nổi - Vật lí 8”

độ mong muốn hoặc có thể làm dừng lại hình ảnh để quan sát được các hiện tượng

vật lý một cách tối ưu, làm cho HS có thể hiểu rõ về đối tượng đang nghiên cứu.

Việc sử dụng các khả năng của sự đồ họa, kết hợp với các tín hiệu âm thanh và sự

thuyết minh phim không ngừng tạo cho HS những biểu tượng tốt hơn về đối tượng

nghiên cứu mà còn tăng tính trực quan, rút ngắn thời gian so với với việc sử dụng

các phương tiện dạy học khác, do đó GV có nhiều thời gian dẫn dắt HS tự phát hiện

ra kiến thức. Video còn có thể dùng ở tất cả các giai đoạn của quá trình dạy học: ở

lớp học hoặc ngồi lớp học.

Một số lưu ý khi sử dụng video:

+ Đặt kế hoạch sử dụng video trong kế hoạch tổng thể của một chương; một

phần cụ thể (sử dụng video nào, lúc nào, nhằm mục đích nào về mặt lí luận dạy

học...).

+ Xác định các công việc chuẩn bị với HS trước khi sử dụng: giao cho HS

nhiệm vụ ôn tập ở nhà những kiến thức cần thiết để có thể hiểu được nội dung

video; nêu mục đích sử dụng video để đặt HS ở tâm thế chờ đợi tích cực, khêu gợi

tính tò mò nhận thức; trước khi chiếu, để định hướng sự chú ý của HS vào những

nội dung cơ bản của video, GV cần giao cho HS các nhiệm vụ cần hoàn thành sau

khi xem.

+ Trong khi xem phim, GV cần quan sát, có thể đưa ra các gợi ý nhỏ để

hướng sự chú ý của HS vào cái cơ bản, cái đặc biệt.

+ Đánh giá hiệu quả việc sử dụng video học tập: có thể đánh giá kết quả sử

dụng video ngay sau khi xem hoặc ở các giờ học sau; hiệu quả sử dụng cần được

đánh giá thông qua câu trả lời của HS cho các câu hỏi đã nêu. Tốt nhất là tổ chức

các thảo luận của HS qua đó đánh giá mức độ nắm vững của HS...

Tùy vào mỗi đơn vị kiến thức, đặc điểm của đối tượng nhận thức mà GV sử

dụng kênh hình để tổ chức các hoạt động nhận thức cho phù hợp với hoạt động

nhận thức của HS, sao cho mỗi loại kênh hình đó là loại phương tiện hữu hiệu

nhất để HS lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng và hiệu quả. Việc sử dụng các kênh

hình trong và ngồi SGK nhằm làm cho đối tượng vật lý có tính cập nhật, sống động

và phong phú hơn. Đặc biệt hiện nay với sự ứng dụng mạnh mẽ của công nghệ thông

tin, GV có thể dễ dàng thiết kế và tạo ra nhiều loại kênh hình khác nhau để phục vụ

cho giảng dạy.

3. Vai trò của việc khai thác, sử dụng kênh hình trong dạy học Vật lý

Nếu học sinh được xem clip, thí nghiệm (được thiết kế theo logic của bài

học), tranh ảnh với màu sắc sinh động kết hợp với lời nói của giáo viên thì khả năng

ghi nhớ của cá em sẽ tăng lên. Không những thế, nếu làm được việc này chúng ta sẽ

tạo ra được một bầu khơng khí học tập sinh động, khơi gợi hứng thú học tập cho các

GV: Nguyễn Xuân Diệu



6



TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐƠN



SKKN: Khai thác sử dụng hiệu quả kênh hình trong dạy học chủ đề “Lực đẩy Ác Si

Mét - Sự nổi - Vật lí 8”

em đồng thời khắc sâu những kiến thức mà các em đã được học. Rõ ràng việc kết

hợp hai hay nhiều phương tiện dạy học sẽ giúp cho học sinh tiếp thu thơng tin

nhanh, chính xác và nhớ lâu hơn.

Kênh hình còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy, ngơn

ngữ học của học sinh. Đồng thời có ý nghĩa giáo dục tư tưởng tình cảm, cảm xúc

thẩm mỹ rất lớn, góp phần hồn thiện tri thức.

Với những ý nghĩa trên, kênh hình góp phần to lớn trong việc góp phần nâng

cao chất lượng dạy học môn vật lý, tạo hứng thú, cuốn hút học sinh tham gia tích

cực vào bài giảng, làm cho lớp học sôi động, không buồn tẻ, hiệu quả giảng dạy tốt

hơn, giúp phát huy sức sang tạo, khả năng suy nghĩ độc lập, năng lực nghiên cứu, tư

duy tìm tòi khám phá, năng lực quan sát, khả năng vận dụng lý thuyết vào thực tiễn

của học sinh.

Việc khai thác, sử dụng kênh hình trong dạy học vật lý có những vai trò quan

trọng:

- Kênh hình là phương tiện trực quan của GV, là nguồn tri thức quan trọng

của HS. Nó có khả năng cung cấp thơng tin một cách đầy đủ hơn, bổ sung và mở

rộng vấn đề khi SGK chưa trình bày đến nó.

- Giúp HS dễ dàng tiếp thu trong quá trình nhận thức, phát triển tư duy và hỗ

trợ HS trong các khái niệm trừu tượng hoá, định hướng đúng vấn đề.

- Cải tiến phương pháp dạy học của GV và thay đổi hình thức học của HS

theo hướng tích cực. Lấy HS làm trung tâm, GV có tác dụng hướng dẫn HS trong

q trình chủ động tiếp cận kiến thức.

- Minh hoạ cho các hiện tượng, khái niệm, cơng thức, định luật... Nó hỗ trợ

và phát huy mọi giác quan của HS. Tăng độ tin cậy và khắc sâu kiến thức. Giảm

thời gian giảng giải, gây hứng thú cho người học, dễ nhận biết, dễ nhớ, làm cho bài

giảng cụ thể, sinh động hơn.

- Phát huy, nâng cao được tính chủ động, sáng tạo của người GV trong hoạt

động dạy học.

- Giảm thời gian giảng giải, giảm tải cho người dạy, gây hứng thú cho người

học, HS dễ dàng hiểu được những vấn đề muốn diễn đạt, làm rõ những điều GV

muốn giới thiệu.

- Giúp đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học

tập của HS.

4. Các yêu cầu khi khai thác, sử dụng kênh hình

- Các nguyên tắc khai thác, sử dụng kênh hình

Để khai thác triệt để cơng dụng của kênh hình, GV phải nắm được một số

ngun tắc có tính bắt buộc sau:

GV: Nguyễn Xn Diệu



7



TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN



SKKN: Khai thác sử dụng hiệu quả kênh hình trong dạy học chủ đề “Lực đẩy Ác Si

Mét - Sự nổi - Vật lí 8”

+ Nguyên tắc sử dụng đúng lúc:

Sử dụng kênh hình vào lúc cần thiết, lúc HS mong muốn được quan sát,

trong trạng thái tâm lý thuận lợi nhất.Kênh hình xuất hiện đúng lúc nội dung và

phương pháp dạy học cần nói đến.Tránh đưa ra một lúc nhiều kênh hình hoặc nhiều

loại phương tiện trực quan.

+ Nguyên tắc sử dụng đúng chỗ:

Tìm vị trí để giới thiệu kênh hình hoặc phương tiện trực quan trên lớp hợp lý

nhất, giúp HS có thể sử dụng nhiều giác quan nhất, tiếp xúc phương tiện một cách

đồng đều ở mọi vị trí trong lớp, đảm bảo cho tồn lớp có thể quan sát kênh hình một

cách rõ ràng, đảm bảo không làm phân tán tư tưởng của học sinh khi tiến hành các

hoạt động học tập tiếp theo.

+ Nguyên tắc sử dụng đúng cường độ:

Nguyên tắc này chủ yếu đề cập nội dung và phương pháp dạy học sao cho

thích hợp, vừa với trình độ tiếp thu và lứa tuổi của HS.Mỗi loại kênh hình hoặc

phương tiện dạy học có mức độ sử dụng tại lớp khác nhau. Nếu kéo dài việc sử

dụng một loại phương tiện hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần trong một buổi học, hiệu quả

của chúng sẽ giảm sút. Việc sử dụng nhiều hình thức, nhiều phương tiện khác nhau

trong một buổi học có ảnh hưởng lớn đến sự tiếp thu của HS, đến hiệu quả sử dụng

phương tiện dạy học. Theo nghiên cứu của các nhà sinh lý học, nếu một dạng hoạt

động được tiếp tục trên 15 phút thì khả năng làm việc sẽ giảm sút rất nhanh. Việc áp

dụng thường xuyên các phương tiện nghe nhìn ở trên lớp dẫn đến sự quá tải thông

tin đối với HS do chưa có đủ thời gian để chuyển hóa lượng thơng tin đó. Sử dụng

phương tiện nghe nhìn khơng q 3 – 4 lần trong một tuần và kéo dài không quá 20

– 25 phút trong một buổi dạy.

- Những điều giáo viên cần lưu ý khi khai thác và sử dụng kênh hình

Khi sử dụng kênh hình trong dạy học, GV cần chú ý đảm bảo các yêu cầu

sau:

+ Kênh hình phải được sử dụng có hiệu quả cao, đáp ứng được yêu cầu về

nội dung và phương pháp được quy định trong chương trình giáo dục.

+ Tập trung vào việc sử dụng các kênh hình như một nguồn kiến thức, hạn

chế dùng chúng theo cách minh họa cho kiến thức.

+ Để có thể sử dụng tốt các kênh hình, khi lên lớp GV cần:

Có kế hoạch chuẩn bị trước các kênh hình. Nghiên cứu kỹ các kênh hình để

hiểu rõ nội dung, tác dụng của từng loại kênh hình, tránh tình trạng khi lên lớp mới

cùng HS tiếp xúc với kênh hình.Khi soạn bài cũng như khi lên lớp học. GV cần phải

xây dựng được hệ thống câu hỏi, bài tập tương đối chính xác, rõ ràng để HS làm

việc với các loại kênh hình nhằm lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng vật lý. GV

GV: Nguyễn Xuân Diệu



8



TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN



SKKN: Khai thác sử dụng hiệu quả kênh hình trong dạy học chủ đề “Lực đẩy Ác Si

Mét - Sự nổi - Vật lí 8”

cần giúp HS nắm được trình tự các bước làm việc với từng loại phương tiện, thiết bị

dạy học để tìm kiến thức, rèn luyện kỹ năng, phát triển tư duy.

+ Trong quá trình sử dụng kênh hình GV nên dùng phương pháp đàm thoại

để hướng dẫn HS quan sát, tập trung chú ý những chi tiết quan trọng.

+ Khi tranh ảnh không nêu rõ được đặc điểm, chi tiết của đối tượng thì GV

phải kết hợp với việc bổ sung các hình vẽ trên bảng hoặc các vật mẫu.

+ GV nên cho HS sưu tầm những tranh ảnh từ các tạp chí, báo trong các

trang web theo các chủ đề khác nhau.

II. Thực trạng về việc sử dụng kênh hình trong dạy học vật lý ở các trường

trung học cơ sở

1. Về phía giáo viên

Nhìn chung đa số GV nhận thức được tầm quan trọng của kênh hình trong

dạy học vật lý, có sử dụng kênh hình trong dạy học, tuy nhiên mức độ không

thường xuyên. GV khai thác tương đối tốt kênh hình trong SGK, còn với kênh hình

ngồi SGK thì chưa được GV sử dụng nhiều trong giờ học. Giáo viên đã sử dụng

kênh hình trong giảng dạy, tuy nhiên vẫn ảnh hưởng lối truyền thụ cũ. Bởi vậy, học

sinh chưa phát huy hết vai trò chủ thể của nhận thức, để phát huy triệt để tính tích

cực, sự chủ động của HS trong một tiết lên lớp, người GV cần phải huy động các

phương tiện dạy học tối ưu, trong đó việc sử dụng kênh hình phục vụ bài dạy là một

thao tác hữu ích và rất cần thiết.

Các quan niệm của GV về kênh hình có sự nhận thức khác nhau. Từ đó dẫn

đến hướng sử dụng kênh hình của GV khác nhau:

- Nếu coi kênh hình là phương tiện minh họa, thì GV là người chủ động

trong hoạt động dạy học. GV trình bày kiến thức xong rồi giới thiệu kênh hình để

minh họa cho nội dung vừa trình bày, nhằm củng cố bài học.

- Nếu coi kênh hình là nguồn kiến thức, thì GV sẽ tổ chức cho HS khai thác

tri thức từ kênh hình, thơng qua hướng dạy học tích cực bằng hệ thống câu hỏi và

bài tập mà GV chuẩn bị trước.

Tuy nhiên kênh hình được GV sử dụng chủ yếu mang tính chất minh họa,

chưa sử dụng kênh hình là nguồn khai thác tri thức hoặc dùng giải các bài tập.

Như vậy giáo viên đã nhận thức được sự cần thiết của sử dụng kênh hình

trong dạy học. Nhưng trong thực tế thì việc sử dụng kênh hình trong dạy học còn

nhiều hạn chế. Một mặt trong đó là do điều kiện vật chất khó khăn, điều kiện thiết

bị dạy học ở trường phổ thơng còn thiếu (máy chiếu…), mặt khác mất nhiều thời

gian chuẩn bị, một số GV khả năng sử dụng cơng nghệ thơng tin còn hạn chế, nên

việc khai thác kênh hình vào dạy học có hiệu quả chưa cao.



GV: Nguyễn Xuân Diệu



9



TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN



SKKN: Khai thác sử dụng hiệu quả kênh hình trong dạy học chủ đề “Lực đẩy Ác Si

Mét - Sự nổi - Vật lí 8”

Tuy nhiên việc sử dụng kênh hình có sự chuyển biến tích cực, kết quả bước

đầu khả quan, rất cần phát triển thêm.

2. Về phía học sinh

Thực trạng về mặt trí lực HS lớp 8 có năng lực quan sát tốt hơn và có tư duy

nhạy bén hơn, có khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hố, khái quát hoá tốt

hơn nhiều so với HS lớp 6, 7. Về tính cách, các em đang trong giai đoạn chuyển đổi,

các em thích thể hiện bản thân, thể hiện cá tính rõ rệt, các em thích tranh luận, thích

bày tỏ ý kiến của bản thân mình, vì vậy các em thích tìm tòi những cái mới lạ,

khơng thích chấp nhận một cách đơn giản các yêu cầu của GV, nếu chỉ nghe GV

giảng bài và ghi chép các em sẽ cảm thấy nhàm chán, các em sẽ có biểu hiện thờ ơ

hoặc kém hứng thú trong tiết học. Điều này thể hiện qua giờ học trên lớp và qua kết

quả khảo sát độ hứng thú của học sinh trước khi áp dụng đề tài nghiên cứu:

Bảng 1: Khảo sát độ hứng thú của học sinh khi học về chủ đề “Lực đẩy Ác Si

Mét - Sự nổi - Vật lý 8”.(khi chưa áp dụng đề tài)

Lớp

Mức độ

Hứng thú

Không

hứng thú



8A



8B



8C



8D



8E



Tổng



sl



%



sl



%



sl



%



sl



%



sl



%



sl



%



10



33,3



12



41,4



10



35,7



12



40



13



46,4



57



39



20



66,7



17



58,6



18



64,3



18



60



16



53,6



89



61



Qua số liệu khảo sát ta thấy độ hứng thú của học sinh khi học chủ đề này là

chưa cao, dẫn đến khó hiểu bài từ đó lơ là chểnh mảng trong học tập, thậm chí có

em cúp học, ảnh hưởng tới sự tiếp thu kiến thức, kết quả học tập chưa cao. Điều này

thể hiện qua các bài kiểm tra :

Bảng 2: Kết quả kiểm tra 15 phút chủ đề “Lực đẩy Ác Si Mét - Sự nổi - Vật

lý 8”, tháng 12 năm học 2017-2018

Lớp

Mức độ

Trên trung

bình

Dưới trung

bình



8A



8B



8C



8D



8E



Tổng



sl



%



sl



%



sl



%



sl



%



sl



%



sl



%



9



30



10



34,5



11



39,3



11



36,7



12



41,4



53



36,3



21



70



19



65,5



17



61,7



19



63,3



17



58,6



93



63,7



Từ những số liệu điều tra trên đòi hỏi trong q trình dạy học phải có những

cải tiến sao cho phù hợp. Lúc này GV có vai trò quan trọng trong việc kích thích

hứng thú học tập của HS, thay vì những tiết giảng chỉ sử dụng phương pháp truyền

GV: Nguyễn Xuân Diệu



10



TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN



SKKN: Khai thác sử dụng hiệu quả kênh hình trong dạy học chủ đề “Lực đẩy Ác Si

Mét - Sự nổi - Vật lí 8”

thụ theo lối thuyết trình, giảng giải GV nên sử dụng các phương pháp dạy tích cực

kết hợp với kênh hình. Hầu hết HS đều có mong muốn GV khai thác nhiều hơn nữa

hệ thống kênh hình cho bài học vật lý, đặc biệt là các loại kênh hình mà các em yêu

thích.

III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

1. Giải pháp 1: Bám sát mục tiêu, chuẩn kiến thức, kĩ năng của chủ đề “Lực

đẩy Ác Si Mét - Sự nổi” Vật lý 8

1.1. Mục tiêu

Bài “Lực đẩy Ác Si Mét - Sự nổi” vật lý 8 nghiên cứu về tác dụng của lực

đấy Ác Si Mét liên quan đến sự nổi của vật, là một trong những nội dung kiến thức

quan trọng trong chương cơ học của vật lý 8.

Bài này giúp học sinh có kĩ năng giải quyết các vấn đề liên quan đến lực đẩy

Ác Si Mét và sự nổi. Từ đó tạo được khả năng vận dụng các kiến thức trong bài để

giải quyết các vấn đề của thực tế.

Bài này có nhiều kiến thức liên quan đến đời sống và thực tiễn nên hình

thành cho học sinh một hứng thú học tập, một thái độ học tập tích cực và u thích

mơn học hơn.

1.2. Nội dung cơ bản

1.2.1 Chuẩn kiến thức, kỹ năng

- Mô tả được hiện tượng về sự tồn tại của lực đẩy Ác-si-mét

- Viết được cơng thức tính độ lớn lực đẩy, nêu được đúng tên đơn vị đo các

đại lượng trong công thức.

- Nêu được điều kiện nổi của vật.

- Giải thích được các hiện tượng vật lí liên quan đến lực đẩy Ác-si-mét, sự

nổi

- Vận dụng được công thức về lực đẩy Ác-si-mét F = V.d.

1.2.2. Kiến thức cơ bản

- Tác dụng của chất lỏng lên vật nhúng chìm trong nó

Một vật nhúng vào chất lỏng, bị chất lỏng đẩy thẳng đứng từ dưới lên với lực

có độ lớn bằng trọng lượng của phần chất lỏng mà vật chiếm chỗ. Lực này gọi là

lực đẩy Ác – si – mét.

- Độ lớn của lực đẩy Ác-si-mét

Công thức tính lực đẩy Ác-si-mét:

FA = d.V

Trong đó: d là trọng lượng riêng của chất lỏng (N/m3).

V là thể tích phần chất lỏng bị vật chiếm chỗ (m3).

FA là lực đẩy Ác-si-mét (N)

GV: Nguyễn Xuân Diệu



11



TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN



SKKN: Khai thác sử dụng hiệu quả kênh hình trong dạy học chủ đề “Lực đẩy Ác Si

Mét - Sự nổi - Vật lí 8”

Lưu ý: V là thể tích phần chất lỏng bị vật chiếm chỗ cũng chính là thể tích

phần chìm của vật chứ khơng phải là thể tích của vật. Muốn tính thể tích phần chìm

của vật có nhiều trường hợp:

+ Nếu cho biết Vnổi thì Vchìm = Vvật - Vnổi.

+ Nếu cho biết chiều cao h phần chìm của vật (có hình dạng đặc biệt) thì

Vchìm=Sđáy.h

+ Nếu cho biết vật chìm hồn tồn trong chất lỏng thì Vchìm = Vvật.

- Điều kiện để vật nổi, vật chìm: Nếu ta thả một vật ở trong lòng chất lỏng thì

Vật chìm xuống khi lực đẩy Ác si mét FA nhỏ hơn trọng lượng P: FA < P

Vật nổi lên khi : FA > P

Vật lơ lửng trong chất lỏng khi: FA = P

- Độ lớn của lực đẩy Ác si mét khi vật nổi lên trên mặt chất lỏng: Khi vật nổi

lên trên mặt chất lỏng thì lực đẩy Ác – si – mét FA = d. V, trong đó V là thể tích của

phần vật chìm trong chất lỏng, (khơng phải thể tích của vật), d là trọng lượng riêng

của chất lỏng.

Lưu ý: Khi nhúng chìm vật rắn vào trong một bình chất lỏng thì có ba trường

hợp xảy ra: Vật chìm xuống; Vật nằm lơ lửng trong lòng chất lỏng; Vật nổi lên trên

mặt chất lỏng.

+ Trường hợp vật đang chìm xuống, nằm lơ lửng trong chất lỏng và đang nổi

lên, là những trường hợp tương đối dễ để phân tích và HS thường mắc phải sai lầm.

tuy nhiên, trường hợp vật đã nằm yên ở đáy bình và nhất là trường hợp vật nằm yên

trên mặt chất lỏng, là những trường hợp mà HS dễ nhầm lẫn.

+ Trường hợp vật đã nằm yên ở đáy bình, HS thường chỉ hiểu trong trường

hợp này P > FA mà không chú ý là khi đã nằm yên ở đáy bình thì các lực tác dụng

lên vật phải cân bằng nhau:

P = FA + F'

Trong đó F’ là lực của đáy bình tác dụng lên vật.

+ Trường hợp vật nằm yên trên mặt chất lỏng, HS thường cho rằng trong

trường hợp này FA > P mà không thấy là khi vật đã nằm yên thì các lực tác dụng lên

vật phải cân bằng nhau:

FA = P

Tới đây, HS lại hay mắc sai lầm về giá trị độ lớn của lực đẩy Ac- si- mét FA

trong khi áp dụng công thức F A = d. V, HS thường cho V là thể tích của vật, khơng

thấy V chỉ là thể tích của phần vật bị chìm trong chất lỏng.

Do vậy HS cần lưu ý rằng:

+ Khi vật nằm yên, các lực tác dụng vào vật phải cân bằng nhau.



GV: Nguyễn Xuân Diệu



12



TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN



SKKN: Khai thác sử dụng hiệu quả kênh hình trong dạy học chủ đề “Lực đẩy Ác Si

Mét - Sự nổi - Vật lí 8”

+ Khi vật nổi lên trên mặt chất lỏng thì FA = d. V với V là thể tích của phần

vật chìm trong chất lỏng.

2. Giải pháp 2: Xây dựng kho tư liệu kênh hình chủ đề “Lực đẩy Ác Si Mét Sự nổi” Vật lý 8

2.1. Các yêu cầu khi khai thác, sử dụng kênh hình

Để nâng cao hiệu quả của việc khai thác kênh hình trong quá trình dạy học

vật lý thì bản thân kênh hình phải đảm bảo các u cầu sau:

- Tính khoa học

Các kênh hình được sử dụng trong dạy học vật lý phải đảm bảo tính khoa

học. Một trong những yêu cầu khoa học đầu tiên là kênh hình phải đảm bảo tính

chính xác về đối tượng vật lý, các hiện tượng vật lý cần thể hiện trên các kênh hình

phải có sự tương ứng với thực nghiệm.

Tính khoa học của kênh hình còn được thể hiện ở lượng thơng tin mà nó

truyền tải. Dựa vào nội dung cụ thể cũng như trình độ nhận thức của HS mà ta tiến

hành xây dựng kênh hình theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS.

- Tính trực quan

Đảm bảo tính trực quan là một trong những nguyên tắc quan trọng của kênh

hình. Tính trực quan của kênh hình thế hiện ở khả năng nhận biết nhanh các đối

tượng và hiện tượng vật lý được biểu hiện trên kênh hình của HS.

Hệ thống kênh hình nên sử dụng những màu sắc đẹp, các kí hiệu gần gũi, các

hình ảnh trực quan nhằm kích thích hứng thú học tập của HS.

Tuy nhiên do đặc thù của môn học cho nên hệ thống kênh hình khơng chỉ dễ

nhìn mà phải gọn nhẹ, dễ di chuyển. Ngoài ra để đảm bảo các nguyên tắc trực quan

thì kênh hình được trình bày trong SGK phải có một sự nhất quán với kênh chữ, nội

dung biểu hiện phải tập trung vào nội dung quan trọng tránh lồng ghép quá nhiều

nội dung vào một đơn vị hình làm rối kênh hình.

- Tính sư phạm

Để đảm bảo được tính sư phạm thì kênh hình được xây dựng phải có sự

nghiên cứu kĩ về nội dung và về phương pháp cũng như đặc điểm tâm lý lứa tuối

của HS.

Bản thân HS cũng giống như trang giấy trắng, chính q trình học tập rèn

luyện trong nhà trường phổ thơng đã góp phần hình thành nên nhân cách và phẩm

chất của các em. Do vậy khi lựa chon, thiết kế kênh hình phục vụ dạy học, tính sư

phạm còn thể hiện ở sự thống nhất về kí hiệu, phương pháp thể hiện.

- Tính thẩm mĩ

Kênh hình được sử dụng trong giảng dạy vật lý phải đảm bảo tính thẩm mĩ

cao, các đường nét, màu sắc... phải hài hoà, cân đối. Tính thẩm mĩ vừa có tác dụng

GV: Nguyễn Xuân Diệu



13



TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN



SKKN: Khai thác sử dụng hiệu quả kênh hình trong dạy học chủ đề “Lực đẩy Ác Si

Mét - Sự nổi - Vật lí 8”

thu hút học tập của HS vừa có tác dụng giáo dục óc thẩm mĩ cho HS.

2.2. Khai thác kênh hình trong sách giáo khoa

Tùy vào đặc điểm của đối tượng nhận thức mà GV sử dụng kênh hình trong

SGK để tổ chức hoạt động nhận thức của HS, sao cho mỗi loại kênh hình đó là

phương tiện hữu hiệu nhất để HS lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng và hiệu quả.

Tuy nhiên do khn khổ có hạn của SGK nên ngồi kênh hình trong SGK cần khai

thác thêm kênh hình ngồi SGK.

Sau đây là một số hình ảnh trong SGK lấy từ kho tư liệu mà tôi đã xây dựng



Hình 1. Một số hình ảnh trong SGK



2.3. Khai thác kênh hình ngồi sách giáo khoa

Hiện nay sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, internet sẽ cung

cấp cho chúng ta một thư viện kênh hình với nội dung hết sức phong phú, thơng qua

đó GV có thể lựa chọn và sử dụng để thiết kế các hoạt động nhận thức cho HS. Tuy

nhiên việc lựa chọn kênh hình phù hợp với mục tiêu bài học, phải có tính chọn lọc

kỹ, điển hình và có tính khái quát cao nhằm giải quyết được mục tiêu đặt ra của bài

học, đặc biệt phải mang lại hứng thú cho HS.

Ngồi ra GV còn có thể tạo thí nghiệm mơ phỏng, thí nghiệm ảo nhờ các

phần mềm. Hiện nay có rất nhiều phần mềm hỗ trợ dạy học vật lý: Power point,

Violet, Matlab, Crocodile Physics, Physics draw…

Các thí nghiệm mơ phỏng giúp GV khắc phục tình trạng thiếu thiết bị thí

nghiệm, thí nghiệm khó tiến hành cũng như các thí nghiệm cần cho HS nhìn ở mọi

góc độ. Đề tài đã sưu tập được một số kênh hình ngồi SGK phục vụ dạy học chủ

đề “Lực đẩy Ác Si Mét - Sự nổi” Vật lý 8 như các hình ảnh, video, flash để đưa vào

kho kênh hình.

Sau đây là một số ví dụ kênh hình ngồi SGK trong kho tư liệu:

GV: Nguyễn Xuân Diệu



14



TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×