Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.3 Bản đồ mạng lưới thủy văn lưu vực sông La

Hình 1.3 Bản đồ mạng lưới thủy văn lưu vực sông La

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



Lộc ven Trà Sơn, của các huyện Thạch Hà, Cẩm Xun, Kỳ Anh. Địa hình có dạng

xen lẫn giữa các đồi trung bình và thấp với đất ruộng.

- Vùng đồng bằng: Là vùng chạy dọc giữa đường Hồ Chí Minh và Quốc lộ 1A

theo chân núi Trà Sơn và vùng ven biển bao gồm các xã vùng giữa của huyện Đức Thọ,

Can Lộc, thị xã Hồng Lĩnh, Thạch Hà, thành phố Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh.

- Vùng ven biển nằm ở phía đơng đường quốc lộ 1A chạy dọc theo bờ biển

gồm các xã của huyện Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh. Địa

hình được tạo bởi những đụn cát, các vùng trũng được lấp đầy trầm tích đầm phá hay

phù sa được hình thành do các dãy đụn cát chạy dài ngăn cách bãi biển. Ngồi ra

trong vùng còn xuất hiện các dãy đồi núi sót chạy dọc ven biển do kiến tạo của dãy

Trường Sơn Bắc.

c. Đặc điểm thổ nhưỡng

Theo số liệu kiểm kê đất đai và hiện trạng sử dụng đất năm 2015, tổng diện

tích tự nhiên của tỉnh Hà Tĩnh là 599.717,66 ha, chiếm 1,8% tổng diện tích cả nước,

trong đó đất nông nghiệp 477.000,55 ha, đất phi nông nghiệp 84.051,93 ha, đất chưa

sử dụng 38.665,18 ha. Do đặc điểm cấu trúc địa chất, địa hình và khí hậu, tài ngun

đất tỉnh Hà Tĩnh có 9 nhóm đất với đặc điểm phát sinh và sử dụng khá đa dạng.

Trong đó, nhóm đất đỏ vàng là nhóm phổ biến và chiếm ưu thế nhất với tỷ lệ 51,6%

so với tổng diện tích đất tự nhiên tồn tỉnh.

* Nhóm đất cát

Nhóm đất cát có diện tích chiếm khoảng 6,3% diện tích tồn tỉnh, trong đó chủ

yếu là đất cát biển, còn lại là đất cồn cát. Loại đất này thường được sử dụng để trồng

đậu, lạc, khoai, rừng phòng hộ…

* Nhóm đất mặn

Nhóm đất này chiếm khoảng 0,7 % diện tích tồn tỉnh, phân bố rải rác ven

theo các cửa sông của các huyện Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ

Anh. Đất bị nhiễm mặn do ảnh hưởng của nước biển xâm nhập và tích luỹ trong đất,

do mặn tràn, hoặc ngầm theo mạch ngang trong đất.

* Nhóm đất phèn mặn



14



Ở Hà Tĩnh đất phèn khơng điển hình, chỉ xuất hiện đất phèn ít và trung bình,

nhưng thường đi đơi với đất mặn ít, hình thành nên đất phèn trung bình mặn ít. Đất

phèn mặn chiếm 2,9% diện tích tồn tỉnh, phân bố tập trung ở các dải đất phù sa gần

các cửa sơng ven biển có địa hình tương đối thấp. Hiện tại một số vùng được cải tạo

để trồng lúa, một số vùng chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản.

* Nhóm đất phù sa:

Nhóm đất phù sa có diện tích vào khoảng 17,7%, có đặc điểm chính là bề mặt

khá bằng phẳng, phân bố tập trung ở địa hình vùng đồng bằng ven biển, là sản phẩm

phù sa của các sơng suối chính như sơng La, sơng Lam, sơng Nghèn, sơng Hội, sơng

Rào Cái, sơng Rác. Ngồi ra, có một diện tích nhỏ đất phù sa cổ tập trung ở vùng

thượng nguồn các sông như Hương Sơn, Đức Thọ và các dải phù sa hẹp của các con

sông suối nhỏ ở rãi rác các huyện trong tỉnh, phần lớn có thành phần cơ giới nhẹ, độ

phì thấp, lẫn nhiều sỏi sạn.

* Nhóm đất bạc màu:

Nhóm này vào khoảng 0,7% diện tích đất tồn tỉnh, phân bố rải rác ở địa hình

ven chân đồi, có địa hình lượn sống nhẹ, thốt nước nhanh ở các huyện Kỳ Anh,

Nghi Xuân và thị xã Hồng Lĩnh, thích hợp với cây trồng cạn và các loại cây ăn quả.

* Nhóm đất đỏ vàng:

Nhóm đất đỏ vàng có diện tích lớn nhất (51,6% diện tích tự nhiên của tỉnh),

bao gồm:

+ Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét: phân bố tập trung ở các huyện miền

núi. Đất được hình thành trên đá phiến sét, có màu đỏ vàng điển hình. Nhìn chung

loại đất này có tầng dày thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là các loại cây

dài ngày, là loại đất có tiềm năng của tỉnh.

+ Đất đỏ vàng trên đá mácma axít: phân bố rãi rác ở các huyện Kỳ Anh,

Hương Sơn, Hương Khê. Loại đất này thích hợp với loại cây dài ngày như: cao su,

chè, cây ăn quả và một số cây công nghiệp ngắn ngày khác.

+ Đất vàng nhạt trên đá cát: phân bố tập trung ở vùng đồi núi các huyện Kỳ

Anh, Hương Khê, Cẩm Xuyên. Nhóm đất này thích hợp với các loại cây trồng cạn và

cây dài ngày.



15



+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ: phân bố ở 2 huyện Kỳ Anh và Hương Khê trên

nền địa hình lượn sóng. Loại đất này thích hợp các loại cây trồng cạn như rau, màu,

cây công nghiệp ngắn ngày và các loại cây lâu năm như chè, cao su, cây ăn quả.

+ Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa: phân bố tập trung ở huyện Hương Khê,

trên địa hình chân đồi có dốc dưới 10°, được cải tạo để trồng lúa nước.

* Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi, bao gồm 2 nhóm nhỏ:

+ Đất mùn đỏ vàng trên đá sét: phân bố trên địa hình đồi núi của các huyện

Hương Khê, Hương Sơn, Vũ Quang, Kỳ Anh, thích hợp cho trồng cây lâm nghiệp.

+ Đất đỏ vàng trên granit: phát triển trên đá granit ở độ cao trên 900 m, thích

hợp cho trồng cây lâm nghiệp.

* Nhóm đất dốc tụ:

Nhóm này vào khoảng 2% diện tích tồn tỉnh, phân bố tập trung ở các huyện

Nghi Xuân, Cẩm Xuyên, Hương Khê và Thị xã Hồng Lĩnh, ở địa hình thung lũng xen

giữa các dãy núi, thích hợp trồng 1 vụ lúa và có thể trồng màu.

* Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá:

Chiếm 6,2% diện tích tự nhiên tồn tỉnh, phân bố rải rác ở các huyện Hương

Khê, Hương Sơn, Can Lộc, Kỳ Anh. Trên địa hình đồi núi, đất có tầng mỏng, dưới

10cm. Loại đất này chỉ dành để phát triển lâm nghiệp, trồng cây che phủ đất, cải tạo

môi sinh

d. Thảm phủ thực vật

Theo số liệu kiểm kê năm 2015 thì diện tích đất lâm nghiệp của tồn tỉnh Hà

Tĩnh có 351.147,19 ha; trong đó đất rừng sản xuất có 161.357,6 ha, đất rừng phòng

hộ có 115.191,78 ha và đất rừng đặc dụng có 74.597,81 ha. Độ che phủ rừng vào

khoảng 48%. Rừng của tỉnh Hà Tĩnh có 143 họ, 380 chi, 761 lồi thực vật, có 265

lồi cung cấp gỗ, 37 lồi cây cảnh, 69 loài thực vật làm thuốc và nhiều loại gỗ quý

hiếm như: Pơmu, gụ mật, sến mật, Lim xanh… ngồi ra còn có các loại lâm sản phi

gỗ có giá trị khác. Tổng trữ lượng gỗ khoảng 26.040.000 m3, gồm 2.546.580 m3 gỗ

rừng trồng và 23.494.420 m3 gỗ rừng tự nhiên và 32.443.000 cây nứa. Rừng tự nhiên

chủ yếu rừng trung bình và rừng nghèo, trữ lượng gỗ khơng lớn, rừng giàu chỉ chiếm

10%, rừng trung bình 40%, còn lại 50% là rừng nghèo kiệt được phân bố ở vùng núi



16



cao, xa các trục đường giao thông. Kiểu rừng tự nhiên thường gặp là rừng nhiệt đới,

rừng lá kim á nhiệt đới. Sự phong phú của các loài sinh vật cả về số lượng, thành

phần loài với nhiều nguồn gen quý, hiếm.

Hệ thực vật rừng khá đa dạng, có trên 86 họ và 500 lồi cây gỗ. Trong đó, có

nhiều lồi gỗ q như: Pơmu F.hodginsii, Thơng nàng P.imbricatus, đinh M.stipulata,

Chò chỉ P.stellata, Táu mật V.odorata, Mun D.mun, Xoay D.cochinchinensis, Lim

xanh E.fordii, Gụ S.maritima, Sến mật M.pasquieri, Huỷnh T.javanica, Huê mộc

P.macrocarpus, Lát hoa C.tabularis…. Tập trung chủ yếu ở Vườn Quốc gia Vũ

Quang có khoảng 3000 loại hệ thực vật; KBTTN Kẻ Gỗ có hơn 414 lồi thực vật.

Hệ động vật có vị trí đặc biệt trong khu hệ động vật Bắc Trung Bộ: có Gà lơi

lam đi trắng, Voọc Hà Tĩnh, Hà Tĩnh là nơi đầu tiên phát hiện ra Sao La. Ngồi ra,

ở đây còn có nhiều loài thú quý hiếm như hổ, báo, hươu đen, dê sừng thẳng, trĩ, gà lơi

và các lồi bò sát khác…

Tại Vườn quốc gia Vũ Quang và KBTTN Kẻ Gỗ có 874 lồi thực vật bậc cao,

110 lồi thú q hiếm, 407 lồi chim, 68 lồi bò sát và 62 lồi cá. Trong đó có những

lồi động vật q hiếm như: Chà vá chân nâu, Voọc gáy trắng, Vượn má vàng, Sao

la, Mang lớn,... được ghi vào “Sách đỏ” Việt Nam và thế giới.

Khu vực nghiên cứu có địa hình dốc, sông ngắn tạo nên khả năng bồi lắng

kém, sông ít uốn khúc do đó khơng tạo được các đầm phá, hồ móng ngựa để phát

triển rừng ngập mặn. Tuy nhiên vẫn có những nơi tích tụ tạo nên các hệ sinh thái cửa

sông với hệ thực vật đặc trưng như các loài mắm, sú, đước, vẹt và nguồn lợi động vật

như lồi giáp xác (tơm, cua …), thân mềm như: trai ốc, sò, ngao, vẹm …, nhiều lồi

cá đặc trưng cho vùng Bắc Trung Bộ. Với diện tích rừng ngập mặn khoảng 806 ha,

chủ yếu là rừng phòng hộ phân bố dọc theo các xã ven biển. Biển Hà Tĩnh có khoảng

267 lồi hải sản, trong đó có hơn 60 lồi cá, 20 lồi tơm với trữ lượng 84.000 tấn, khả

năng có thể khai thác 40.000 tấn.

Các giống cây trồng quý hiếm ở địa phương có pơ mu, gụ mật, sến mật, gió

trầm, lim xanh, re hương, dỗi, còng, cam bù, bưởi, hồng. Giống vật ni có sao la,

mang lớn, voi, bò tót, trĩ sao, khiếu mõ dài, gà lơi lam, hổ, báo, hươu… Thuỷ sản có

các đối tượng ni như tơm hùm, ốc hương, cá chình, cá mát, baba, cá mú, cá song…



17



e. Đặc điểm khí hậu

Nằm hồn tồn trong nội chí tuyến, Hà Tĩnh có khí hậu nhiệt đới gió mùa.

Hồn lưu khí quyển ở Hà Tĩnh là một bộ phận của hồn lưu gió mùa ở Việt Nam, vừa

có mối liên hệ chặt chẽ với gió mùa Nam Á nhất là trong mùa hè, vừa chịu tác động

của gió mùa Đơng Á, nhất là trong mùa đơng. Về mùa đơng: mỗi tháng có 2 - 4 đợt

khơng khí lạnh tràn xuống, trung bình nhiệt độ giảm đi 2 - 4°C mỗi đợt, mưa nhiều

vào nửa đầu mùa và mưa phùn vào nửa cuối. Về mùa hè: có khoảng 15 - 22 đợt thời

tiết khơ nóng thịnh hành vào đầu và giữa mùa và dải hội tụ nhiệt đới hoạt động vào

cuối mùa, kéo dài sang cả đầu mùa đông gây ra mưa lớn, mưa dầm.

* Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình ở Hà Tĩnh thường cao hơn so với trung bình

cả nước, được chia thành hai mùa rõ rệt. Nhiệt độ trung bình năm ở vùng đồng bằng

và núi thấp của Hà Tĩnh khoảng 24,6 - 25,3°C và 14 - 15°C trên các đỉnh núi cao như

ngọn Rào Cỏ. Mùa nắng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, khí hậu khơ nóng nhất là từ

tháng 5 đến tháng 8. Nhiệt độ trung bình tháng từ 24,7°C đến 30,1°C. Nhiệt độ cao

nhất lên tới 42,6°C. Mùa mưa kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ

trung bình tháng vào khoảng 17,9°C - 22°C với nhiều ngày ở một số khu vực có nhiệt

độ dưới 7°C (tháng 11, tháng 12). Nhiệt độ tối thấp đo được vào khoảng 2°C.

* Bức xạ: Ở Hà Tĩnh, dù vùng cao hay vùng thấp đều có độ cao mặt trời lớn,

thời gian chiếu sáng đồng đều, lượng bức xạ tổng cộng có thể lên tới 230-240

kcal/cm2/năm, có tháng lên đến 23-25 kcal/cm2/tháng. Do ảnh hưởng của lượng

mây, bức xạ tổng cộng thực tế vào khoảng 140-160 kcal/cm2/năm, cán cân bức xạ

vào khoảng 80-90 kcal/cm2/năm. Hàng năm trung bình có 1.350 - 1.700 giờ nắng.

Thời gian mùa hè kéo dài từ tháng IV đến tháng IX (hoặc tháng X) mỗi tháng có trên

200 giờ nắng. Đây cũng là thời kì chịu ảnh hưởng của gió Tây khơ nóng.

* Lượng mưa: Hà Tĩnh có lượng mưa khá lớn, trung bình trên 2.000 mm/năm,

cá biệt có nơi lên đến 3.500 mm/năm như: vùng thượng nguồn sông Ngàn Phố, Ngàn

Sâu, Rào Trổ, khu vực Hoành Sơn, Kỳ Lạc - Kỳ Anh. Lượng mưa phân bố không

đồng đều trong năm: mùa Đông - Xuân chiếm 25% lượng mưa năm, chủ yếu là mưa

phùn kết hợp với gió mùa Đơng Bắc; mưa lớn tập trung vào mùa Hạ và Thu, chiếm

85% lượng mưa năm, đặc biệt cuối thu mưa rất to. Mùa mưa thường kéo dài từ tháng



18



IV (hoặc tháng V) đến tháng XI (hoặc tháng XII). Mùa mưa thường bắt đầu sớm,

nhưng nhiều nơi bị gián đoạn vào tháng VI (hoặc tháng VII) do hoạt động của gió

Tây khơ nóng.

* Độ ẩm : Nhìn chung độ ẩm khơng khí tương đối cao (trung bình khoảng từ

84  87%). Độ ẩm trung bình cao nhất khoảng 92  96%, vào các tháng 1, 2, 3, độ

ẩm trung bình thấp nhất khoảng 55  70% vào các tháng 6, 7, 8.

* Lượng bốc hơi: Bốc hơi Piche trung bình năm đạt 800 mm. Lượng bốc hơi

lớn thường xảy ra vào tháng 7 với mức trung bình tháng đạt 180 200 mm. Tháng 2

có lượng bốc hơi nhỏ nhất: 27 34 mm.

* Chế độ gió: Theo số liệu khí hậu tại trạm Kỳ Anh, tốc độ gió trung bình năm

là 2,3 m/s. Tốc độ gió mạnh nhất ghi nhận được là 54 m/s. Về mùa hè gió tây nam

chiếm ưu thế với tần suất xấp xỉ 35-40%, sau đó là gió Đơng Nam và gió Nam. Gió

Đơng Bắc cũng xuất hiện vào mùa hè với tần suất nhỏ không đáng kể chỉ khoảng 56%. Về mùa thu, gió có hướng Đơng Bắc và Bắc chiếm ưu thế. Vào thời kỳ chuyển

tiếp từ mùa đông sang mùa hè hướng gió phân tán và hầu như khơng có hướng gió

thịnh hành. Trong khi vẫn tồn tại gió hướng Bắc, Đơng Bắc với tần suất khoảng 40%

thì gió Nam và Đông Nam cũng xuất hiện vào mùa này với tổng tần suất xấp xỉ bằng

2 hướng gió trên.

f.



Tài nguyên nước

Tài nguyên nước mặt: Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng có nguồn nước



mặt lớn. Lượng mưa hàng năm khá cao, cùng với nguồn nước từ trên 30 con sông

lớn, nhỏ trong tỉnh (tổng chiều dài trên 400 km, quanh năm có nước) đã tạo cho

nguồn tài nguyên nước khoảng 11 - 13 tỷ m3/năm. Trung bình cứ một ha đất tự nhiên

có 13.840 m3 nước. Tuy nhiên, nước mặt có trữ lượng lớn nhưng phân bố khơng đều

giữa các tháng trong năm, gây một số khó khăn cho sản xuất. Đặc điểm của khu vực

là thừa nước về mùa mưa và thiếu nước trong những tháng gió Tây - Nam hoạt động

mạnh. Gió mùa Tây Nam hoạt động từ tháng 4 đến tháng 8, mạnh nhất vào tháng 6

và đầu tháng 7, gây thiếu nước nghiêm trọng cho một số vùng của các huyện.

Trên địa bàn toàn nghiên cứu hiện có 339 hồ chứa lớn nhỏ (thống kê năm

2010) có tổng dung tích chứa gần 771 triệu m3 nước, 48 đập dâng lớn nhỏ có lưu



19



lượng cơ bản trên 30,13 m3/s, có một số hồ lớn như: hồ Kẻ Gỗ, hồ sông Rác... nhưng

khả năng giữ nước của sông hồ bị hạn chế. Một số hồ sẽ đưa vào hoạt động như

Xuân Hoa dung tích 15,8 triệu m3, hồ chứa nước thượng nguồn sơng Trí dung tích

24,5 triệu m3, cơng trình thủy lợi đa chức năng Ngàn Trươi - Cẩm Trang dung tích

gần 800 triệu m3 cùng với nguồn nước của trên 20 con sông lớn nhỏ (tổng chiều dài

400 km, lưu vực 5.436 km2) tạo cho nguồn nước khoảng 11÷13 tỷ m3/năm. Có thể

thấy, việc nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt hiện tại còn

hạn chế do bị nhiễm mặn ở hạ lưu vào mùa khô và lũ lụt mùa mưa.

Tài nguyên nước dưới đất: Khu vực có 9 vùng có triển vọng cung cấp nước

dưới đất với tổng trữ lượng tĩnh khoảng 85 triệu m3, bao gồm: Vùng Nghi Xuân diện

tích khoảng 50 km2; Vùng Nam núi Ơng với diện tích khoảng 7 km2; Vùng Thạch

Hà, Cẩm Xuyên với diện tích khoảng 76 km2; Vùng thung lũng Sơng Rác với diện

tích gần 90 km2; Vùng thung lũng Sông Con và Sông Ngàn Phố với diện tích khoảng

80 km2; Vùng thung lũng sơng Ngàn Trươi diện tích khoảng 90 km2; Vùng thung

lũng Rào Nộ diện tích khoảng 65 km2; Vùng thung lũng Ngàn Sâu và Sơng Tiêm

diện tích khoảng 230 km2; Vùng thung lũng Chúc A diện tích khoảng 65 km2. Hà

Tĩnh có mỏ nước khống ở Sơn Kim huyện Hương Sơn có chất lượng tốt, cạnh

đường Quốc lộ 8 và gần cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo, rất thuận lợi để phát triển thành

một khu du lịch nghĩ dưỡng. Nước ngầm ở Hà Tĩnh có mức độ nơng sâu thay đổi phụ

thuộc địa hình và lượng mưa trong mùa. Vùng đồng bằng ven biển có mực nước

ngầm nơng, miền trung du và miền núi nước ngầm thường sâu và dễ bị cạn kiệt vào

mùa khô, ảnh hưởng không nhỏ đến khai thác nước trong vùng.

1.3.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

a. Tình hình phát triển kinh tế

Tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn GRDP năm 2015 đạt 17,5%, trong đó

cơng nghiệp, xây dựng tăng 19,6%, nông lâm thủy sản tăng 7,7%, thương mại-dịch

vụ tăng 19,7%. GRDP bình quân đầu người năm 2015 đạt trên 38,9 triệu đồng. Tái

cơ cấu nền kinh tế đạt kết quả bước đầu, mơ hình kinh tế chuyển đổi theo hướng phát

triển chiều sâu. Kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng

công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Do ảnh hưởng của sự



20



cố mơi trường biển, tình hình sản xuất, kinh doanh nửa sau 6 tháng đầu năm 2016

gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội giảm so với cùng kỳ

năm 2015.

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản: Sản xuất nông nghiệp tiếp tục tăng,

đạt 9,62%; tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt trên 6.580 tỷ đồng. Chăn nuôi

tiếp tục tăng về quy mô, chất lượng. Các dự án chăn ni bò thịt chất lượng cao, bò

sữa từng bước ổn định sản xuất.

Cơng tác quản lý, bảo vệ rừng được quan tâm. Cơ bản hoàn thành Đề án giao

đất, giao rừng, tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp đạt 99,6%.

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới tiếp tục đạt được

kết quả tích cực. Đến nay, ngồi 52 xã đã đạt chuẩn nơng thơn mới, có 02 xã cơ bản

đạt 19 tiêu chí; 14 xã đạt từ 13-18 tiêu chí; 138 xã đạt từ 9-12 tiêu chí; 25 xã đạt dưới

9 tiêu chí.

Tình hình đời sống nhân dân và sản xuất sau sự cố môi trường biển: Sau khi

xảy ra sự cố môi trường biển, tỉnh đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành Trung

ương triển khai các biện pháp sớm ổn định đời sống nhân dân, khôi phục sản xuất,

đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn.

Tiến hành thả nuôi thủy sản với diện tích 6.893ha/7.820ha kế hoạch; trong đó:

ni nước ngọt đạt 5.043ha/5.043ha kế hoạch; nuôi mặn lợ 1.850ha/2.777ha kế

hoạch. Số lượng tàu cá trên địa bàn tỉnh ra khơi đánh bắt, khai thác hải sản tăng dần,

dao động từ 54% - 65%.

Sản xuất công nghiệp, xây dựng: Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì tốc độ

tăng trưởng khá. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 21,76% so với cùng kỳ năm

2015. Giá trị sản xuất ngành xây dựng đạt 3.126,8 tỷ đồng, giảm 42,98%.

Vốn đầu tư: Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 22.593,4 tỷ đồng, giảm

51% so cùng kỳ 2015, bằng 34,1% kế hoạch.

Thương mại, dịch vụ, du lịch: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ

đạt 18.562,7 tỷ đồng, tăng 1,03%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trên địa

bàn đạt 518,6 triệu USD, đạt 14,82% kế hoạch, giảm 65%. Riêng kim ngạch xuất

khẩu của các doanh nghiệp trong tỉnh đạt 59 triệu USD, tăng 6,24%. Lượng khách du



21



lịch đến Hà Tĩnh đạt thấp, gần 710 nghìn người, giảm 20,8%; tổng doanh thu đạt 168

tỷ đồng, giảm 44% so cùng kỳ.

Thu, chi ngân sách: Tổng thu ngân sách đạt 3.645 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách

địa phương đạt 5.528 tỷ đồng; chi ngân sách cơ bản đáp ứng yêu cầu chi thường

xuyên và an sinh xã hội.

Phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư: Thành lập mới 510 doanh nghiệp

với số vốn đăng ký bình quân 8,2 tỷ đồng/doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp

đến nay là 5.419 doanh nghiệp. Chấp thuận chủ trương đầu tư và cấp giấy chứng

nhận đăng ký đầu tư cho 52 dự án. Khởi công xây dựng Dự án Khu tổ hợp biệt thự

nghỉ dưỡng Vinpearl - Cửa Sót tại huyện Lộc Hà.

Cơng tác quy hoạch, xây dựng cơ chế chính sách: Rà sốt, điều chỉnh, bổ sung

và xây dựng mới một số quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch chung, quy hoạch đô

thị. Lập dự án điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) cấp

tỉnh, huyện; Quy hoạch các sản phẩm chủ lực vùng ven biển và đồi rừng đến năm

2020, định hướng đến năm 2030; xây dựng các đề án xã hội hóa huy động nguồn lực

xây dựng thành phố Hà Tĩnh đạt đô thị loại II, thị xã Hồng Lĩnh và thị xã Kỳ Anh đạt

đô thị loại III.

b. Tình hình phát triển xã hội

Dân số tỉnh Hà Tĩnh tính đến năm 2015 có 1.261.300 người, chiếm 1,38% dân

số cả nước (Dân số cả nước tính đến 2015 là 91.713.300 người), trong đó dân số

nơng thơn chiếm 84,79% và thành thị là 15,21%. Tỷ lệ phân chia về giới tính tương

đối đồng đều, tỷ lệ nam giới là 96,5 trên 100 nữ giới. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm

2015 là 0,48% (nông thôn: 0,64% và thành thị: 0,81%). Mật độ dân số trung bình là

210người/km2, nhưng vẫn thấp hơn so với dân số trung bình cả nước (277

người/km2). Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc so với tổng dân số phân

theo địa phương là 57,8%. Đến hết năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo tồn tỉnh còn 5,82%; Tỷ

lệ hộ cận nghèo còn 8,89%. Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách cho

các đối tượng người có cơng, bảo trợ xã hội, đảm bảo an sinh xã hội; giải quyết

hưởng trợ cấp thất nghiệp 2.300 người.



22



Trên địa bàn tỉnh, dân cư phân bố không đồng đều: tập trung cao ở khu vực

đồng bằng phía Đơng Bắc của tỉnh, còn dọc đường Hồ Chí Minh dân cư thưa thớt. Đặc

biệt, tại TP. Hà Tĩnh có mật độ dân số 1584 người/ km2 năm 2015, trong khi huyện

Hương Khê mật độ dân số chỉ có 80 người trên km2, Vũ Quang 49 người trên km2.

Số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế phân theo cấp quản lý năm

2015 có 643.928 người chiếm 52,43% dân số tồn tỉnh, trong đó cấp trung ương là

7.715 người, địa phương là 636.213 người. Lao động phân theo thành phần kinh tế

cấp nhà nước là 52.971 người, ngoài nhà nước 590.672 người và khu vực có vốn đầu

tư nước ngồi 285 người. Lao động trong ngành nông – lâm nghiệp chiếm 56,8%;

công nghiệp – xây dựng 13,8%, còn lại khoảng 29% làm việc trong lĩnh vực khác.

Công tác khám, chữa bệnh tại các bệnh viện được thực hiện tốt. Tỷ lệ dân số

tham gia bảo hiểm y tế đạt 77% (tăng 7% so cùng kỳ). Chủ động phòng, chống dịch

cúm, sốt xuất huyết, viêm màng não mơ cầu, phòng bệnh ZIKA… Thực hiện tốt các

công tác đấu thầu thuốc, quản lý hành nghề y dược tư nhân, giám định y khoa, dân số

kế hoạch hóa gia đình...

Cơng tác giáo dục và đào tạo nghề: Trong năm 2015 đã đào tạo cho 21.750

lượt người và tuyển mới 16.650 người (đạt 101%KH). Đẩy mạnh việc đào tạo nghề

cho lao động nông thôn và đào tạo theo nhu cầu. Tỷ lệ lao động qua đào tạo ước

đạt 51% kế hoạch Chương trình Việc làm - Dạy nghề năm 2015 và những năm tiếp

theo; trong năm giải quyết việc làm cho 32.550 lượt người, đạt 101% kế hoạch năm

và bằng 86,3% so với năm 2014; đã tổ chức nhiều hội nghị tư vấn, giới thiệu việc

làm, định hướng đào tạo nghề; kiểm tra an toàn vệ sinh lao động, thực hiện pháp luật

lao động tại các doanh nghiệp; triển khai rà soát, đánh giá năng lực và hiệu quả hoạt

động của các cơ sở dạy nghề.

Qua tổng quan ở trên có thể nhận thấy nhiều nghiên cứu trong và ngồi nước

thường tập giải quyết bài tốn cân bằng nước hệ thống. Có một số nghiên cứu tính

cân bằng nước tự nhiên nhưng thường chỉ đề cập đến dòng chảy mặt và thường sử

dụng mơ hình thơng số tập trung để tính dòng chảy mặt từ mưa; dòng chảy sát mặt ở

tầng chưa bão hòa và dòng chảy ngầm ở tầng bão hòa ít được xem xét. Vì vậy luận

văn nghiên cứu ứng dụng mơ hình MIKE SHE tính tốn cân bằng nước cho lưu vực

sơng La với các bước nghiên cứu được tóm tắt trong sơ đồ dưới đây.



23



Bốc thốt hơi



Mưa



Tổn thất cất trữ



Trao đổi ẩm tầng rễ



Dòng chảy mặt

(lưới chữ nhật)



Trao đổi ẩm 1 chiều đới

không bão hòa (1 ơ lưới)



Diễn tốn dòng chảy trong

kênh hở



Dòng chảy đới bão hòa

(lưới chữ nhật)



Hình 1.4. Sơ đồ tính tốn cân bằng nƣớc bằng mơ hình MIKE SHE



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.3 Bản đồ mạng lưới thủy văn lưu vực sông La

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×