Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

làm trong lúc nông nhàn. Kỹ thuật, công nghệ, quy trình sản xuất cơ bản đ làm ra

các sản phẩm này được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [3, 16].

Làng nghề theo cách phân loại về thời gian gồm có: làng nghề truyền thống

và làng nghề mới.

Phân loại dựa vào phương thức sản xuất thì làng nghề được chia làm 5 loại

chính như sau:

- Làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm.

- Làng nghề sản xuất nguyên vật liệu xây dựng và gốm sứ.

- Làng nghề tái chế chất thải.

- Làng nghề dệt nhuộm.

- Làng nghề thủ cơng mỹ nghệ.

Ngồi ra có th phân loại làng nghề theo các ki u dạng sau [3]:

Phân loại theo quy mơ sản xuất, trình độ cơng nghệ. Chia thành 3 dạng chính:

làng nghề có quy mơ lớn, làng nghề có quy mơ vừa và làng nghề có quy mơ nhỏ.

Phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm.

Phân loại theo mức độ sử dụng nguyên nhiên liệu.

Phân loại theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát tri n.

1.1.3. Lịch sử phát triển làng nghề

Sự phát tri n của các làng nghề Việt Nam đã trải qua những giai đoạn khác

nhau, gắn với những cung bậc thăng trầm của lịch sử. Đặc biệt, từ giai đoạn đổi mới

nền kinh tế đến nay, dưới tác động to lớn của sự biến đổi nền kinh tế trong nước

cũng như trên toàn thế giới, sự phát tri n của các làng nghề cũng có những thay đổi

lớn, có những thành cơng mới nhưng cũng có khơng ít những vấn đề nan giải.

Xuất hiện từ rất lâu đời (đi n hình như các làng nghề ở Hà Tây (cũ), Hà

Nam, Hưng Yên, Hà Bắc), các làng nghề nông thôn đã có những bước đánh dấu khá

rõ nét trong lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam. Vượt lên các nhu cầu về nông nghiệp,

các sản phẩm như: đồ sành sứ, đồ gốm, vải vóc, đồ ăn, đồ thờ cúng, hàng mỹ nghệ,

giấy vàng mã, giấy dó… đã được chế biến phục vụ cho nhu cầu đời sống hàng ngày,

phục vụ cho đời sống tâm linh, cho việc học tập, cho đời sống văn hóa và cho cả

xuất khẩu.

Giai đoạn 1986 - 1992: đây là giai đoạn quan trọng đối với sự phát tri n của

làng nghề, nó được đánh dấu bằng sự chuy n đổi từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ



4



chế thị trường. Các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách đổi mới quản lý trong

nông nghiệp và phát tri n các thành phần kinh tế đã có tác động mạnh mẽ đến sự

phát tri n kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn nói chung và với làng nghề nói riêng.

Trong giai đoạn này, nhiều làng nghề truyền thống đã được khôi phục và phát tri n,

mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư vốn, kỹ thuật, hình thành nhiều cơ sở kinh doanh

mới, thu hút ngày càng nhiều lao động, tăng dần sản lượng và kim ngạch xuất

khẩu… Đi n hình như làng gốm Bát Tràng, gốm Đồng Nai, chạm khắc Hà Tây,

thêu ren Thái Bình, giấy Phú Lâm… [3].

Các sản phẩm truyền thống của làng nghề Việt Nam đã được tiêu thụ khá ổn

định ở các thị trường Đông Âu và Liên Xô. Tuy vậy, do biến động của nền kinh tế

thế giới, mà xuất phát từ sự sụp đổ của mơ hình CNXH của Liên Xô và Đông Âu,

sản xuất của các làng nghề bị đình trệ do thị trường tiêu thụ không c n như trước

nữa, số lao động trong các làng nghề giảm nhanh chóng.

Giai đoạn từ năm 1993 đến nay: do tìm được hướng đi mới cho các sản phẩm

của làng nghề và cho nền kinh tế Việt Nam nói chung mà nền kinh tế Việt Nam

bước sang một giai đoạn mới. Sự hội nhập nền kinh tế thế giới, cùng với thời kỳ dỡ

bỏ sự cấm vận của Mỹ, sự hợp tác kinh tế và thị trường của Việt Nam không ngừng

được mở rộng. Nhiều làng nghề đã khơi phục nhanh chóng, trong đó nhiều làng vẫn

duy trì được cả nghề nghiệp và mặt hàng truyền thống (như làng chạm bạc Đồng

Xâm, làng nghề thêu Quất Động, làng gốm Bát Tràng, giấy Phú Lâm…). Hơn nữa

nhiều làng nghề mới đã được hình thành (làng gỗ Đồng Kỵ, gạch ngói Hương

Canh…).

Hiện nay, Nhà nước có nhiều chính sách nhằm khuyến khích làng nghề phát

tri n, đặc biệt từ khi Hiệp hội làng nghề Việt Nam được thành lập (2005), đã có

nhiều chương trình, chính sách nhằm bảo tồn, thúc đẩy sự phát tri n làng nghề. Tuy

nhiên, nhiều làng nghề có nguy cơ lâm vào tình trạng suy thối do nhiều nguyên

nhân khác nhau (do bế tắc về thị trường, do bị cạnh tranh, do thiếu vốn đ cải tiến

sản xuất, gây ô nhiễm môi trường…). Đ giải quyết những khó khăn này, cần có cái

nhìn tổng quan về làng nghề và gắn với thực trạng kinh tế xã hội trong nước và thế

giới nói chung.

Sự phát tri n của làng nghề góp phần thúc đẩy q trình cơng nghiệp hố

nơng nghiệp nơng thơn. Sản xuất cơng nghiệp tại làng nghề trực tiếp từ các hộ gia

đình. Tính trung bình, hoạt động sản xuất cơng nghiệp tại các t nh tăng từ 60 đến



5



80%, và tỷ lệ này sẽ ngày càng tăng trong tương lai (Vietnam agricultural science

institute) [3].

1.1.4. Đặc điểm chung của làng nghề Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 2.790 làng nghề, thuộc 11 nhóm ngành nghề

khác nhau, trong đó gồm 1,4 triệu hộ tham gia sản xuất, thu hút hơn 11 triệu lao

động thường xuyên và không thường xuyên, bao gồm việc làm cho cả người già, trẻ

em và người khuyết tật.

Nhiều t nh có số lượng các làng nghề lớn như Hà Tây (cũ) với 280 làng

nghề, Bắc Ninh (62), Hải Dương (65), Hưng Yên (48)… với hàng trăm ngành nghề

khác nhau, phương thức sản xuất đa dạng. Tuy nhiên, sự phân bố và phát tri n các

làng nghề lại không đồng đều trong cả nước. Các làng nghề ở miền Bắc phát tri n

hơn ở miền Trung và miền Nam, chiếm gần 70% số lượng các làng nghề trong cả

nước (1594 làng nghề), trong đó tập trung nhiều nhất và mạnh nhất là ở vùng đồng

bằng sơng Hồng, miền Nam có khoảng 111 làng nghề, c n lại ở miền Trung hơn

300 làng nghề.

Làng nghề ở Việt Nam hiện nay có một số đặc đi m chính như sau:

Làng nghề nước ta phản ánh cuộc sống của cư dân nông nghiệp gắn liền với

cơ chế sản xuất mùa vụ, mang đặc trưng của chế độ làng xã, trong đó bao gồm cả

yếu tố d ng họ. Theo Courrier du Vietnam ở nước ta có hơn 2000 làng nghề, miền

Bắc có 1594 làng nghề (79%), miền Trung có 312 làng nghề (15,5%) và miền Nam

có 111 làng nghề (5,5%). Ở miền Bắc các làng nghề lại tập trung hơn ở một số địa

phương thuộc đồng bằng Bắc bộ như Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang,

Nam Định, Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam... Thực tế này cho thấy, làng nghề

ở nước ta gắn liền với các vùng nông nghiệp và người nông dân làm nghề thủ công

đ giải quyết hợp lý sức lao động dư thừa được cơ cấu theo đặc trưng nông nghiệp

là mùa vụ. Mặt khác, từ sản phẩm, chúng ta cũng nhận thấy gốc tích nơng nghiệp

như ngun vật liệu, công cụ chế tác, giá trị sử dụng và đặc biệt là nó phản ánh

được tính chun dụng và sinh hoạt cộng đồng của cư dân nông nghiệp trên các sản

phẩm đó. Nhìn vào những nghề thủ cơng nổi tiếng của nước ta như nghề gốm, nghề

đan lát, nghề chạm khắc gỗ, nghề g đúc đồng, nghề làm giấy, nghề làm tranh, nghề

kim hồn hay làm nón, dệt vải... chúng ta thấy mỗi nghề gắn liền với một cộng đồng

cư dân được cư trú ổn định trong quy mô làng xã. Nét đặc trưng này phản ánh sự

phong phú đa dạng của làng nghề trong hệ thống cấu trúc làng xã Việt Nam. Ví dụ,



6



khi nói đến làng gốm Bát Tràng người ta không ch biết đến sản phẩm gốm mà c n

nhận biết các thông tin về địa lý, nhân văn, lễ hội truyền thống, lịch sử một làng

nghề bên sông Hồng đầy ấn tượng và cả một chút “huyền bí”. Hoặc khi nói đến làng

dệt lụa Vạn Phúc - Hà Đông, người ta không ch biết về "lụa là Hà Đông" mà c n

biết đến những nương dâu hai bờ sông Đáy, biết đến kỹ thuật ni tằm ươm tơ và

những bí quyết về kỹ thuật dệt lụa của cư dân làng Vạn Phúc. Tóm lại, đặc đi m

này cho chúng ta nhận dạng các giá trị văn hoá đặc biệt là văn hoá phi vật th từ

nguồn gốc và đặc trưng xã hội nông nghiệp sản xuất mùa vụ, cơ cấu quy mô thông

qua chế độ làng xã Việt Nam [3, 13, 17].

Làng nghề truyền thống Việt Nam c n tồn tại đến ngày nay hầu hết là những

nghề lâu đời ở những làng cổ dựa trên hai yếu tố rất cơ bản là vùng nguyên liệu và

điều kiện giao thông, mà đường thuỷ là chính. Làng gốm Bát Tràng có lịch sử hình

thành đã hơn 6 thế kỷ, làng giấy Yên Thái (Bưởi) đã có cách đây 800 năm, làng kim

hồn Định Cơng có cách đây 1400 năm và làng dệt lụa Vạn Phúc thì đã có hơn 1700

năm có lẻ... Theo chúng tơi, điều này phản ánh đúng logic lịch sử vì nó đáp ứng yêu

cầu của sản xuất và nhu cầu của con người. Do ở thời nào con người cũng cần công

cụ lao động, cần ăn, ở, mặc, đi lại và các hoạt động văn hố khác. Khẳng định tính

truyền thống của nghề thủ công Việt Nam và làng nghề đ khẳng định sự tồn tại của

nó qua các hình thái kinh tế xã hội hay các phương thức sản xuất khác nhau, là rất

cần thiết, đ góp phần khẳng định được các giá trị văn hố đích thực và ngơi vị lịch

sử cuả nó trong q trình tồn tại và phát tri n của lịch sử dân tộc. Một khía cạnh

khác của đặc đi m này là làng nghề hoặc các cụm làng nghề ở nước ta được hình

thành hầu hết đều gắn liền với vùng nguyên liệu tại chỗ và thuận lợi với giao thơng

đường thuỷ. Ví dụ như gốm Bát Tràng, Hải Dương, Quảng Ninh... nguyên liệu đất

sét trắng ở vùng đó quyết định đặc trưng sản phẩm, tính ổn định và phát tri n của

làng nghề truyền thống đó. Nguồn nguyên liệu của làng giấy Yên Thái là giấy "dó"

được lấy từ vùng núi và trung du phía Bắc theo sơng Hồng về đến Bưởi. Làng nghề

chạm khắc gỗ ở Bắc Ninh, Nam Định cũng ở cận kề bến sông thuận lợi cho việc

khai thác chuyên chở vật liệu và sản phẩm nặng. Thiếu hai yếu tố ngun liệu và

bến sơng có th nghề thủ cơng khó tồn tại và làng đó khó có th trở thành làng

truyền thống. Như vậy những d ng sông như sông Hồng, sông Lô, sông Cầu, sông

Thương, sông Chu, sông Đuống, sơng Đáy, sơng Thái Bình,... đã tạo ra sự kết nối

giữa các làng nghề ở hai chiều tồn tại là cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ sản

phẩm, mở rộng thị trường cả nước.



7



Làng nghề Việt Nam không ch phản ánh mối quan hệ giữa "nghề" với

"nghiệp" mà c n chứa đựng những giá trị tinh thần đậm nét, được phản ánh qua các

tập tục, tín ngưỡng, lễ hội và nhiều quy định khác. Điều đầu tiên phải nói đến đó là

các "quy lệ" của các làng nghề. Quy lệ là các quy ước, luật lệ đ gìn giữ bí quyết

nghề, đ bảo tồn nghề của d ng họ hay của cộng đồng làng xã. Có th nói tất cả các

nghề thủ cơng đều có bí quyết. Việc giữ "bí quyết nghề" khơng ch đơn thuần là giữ

nghề mà nó c n chi phối cả các quan hệ xã hội khác như quan hệ hôn nhân, không

lấy người địa phương khác, hoặc việc truyền nghề ch đóng khung trong một số đối

tượng cụ th , như ch truyền cho con trai, hoặc ch truyền cho con trưởng hoặc cháu

đích tơn. Ví dụ như làng chạm bạc Đồng Xâm coi quy chế "hôn nhân nội hạt" là bất

biến. Hay việc phân chia thứ bậc cho nhiệm vụ truyền nghề với hậu thế - ch có ơng

trùm (trưởng phường nghề) mới có quyền quyết định việc truyền nghề - và ch

những nghệ nhân (thợ cả) mới có đủ tư cách đ truyền nghề (dưới thợ cả c n 6 bậc

thợ nữa). Người học nghề được gọi là thợ con và phải ứng xử theo đạo "thầy tr ",

rất khuôn phép... Những quy lệ này được hình thành từ những ước lệ đến quy ước

miệng rồi thành văn như hương ước và lệ làng. Điều này đã tạo ra một trật tự trong

làng nghề và những nét văn hoá đặc thù trong các làng nghề Việt Nam. Điều thứ hai

cần đề cập đến trong đặc đi m sinh hoạt văn hoá tinh thần của làng nghề là: hầu như

làng nghề nào cũng có tục thờ cúng tổ nghề và gắn liền với lễ hội cùng với các hoạt

động văn hoá dân gian khác. Ví dụ: thợ kim hồn ở làng chạm bạc Đồng Xâm (Thái

Bình) thờ tổ nghề Nguyễn Kim Lâu, hàng năm vào ngày 5/1 âm lịch là ngày giỗ tổ

nghề - đúng ngày đó thợ Đồng Xâm dù làm ăn sinh sống ở đâu cũng phải về quê

làm lễ tổ bằng chính sản phẩm độc đáo nhất mà mình làm ra. Tại lễ tổ này có trao

đổi kinh nghiệm, đánh giá kết quả và đặc biệt là xem xét việc giữ gìn những "quy

lệ" của làng nghề, hội nghề. Thưởng cho những ai có cơng và phạt những người vi

phạm với các hình thức từ khi n trách trước phường hội đến đánh 30 roi trước sân

đình. Những người bỏ bê giỗ tổ nghề thì bị coi là kẻ "phản tổ"... Ở làng Châu Khê

(Hải Dương) một làng kim hoàn nổi tiếng cũng có lệ đối với việc cúng tế tổ nghề

Lưu Xuân Tiến, với một năm có hai dịp tế lễ là Xuân tế từ ngày mùng 1 đến ngày

12 tháng 2 (âm lịch) và Thu tế từ ngày mùng 1 đến ngày 12 tháng tám 8 (âm lịch).

Việc giỗ tổ được tổ chức đồng thời với lễ Thành hồng làng Châu Khê tại đình làng

và đền thờ tổ nghề ở phố Hàng Bạc (Hà Nội), Đối với giỗ tổ nghề của làng nghề

Châu Khê thì yếu tố trung thực rất được đề cao. Những người làm đồ giả, làm ăn

gian dối, bị trừng trị từ phạt đến khai trừ khỏi phường nghề hoặc đuổi ra khỏi làng.



8



Gắn với nghi thức thờ tổ nghề là phần hội mang màu sắc văn hóa dân gian. Như

vậy, ở làng nghề ngồi yếu tố sản xuất c n mang rất đậm yếu tố văn hố và phần

nào c n có những yếu tố tâm linh phù hợp. Bởi làng nghề ngoài phạm vi đơn vị sản

xuất và khái niệm đơn vị hành chính c n có đặc trưng riêng biệt là tính cộng đồng

cư trú và cộng đồng lợi ích cao.

1.2. Tìn



ìn p át triển làng ng ề sản xuất vàng mã ở Việt Nam



1.2.1. Nhu cầu của người dân đối với sản phẩm vàng mã

Trong văn bản pháp luật có hai khái niệm đồ mã và vàng mã, đó là hai khái

niệm có nội dung khác nhau. Vàng mã là những đồng tiền, giấy vàng đỏ..., đốt vàng

mã là tín ngưỡng truyền thống có từ lâu đời. Nhưng trong cơ chế thị trường, người

ta sinh ra quan niệm trần sao âm vậy, từ đó mới bắt đầu sản xuất các loại hàng mã

như: nhà tầng, biệt thự, xe máy, ôtô, thậm chí cả... osin giúp việc.

Theo GS Ngơ Đức Thịnh, y viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, Giám

đốc Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn Văn hóa Tín ngưỡng Việt Nam cho rằng, hiện

nay đang tồn tại 2 quan niệm, đồ mã và đồ vàng mã. Đồ mã là khái niệm ch chung

những đồ làm bằng giấy và có th đốt đi được. Nó liên quan đến quan niệm, muốn

người âm nhận được thì đồ lễ phải được đốt (hóa) sau khi dâng cúng, vì thế, đồ mã

khơng th làm bằng gỗ hay vật liệu khác. Đồ mã chính là những thứ vật dụng như

nhà, xe, voi, ngựa, đồ đạc, hình nhân... bằng giấy. C n vàng mã là những thỏi vàng,

bạc hay tiền địa phủ (sau này người ta in giống như tiền thật).

Tục đốt vàng mã ở Việt Nam chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Trung Hoa. Đốt

vàng mã được du nhập, dần trở thành tập tục, thói quen và đạt tới đ nh cao tín ngưỡng

dân gian của người Việt. Nhiều nhà nghiên cứu đều đưa ra ý kiến rằng “Quan niệm của

người dân Việt thì việc bài trí, làm đẹp bàn thờ được đồng nhất với sự tôn sùng các vị

thần linh. Trong kết cấu kiến trúc đền thờ và ngôi nhà cổ truyền của dân tộc Việt, mái

nhà thấp, cửa nhà chủ yếu ở phía trước nên l ng nhà tối… Vì thế những màu sắc sặc sỡ

gắn với nơi ngự của các vị thần linh và tổ tiên không ch đ bi u hiện tính hướng tâm

mà thực chất như c n làm ấm cho căn nhà, ít nhất là về mặt tinh thần. Đồ mã dễ làm và

đáp ứng được yêu cầu đó nên người Việt rất sùng chng”. Do vậy, trong các ngày lễ,

tết, các ngày mồng 1, ngày rằm hàng tháng, ngày giỗ tổ tiên, ông bà, ngày bốc mộ xây

lăng, hay chuy n đến nhà mới…mọi người đều sắm ít đinh tiền, vàng đ làm lễ rồi đốt

theo ý nghĩa tượng trưng. Việc làm đó được xem như là bi u hiện sự thành kính, gửi

gắm niềm tin, chăm lo của người đang sống đối với những người đã khuất, mong sao



9



những người ở thế giới bên kia có một cuộc sống đầy đủ và ln phù hộ cho những

người đang sống có cuộc sống an bình.

Những năm gần đây cùng với quá trình chuy n đổi nền kinh tế thì trong tín

ngưỡng văn hố cũng đã nảy sinh ra nhiều yếu tố vượt qua giới hạn của văn hoá

tinh thần đã làm ảnh hưởng tới đời sống của mọi tầng lớp nhân dân. Với lập luận

“trần sao âm vậy” người sống sợ người chết thiếu thốn mà đua nhau sắm nhiều các

loại đồ mã đ gửi sang thế giới bên kia và quan niệm càng mua nhiều loại đồ mã,

đốt đồ mã càng đắt tiền thì càng đạt nhiều tài, nhiều lộc. Chính đó đã đẩy nhanh

hiện tượng “thánh một cân, trần một yến” khiến cho đồ mã “lên ngôi” trong sự tiêu

cực của xã hội.

Đốt vàng mã không ch c n nằm trong phạm vi nghi lễ tại gia đình, tế lễ ở

chùa, đền mà đã vựợt ra khỏi khn khổ đó. Hàng mã được sử dụng ngày càng

nhiều, hàng mã được bán nhiều nơi và trở thành một mặt hàng có tính thương mại.

Nó khơng ch là vài đinh tiền vàng, mà đã có nhiều loại hình như: nhà lầu, xe hơi, ti

vi, xe máy, vi tính và những đồ dùng cao cấp mang tính thời thượng... Có một điều

mà bất cứ ai cũng rõ việc mua hàng mã đều phụ thuộc hoàn toàn vào người bán và

người chủ trì làm lễ (thầy cúng), họ bảo mua thứ hàng nào thì chủ nhân ch việc

mua, người mua khơng mặc cả, nếu mặc cả thì thiếu l ng thành và sẽ bị người thuộc

thế giới bên kia oán trách. Việc đốt hàng mã c n tạo nên nhiều điều ảo tưởng, sự

mơ hồ về những niềm tin khơng giới hạn…

Hiện nay, trong đời sống tín ngưỡng văn hố của người dân tục đốt vàng mã

đang có xu hướng phát tri n và ngày càng chiếm ưu thế, cũng khơng ít người cho

rằng đồ mã đã đến thời thịnh vượng, tục đốt vàng mã đang trở thành một nhu cầu

không th thiếu trong đời sống tâm linh. Chính vì vậy nhu cầu sử dụng vàng mã trên

cả nước ngày càng tăng, nhu cầu đốt vàng mã ngày càng nhiều đặc biệt là vào các

ngày lễ tết, ngày giỗ…

Không biết từ bao giờ, vàng mã đã trở thành một phần không th thiếu trong

đời sống cúng kỵ của mọi gia đình mà khơng ít các phật tử khi tới chùa vẫn có thói

quen rải và đốt vàng mã thật nhiều đ gặp may mắn, cầu an. Chính vì vậy việc hóa

vàng mã càng trở nên linh thiêng và cần thiết. Trước đây, người ta ch đốt vàng mã

vào ngày rằm, ngày giỗ. Bây giờ, người ta đốt hầu như quanh năm, đặc biệt là hai

đợt tháng 7 âm lịch - mùa Vu Lan và dịp Tết Nguyên đán. Nhiều người không ch

đốt vàng mã ở nhà, mà c n đốt cả ở những nơi vốn là di tích như chùa, đền, miếu,



10



phủ...

Ngay tại thắng cảnh chùa Hương, người ta đã xây hai l đốt vàng mã cực

lớn, đặt tại chùa Thiên Trù, động Hương Tích. Mặc dù hoạt động liên tục, đốt suốt

ngày đêm hai l này vẫn không đáp ứng kịp nhu cầu của người hành hương khi mùa

hội đến [1, 14] .

1.2.2. Tình hình phát triển nghề làm vàng mã trên cả nước

Hơn 10 năm nay, tục lệ đốt vàng mã đã và đang phát tri n mạnh, phạm vi

ngày càng lan rộng. Nhiều người c n coi đó là một nghi thức khơng th thiếu trong

mỗi dịp Tết đến xuân về. Ở nước ta hiện nay, tục lệ đốt vàng mã đã và đang phát

tri n mạnh, không c n ở trong phạm vi cúng giỗ ở gia đình và chùa đền mà c n lan

sang các cơ quan công quyền quốc doanh, trở thành một nghi thức không th thiếu

của các công ty xây dựng cầu đường và các cơng trình thủy điện, trong các buổi lễ

động thổ, khởi cơng các cơng trình do nhà nước giao phó. Do vậy, nhu cầu sử dụng

vàng mã của người dân ngày càng cao, kèm theo đó các loại mặt hàng cũng ngày

càng đa dạng chủng loại, mua bán tấp nập là khơng khí chung tại các cửa hàng

nhang đèn, vàng mã được bầy bán ở các cửa hàng, dọc các tuyến đường. Hàng mã,

đồ cúng liên tục được đóng trong những kiện lớn đ chuy n về các cửa hàng tại các

quận, huyện của thành phố và các t nh. Các mặt hàng có đến cả trăm loại khác nhau.

Ch riêng tiền, vàng đã có vài chục loại: tiền đồng, đô la, euro, vàng thỏi, vàng

miếng, vàng khoen, vàng trang sức… Sống động, ấn tượng và “cập nhật thời sự”

nhất là các loại xe, nhà, quần áo và vật dụng cá nhân. Thị trường có loại xe gì, hàng

mã đều có đủ, từ SH, Dylan, Vespa, Air Blade, đến xe hơi Innova, Mercedes…; nhà

thì từ nhà trệt đến nhà phố, biệt thự có sân vườn, hồ bơi, nhà đ xe hơi… góp phần

làm cho ngành sản xuất hàng mã ngày càng phát tri n cả về quy mơ và cơng xuất.

Theo Cục Văn hóa - Thơng tin cơ sở Hà Nội, những nơi sản xuất vàng mã

lớn như làng Cót, Nhân H a (Từ Liêm - Hà Nội) và làng Hồ (Thuận Thành - Bắc

Ninh) mỗi ngày tiêu thụ từ 2 – 3 tấn giấy. Trong một năm, cả nước có khoảng

50.000 tấn vàng mã được sử dụng, riêng Hà Nội, tiêu thụ trên 400 t đồng cho việc

đốt tiền, vàng mã [17].

* Thành phố Hà Nội

Tại thành phố Hà Nội, trung tâm thủ đô của cả nước nhưng vấn đề tâm linh,

linh thiêng vẫn được coi trọng và gìn giữ từ bao đời nay, có nguyên cả phố Hàng

Mã chuyên bày bán các mặt hàng dành cho người cõi âm. Hoặc, ghé thăm hai làng



11



làm vàng mã nổi tiếng Phúc Am, Duyên Trường (xã Duyên Thái, huyện Thường

Tín, TP Hà Nội), chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh những bộ khung hình voi, hình

ngựa... được xếp dàn hàng trên đường lớn từ đầu làng tới cuối làng, trong các ngõ

nhỏ, trong sân nhà, trong xưởng đ chờ được gia cơng, hồn thiện. Theo lời một

người dân nơi đây, trước kia, người dân Phúc Am chủ yếu làm sơn mài, cuốn thuốc

lá, đan rổ rá, ch có vài cụ già làm vàng mã như nghề tay trái và chủ yếu là cuốn các

thỏi vàng thoi. Song, khoảng 20 năm trở lại đây, do nhu cầu của người dân chuy n

sang dùng rổ nhựa khiến nghề đan rổ không c n đất phát tri n, kết hợp với tình

trạng đơ thị hóa diễn ra mạnh mẽ, người dân mất ruộng nên đổ dồn sang làm vàng

mã. Vài nhà làm thấy có lợi nên mọi người truyền tai nhau, dần dần, nghề vàng mã

lan rộng ra cả làng, và thực sự phát tri n mạnh mẽ khoảng 6, 7 năm trở lại đây.

Hiện cả làng có 250 hộ dân với hơn 1.000 nhân khẩu, trong đó ch có khoảng

20 chủ cơ sở. C n lại, đa phần người dân trong làng mỗi người nhận thực hiện một

công đoạn khác nhau như người nhận làm khung, người dán hoa văn. Đồng thời,

hàng c n được chuy n đi nhiều t nh như Bắc Ninh, Nam Định, Quảng Ninh…

Quả thực, nghề làm vàng mã đã giúp người dân nơi đây có nguồn thu ổn

định, khắp làng, san sát những ngơi nhà xây khá khang trang, có cả những ngơi nhà

cao tầng, to đẹp mà chủ nhân của nó đã có thâm niên hơn chục năm theo nghề vàng

mã.

* Tỉnh Quảng Ninh

Trên địa bàn t nh Quảng Ninh có Cơng ty TNHH MTV sản xuất gia công

vàng mã xuất khẩu. Nghề gia công vàng mã không đ i hỏi lao động có tay nghề

cao. Do đó, từ khi đi vào hoạt động, xưởng gia công đã tạo việc làm cho trên 80 lao

động trên địa bàn huyện. Trung bình một tháng, xưởng gia công vàng mã của Công

ty xuất đi từ 180 đến 200 tấn vàng mã sang thị trường Đài Loan. Về lâu dài, doanh

nghiệp này đang hướng phát tri n và chuy n dần sang gia công vàng mã xuất khẩu,

nhằm hướng đến sản xuất thân thiện với môi trường, đồng thời tạo việc làm cho

hàng trăm lao động nông thôn tại địa phương [16].

* Thành phố Huế

Hiện nay có 226 cơ sở sản xuất và kinh doanh vàng mã, thu hút khoảng 356

lao động, doanh thu hằng năm ước tính khoảng 50 - 60 t đồng. Trong khi đó, khảo

sát của Phân viện nghiên cứu văn hóa Việt Nam (tại Huế) ở 4 cơ sở chuyên sản xuất

mặt hàng giấy cúng phục vụ cho việc làm vàng mã, trung bình mỗi tháng một cơ sở



12



sản xuất 2,5 tấn giấy, nhưng nhiều thời đi m không đủ hàng cung cấp. Theo đánh

giá của viện này, việc sản xuất và kinh doanh vàng mã đã dần được mặc nhiên

ngầm thừa nhận là một ngành nghề thủ công tại Huế, đưa đến lợi nhuận không hề

nhỏ. Trên thị trường vàng mã xứ Huế, trung bình một bộ vàng mã (áo quần, tiền

vàng, giày dép, nón mũ, sớ…) có giá 40 ngàn đồng. Một ngày trung bình người thợ

làm được khoảng 5 bộ, nguồn nguyên liệu được nhập về từ các đại lý với giá cả vừa

phải, cộng thêm việc cúng đơm ở Huế diễn ra thường xuyên (ngày rằm, ngày 30

hàng tháng) và quanh năm nên đây được xem là nghề đem lại thu nhập ổn định,

thậm chí làm giàu cho người thợ.

Hiện nay, trên khắp các ngả đường Lương Văn Can, Chi Lăng, Nhật Lệ,

Nguyễn Sinh Cung, Đặng Văn Ngữ… của thành phố Huế hàng ngày vẫn có rất

nhiều các cửa hàng bán vàng mã với đa dạng các hình dáng, chủng loại. Ngồi

những đồ vàng mã “truyền thống” c n có rất nhiều loại như ơ tơ, xe máy, nhà lầu...

Mặc dù những loại này chưa nhiều nhưng đây cũng là một bi u hiện cho sự “thực

dụng hóa” trong nét đẹp văn hóa dân gian và đang có dấu hiệu phát tri n [16].

* Thành phố Hồ Chí Minh

Tại thành phố Hồ Chí Minh nghề làm vàng mã cũng phát tri n mạnh mẽ

không kém so với các t nh ngoài miền Bắc. Các mặt hàng sản phẩm đa dạng chủng

loại, mua bán tấp nập vàng mã trên các tuyến đường Chu Văn An, Phan Văn

Khỏe… khu vực chợ s Bình Tây (Q.6, TP.HCM). Vàng mã, đồ cúng liên tục được

đóng trong những kiện lớn đ chuy n về các cửa hàng tại các quận, huyện của thành

phố và các t nh. Các mặt hàng có đến cả trăm loại khác nhau. Ch riêng tiền, vàng

đã có vài chục loại, thị trường có loại xe gì, hàng mã đều có đủ, k cả những vật

dụng như ti vi, tủ lạnh, máy giặt, máy lạnh, bàn ghế, giường tủ, bếp núc, người hầu,

tài xế. Thời trang, thiết bị điện tử cho người cõi âm cũng đa dạng ki u dáng: quần

áo, giày dép, nước hoa, trang sức, son phấn, thẻ thanh tốn các loại, điện thoại, máy

tính đời mới [16].

1.2.3. Tình hình phát triển nghề làm vàng mã tại Bắc Ninh

Bắc Ninh là một trong những t nh có nhiều làng nghề nhất ở nước ta. Hiện

nay tồn t nh có 62 làng nghề, trong đó có 30 làng nghề truyền thống và 32 làng

nghề mới với những sản phẩm nổi tiếng như sắt thép (Đa Hội, Châu Khê, Từ Sơn),

giấy (Phong Khê, Phú Lâm), nấu rượu (Đại Lâm, Tam Đa), đồ gỗ mỹ nghệ (Đồng

Kỵ)...



13



Hàng năm, các làng nghề đã đóng góp ngân sách nhà nước, tạo việc làm tại

chỗ cho gần 35 nghìn lao động và thu hút hàng nghìn lao động nơng thơn các vùng

phụ cận. Cơ chế thị trường đã khôi phục các làng nghề cũ, xây dựng các làng nghề

mới, hình thành các cụm công nghiệp theo ngành hàng xuất phát từ nhu cầu cuộc

sống; là mục tiêu, động lực thúc đẩy quá trình chuy n dịch cơ cấu kinh tế, lao động

trong nông nghiệp, phù hợp với chủ trương của Đảng và Chính phủ về cơng cuộc

CNH - HĐH nơng nghiệp và nông thôn.

Làng nghề ở Bắc Ninh tập trung dọc theo đường giao thơng chính và theo

các cụm dân cư tập trung, có th được phân loại theo dạng sản phẩm như sau [3]:

Bảng 1.1. Phân loại làng nghề theo sản phẩm ở Bắc Ninh

STT

1

2



Ngàn sản xuất

Ươm tơ, dệt vải, đồ da

Chế biến nông sản, thực phẩm,

dược liệu



Số lƣợng (làng)



Tỉ lệ (%)



5



8,5



15



25,4



3



Tái chế phế liệu



9



15,3



4



Thủ công mỹ nghệ, thêu ren



9



15,3



5



Vật liệu xây dựng, khai thác đá



2



3,3



6



Các nghề khác



19



32,2



59



100



Tổng cộng



(Nguồn: Đặng Kim Chi, Làng nghề Việt Nam và Môi trường)

Làng nghề Bắc Ninh đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế địa

phương những năm qua. Tính từ năm 1997 đến nay giá trị sản xuất của khu vực

làng nghề ti u thủ công nghiệp chiếm 75 - 80% giá trị sản xuất cơng nghiệp ngồi

quốc doanh và trên 30% giá trị sản xuất công nghiệp của t nh, cải thiện đời sống

nhân dân, nhiều hộ giàu có nhờ phát tri n nghề truyền thống.

Trong nhiều ngành nghề truyền thống của t nh Bắc Ninh thì nghề làm tranh

Đơng Hồ ngày nay đã bị mai một và được thay thế bằng nghề làm vàng mã tại xã

Song Hồ đang phát tri n mạnh mẽ và hàng năm sản xuất với một khối lượng lớn với

nhiều sản phẩm vàng mã đa dạng về chủng loại, mẫu mã khác nhau. Nghề vàng mã

ở xã Song Hồ tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho các hộ gia đình ở nơng



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×