Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tổng số hộ đã điều tra ở Thuận An là 35. phân bố trên các xã: Vĩnh phú, thị

trấn Lái Thiêu, An thạnh, An sơn, Bình Hòa, Hưng Định, Bình Nhâm, Thuận Giao,

An Phú, Bình Chuẩn.



Biểu đồ 4. 2: Biểu đồ phân bố số hộ trồng mai ở Thuận An

Qua biểu đồ 1 ta thấy được ở địa bàn huyện Thuận An chủ yếu là trồng Mai

ghép hoặc kết hợp Mai ghép và Mai nguyên liệu chứ ít khi trồng toàn Mai nguyên

liệu. Những lý do để người dân đầu tư trồng nhiều mai là vì điều kiện đất đai ở đây

phù hợp cho việc trồng Mai. Các nhu cầu về nước tưới, phân bón, kỹ thuật đều rất

thuận lợi đối với huyện Thuận An.

 Mai ghép tạo cho người trồng Mai lợi ích kinh tế cao hơn Mai nguyên liệu.

Hơn nữa đây là khu vực nổi tiếng vè cung cấp Mai kiểng (làng Mai Vĩnh

Phú) do đó thu hút nhiều nguồn đầu tư và tiêu thụ vào nghề trồng Mai ghép.

 Sự hoạt động tích cực của hội sinh vật cảnh huyện và các hội sinh vật cảnh

chi nhánh cũng là nhân tố góp phần cho sự phát triển mạnh mé nghề trồng

Mai ở đây. Cụ thể là hướng dẫn kỹ thuật ghép Mai, tổ chức các buổi họp hội

để giúp đỡ nhau có thêm kiến thức về chăm sóc Mai cũng như đối phó với

các sâu bệnh hại.



25



Một điểm đặc biệt nữa là một nửa số hộ sản xuất Mai ở Thuận An là ở xã

Vĩnh Phú. Ở đây ngoài các yếu tố thuận lợi chung của huyện còn có các thuận lợi

khác cho nghề trồng Mai như:

 Có nhiều nghệ nhân nổi tiếng trong nghề trồng Mai: Huỳnh Văn Tấn,

Nguyễn Văn Tấn…

 Là xã gần thành phố Hồ Chí Minh nhất nên dễ kiếm được nguồn tiêu thụ.

Đây là ưu điểm vì có điều kiện giao thơng thuận lợi, tiết kiệm chi phí cho

người tiêu thụ cũng như người cung cấp.

 Các hộ trồng Mai đều là dân bản địa, rất ít người từ nơi khác tới lập nghiệp.

Các hộ trồng chung Mai nguyên liệu và Mai ghép là chủ yếu để tự cung cấp

cho chính mình (gốc ghép và cành ghép).

4.1.2. Thời gian bắt đầu trồng Mai:

Thời điểm khởi nghiệp trồng và kinh doanh Mai của các nhà vườn ở Thuận

An cũng có nhiều điểu đáng lưu tâm.

40



37.1



35

Tỉ lệ % số hộ



30



25.7



25

20

15

10



17.2



14.3

5.7



5

0

Trước 1985 1985 - 1990 1990 - 1995 1995 - 2000



Sau 2000



Thời điểm



Biểu đồ 4. 3: Thời gian lập nghiệp của các nhà vườn Thuận An

Theo biểu đồ 4.3 ta nhận thấy số hộ trồng Mai lâu hơn 20 năm rất ít, phần

lớn là khoảng 8 – 10 năm. Điều này cũng có lí do của nó: trên thực tế thì trước năm

1990 cũng có nhiều hộ trồng Mai nhưng sau đó vào khoảng năm 1990 có xuất hiện

dịch teo lá dẫn đến Mai chết hàng loạt và nhiều nhà vườn không đủ kiên nhẫn cũng



26



như kỹ thuật xử lí đã bỏ vườn chuyển sang làm nghề khác. Chỉ có vài hộ còn trụ lại

được như chú 5 Tấn, chú 5 mèo…

Khoảng thời gian 1995- 2000 là lúc điều kiện giao thông, nguồn nước, cũng

như các chính sách hỗ trợ cùng tạo điều kiện thuận lợi. Chính vì thế số hộ tham gia

nghề trồng Mai tăng lên.

4.1.4. Quy mô đầu tư & hiệu quả sản xuất

Tổng diện tích của 35 hộ điều tra ở huyện Thuận An là: 57200m2, trung bình

mỗi hộ 1635 m2.



Biểu đồ 4. 4: Biểu đồ Quy mô đầu tư của các hộ trồng Mai ở Thuận An

Có một điều dễ nhận thấy là số hộ có vườn nhỏ hơn 1500 m2 thì ít đầu tư vào

vườn ươm. Điều này cũng dễ hiểu vì họ khơng đủ diện tích đất cho phép. Còn ở các

hộ có diện tích đất lớn hơn, việc xây dựng vườm ươm là điều tất yếu, vừa khỏi mua

giống ở ngoài, vừa tăng thu nhập.

Thêm một đặc điểm nữa là phần lớn các hộ trồng Mai ở đây đều sản xuất quy

mơ nhỏ và trung bình( 1500 – 2000). Điều này cũng có thể hiểu được là do các hộ ở

đây khơng đủ diện tích đất và hầu như khi được điều tra họ đều trả lời là cần vốn để

mở rộng sản xuất Mai.



27



Thực tế khi đi khảo sát thì các hộ dân khi được hỏi đều có những khó khăn

chung như sau:

o Sâu bệnh

o Thời tiết

o Vốn, chính sách

o Kỹ thuật trồng

o Thị trường tiêu thụ



Qua điều tra, khảo sát ta thấy rõ những nhận xét sau:

 Thị trường tiêu thụ là yếu tố khả quan nhất đối với người dân huyện Thuận

An. Khơng có hộ dân nào trong số 35 hộ điều tra tỏ ra phàn nàn về vấn đề

này. Cũng có thể hiểu được điều này là do vị trí địa lý huyện Thuận An khá

thuận lợi cho việc buôn bán, giao thông thuận lợi( gần thành phố Hồ Chí

Minh), có sự nổi tiếng sẵn về trồng Mai nên dễ thu hút khách hàng. Tập

trung nhiều hộ trồng mai để người mua hàng có nhiều lựa chọn hơn.

 Sâu bệnh là một vấn đề nổi cộm ở tất cả các hộ trồng Mai. Có tới 89% số hộ

ở đay cho rằng sâu bệnh là khó khăn chủ yếu của họ. Hàng năm ngồi những

chứng bệnh cũ như nấm hồng, nấm bạc, sâu ăn lá non…còn hay xảy ra các

chứng bệnh mới gây thiệt hại về kinh tế cho người dân trong việc tốn thêm

vốn đầu tư vào phân , thuốc.

 Về vốn & chính sách, hầu như có khá ít hộ gặp khó khăn này.có 8/35 hộ cho

rằng họ thiếu vốn để đầu tư mở rộng vườn cũng như trang bị thêm dụng cụ,

phân thuốc.

 Về kỹ thuật, phải nói là các hội sinh vật cảnh nơi đây hoạt động khá tốt, cũng

như khả năng học hỏi kinh nghiệm của bà con cao nên ít khi gặp khó khăn về

kỹ thuật trồng Mai.

Về thời tiết, hơn 50% các hộ trồng Mai nơi đây có trở ngại về thời tiết.

Trong những năm gần đây thì điều kiện khí hậu, thời tiết thay đổi phức tạp. Điều

này gây ảnh hưởng tới việc trồng Mai cũng như việc điều khiển Mai ra hoa đúng tết.



28



Có nhiều hộ đã khắc phục tình trạng này bằng cách trang bị một đê bao và

một số máy bơm trong vườn để dễ dàng bơm thốt nước.



Hình 4. 1: Nghệ nhân Huỳnh Văn Tấn

4.1.5. Phân tích SWOT: Thuận lợi – Khó khăn – Cơ hội – Thách thức

4.1.5.1. Thuận lợi

Thuận An có vị trí địa lý thuận lợi, gần đường giao thơng, dễ dàng trong vấn

đề tiêu thụ. Huyện có đường Đại lộ Bình Dương đi xuyên qua, giáp với thành phố

Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước. Hơn nữa thành phố Hồ Chí Minh là thị trường

tiêu thụ chính của cả khu vực Đông Nam Bộ.

Tài nguyên nước ngầm phong phú, điều kiện tự nhiên khá tốt. Tập trung đầu

tư với quy mô lớn,tạo thành làng Mai nổi tiếng nên tạo thuận lợi cho cả kỹ thuật lẫn

tiêu thụ.



29



4.1.5.2. Khó khăn:

Vốn là một vấn đề khó khăn chung của cả tỉnh Bình Dương. Vốn tự túc để

lập vườn thì ít mà các chính sách hỗ trợ vay vốn ngân hàng còn khá phức tạp nên

làm cản trở khơng ít cho nghề trồng Mai.

Các nhà máy lớn mọc lên làm cho nguồn nước ngầm bị cạn dần cũng là một

yếu tố gây trở ngại cho người dân. Ví dụ như nhà máy sản xuất nước giải khát

NumberOne khoan rất nhiều giếng ngầm quy mô lớn nên các giếng khoan của các

hộ dân trồng Mai coi như không xài được nữa, phải dùng nước thủy cục.

Vấn nạn sâu bệnh vẫn là một điều lo ngại lớn đối với bà con trồng Mai ở

Thuận An.



4.1.5.3. Cơ hội:

Cũng giống như Thủ Đức so với thành phố Hồ Chí Minh, làng mai ở Thuận

An cũng sẽ là trọng điểm phát triển cây Mai mạnh mẽ khi Thị Xã Thủ Dầu Một

được công nhận là thành phố.

Ngày càng có nhiều người tham gia vào lãnh vực tròng và kinh doanh Mai

nên khả năng khơng phải chỉ có làng Mai Vĩnh Phú nổi tiếng mà cả huyện Thuận

An sẽ là khu chuyên trồng Mai của cả miền Đông nam bộ.

4.1.5.4. Thách thức:

Thuận An nằm cạnh Thị Xã Thủ Dầu Một nên sức ép của q trình đơ thị

hóa cũng gây ảnh hưởng đến xu hướng phát triển của ngành nông nghiệp huyện.

Dịch bệnh teo lá ở cây Mai đang làm cho số hộ trồng Mai giảm đi một phần.

Nếu khơng đủ khả năng xử lí sẽ làm trở ngại cho việc phát triển nghề trồng Mai nói

riêng và ngành hoa kiểng nói chung của Thuận An.



4.1.6. Những mong muốn của người dân và đề xuất hướng phát triển:

Các mong muốn:



30



 các hội sinh vật cảnh, các nhà bảo vệ thực vật nhanh chóng tìm ra ngun

nhân và cách chữa trị căn bênh teo lá ở cây Mai, điều này là mong muốn

chung của rất nhiều hộ trồng và kinh doanh Mai ở Thuận An.

 các ngân hàng cũng như tỉnh ủy hỗ trợ thêm về vốn cũng như kỹ thuật để

phát triển thêm quy mô trồng Mai.

Đề xuất hướng phát triển:

o Nhìn chung điều kiện của huyện Thuận An khá thuận lợi, có tiềm

năng phát triển cây Mai. Để phát triển một cách bền vững lâu dài thì

các hội và chi hội sinh vật cảnh nên tăng cường hỗ trợ kỹ thuật cũng

như xử lí kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình trồng Mai.

o Khuyến khích và hỗ trợ kỹ thuật cho các hộ trồng lập vườn ươm cây

con, vì nếu tự chủ được nguồn giống cây sẽ tiết kiệm được khá nhiều

tiền để đầu tư vào việc mở rộng kinh doanh.

Tiếp tục kết hợp trồng Mai chung với các loại cây trồng khác như bonsai,

cây cơng trình, hoa nền ngắn ngày… Vì cây Mai là loại cây bán theo mùa vụ ( vụ

tết) nên cần phải có nghề tay trái hoặc cây xen canh vào để tăng thu nhập.



31



Hình 4. 2: Nghệ nhân Nguyễn Văn Tấn và các cây Mai hàng chục năm tuổi



Hình 4. 3: Nghệ nhân Nguyễn Văn Tấn và các huân huy chương về cây kiểng



32



4.2. Thị Xã Thủ Dầu Một:

4.2.1. Hiện trạng sản xuất:

Thị xã Thủ Dầu Một - trung tâm tỉnh lỵ của Bình Dương đã và đang chuyển

biến sâu rộng trong các mặt kinh tế xã hội góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng

nhanh của tỉnh nhà.

Tổng số hộ điều tra được là: 27 hộ, phân bố trên các xã, phường: Phú Hòa,

Phú Thọ, Phú Cường, Hiệp Thành, Chánh Mỹ, Định Hòa, Tân An, Chánh Nghĩa.



Biểu đồ 4. 5: Biểu đồ phân bố các loại hình sản xuất Mai ở Thị Xã Thủ Dầu Một

Qua biểu đồ 5 ta thấy rằng tình hình phân bố các loại hình sản xuất Mai cũng

có điểm giống với Thuận An. Đó là số hộ trồng tồn Mai ngun liệu cũng khá

ít,hầu như là trồng Mai ghép hoặc kết hợp cả hai loại trên. Cái khác ở đây là các hộ

dân ở đây tự trồng thêm Mai nguyên liệu để ghép, phổ biến ở các phường: Phú Hòa,

Phú Thọ, Chánh Mỹ, Chánh Nghĩa.

Ở đây tuy là trung tâm của tỉnh Bình Dương nhưng điều kiện phát triển nghề

trồng Mai lại không tốt bằng Thuận An.Thị trường tiêu thụ chính ở đây cũng là



33



thành phố Hồ Chí Minh nhưng tỉ lệ thấp hơn Thuận An. 45% hộ dân ở đây trồng

theo kiểu kết hợp vừa Mai ghép, vừa Mai nguyên liệu.



Hình 4. 4: Vườn Mai nguyên liệu kết hợp mai ghép

Quá trình đơ thị hóa ở Thị Xã Thủ Dầu Một rất mạnh, là thị xã có khả năng

đạt chuẩn thành phố trực thuộc trung ương. Do vậy công nghiệp và dịch vụ là ưu

tiên hàng đầu, nông nghiệp chỉ phát triển theo cầm chừng. Tuy nhiên các nghệ nhân

trồng Mai cũng như các hộ dân đã gắn bó lâu dài với Mai thì vẫn muốn và nỗ lực cố

gắng để Mai trở thành cây cảnh chủ lực của tỉnh. Đó chính là sự đam mê của người

trồng Mai nơi đây.hơn nữa theo đánh giá năm 2003 thì tổng thu nhập bình qn tuy

có ít hơn năm 2002 nhưng vẫn ở mức cao (Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp ước

thực hiện 74,86 tỷ đồng, đạt 97,22% so với năm 2002).

Chạy dọc theo các phường là tuyến đường quốc lộ 13 kèm theo các nhánh

ĐT749A, ĐT742, ĐT743, ĐT744 tạo thành một mạng lưới giao thông rải đều khắp

Thị Xã Thủ Dầu Một. Điều này khơng chỉ có lợi cho các ngành cơng nghiệp mà

cũng đóng góp khơng nhỏ cho nơng nghiệp của tỉnh. Các hộ trồng Mai ở đây qua

khảo sát đều cảm thấy hài lòng về vấn đề giao thơng của địa phương bất kể ở xã

nào.



34



4.2.2. Thời điểm lập nghiệp

Các hộ dân trồng Mai ở Thị Xã Thủ Dầu Một cũng lập nghiệp khá lâu năm.

Phần lớn là trước năm 1995.



Biểu đồ 4. 6: Biểu đồ thời điểm lập nghiệp của các hộ trồng Mai tx Thủ Dầu Một

Theo biểu đồ 4.6 ta thấy phần lớn các hộ trồng và kinh doanh Mai lập nghiệp

vào khoảng thời gian 1990 – 1995. Đây là giai đoạn Thị Xã Thủ Dầu Một cũng như

tỉnh Bình Dương đang được chú trọng quan tâm phát triển về cơ sở hạ tầng giao

thông, điện, nước. sau đó thì số hộ tham gia trồng và kinh doanh Mai có giảm vì

cơn sốt giá đất ở Bình Dương lên cao, nhiều hộ đã bán đất để hưởng lợi, tìm kế sinh

nhai khác. Một phần thì bị hút vào sự phát triển mạnh mẽ của nền công nghiệp đang

được đầu tư cao. Do đó số lượng người tham gia trồng và kinh doanh Mai có giảm

cũng là điều bình thường.



35



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×