Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương III. Chuẩn đóa và chiến lược.

Chương III. Chuẩn đóa và chiến lược.

Tải bản đầy đủ - 0trang

LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



3.1.2 Sự biến mất của các nghề truyền thống, nét đẹp văn hóa tín ngưỡng trong

q trình đơ thị hóa và phát triển du lịch.

Nhiều di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số chưa được

nghiên cứu, đánh giá một cách bài bản khoa học. Nghệ thuật diễn xướng Then

của các dân tộc Tày, Nùng, Thái; Kho sách cổ của dân tộc Dao…, hàng nghìn

làng, bản, bn… truyền thống với các giá trị văn hóa tiêu biểu của các dân tộc

(kiến trúc, trang phục dân tộc, nghề truyền thống và các món ăn truyền thống,

các làn điệu dân ca, dân vũ, lễ hội…) đang đứng trước nguy cơ biến mất theo xu

hướng kiên cố hoá, hiện đại hoá hoặc do tác động mặt trái của cơ chế thị trường

rất cần phải nhanh chóng được hướng dẫn, hỗ trợ để bảo tồn, phát huy trong

cuộc sống đương đại. Hệ thống các thiết chế và cơ sở vật chất cho hoạt động văn

hố nhìn chung vẫn ở tình trạng xuống cấp, chắp vá, thiếu đồng bộ và hiệu quả

sử dụng còn thấp. Việc đưa văn hố, văn nghệ đến phục vụ đồng bào các dân tộc

tuy đã có cố gắng nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Nhiều địa phương vùng

cao, vùng sâu, vùng xa còn thiếu các sản phẩm văn hoá, nhất là các sản phẩm

văn hoá có nội dung và hình thức phù hợp với trình độ và thị hiếu của đồng bào.

Những bất cập trên xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản và then chốt: Nhận

thức của các cấp, các ngành về vị trí, vai trò của việc bảo tồn, phát triển văn hóa

ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhiều lúc, nhiều nơi còn chưa đúng, chưa thật

đầy đủ, chưa thống nhất cao; Việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền

thống các dân tộc thiểu số đã được thể chế hố, nhưng từ văn bản đến hiện thực

vẫn còn nhiều khoảng cách mà nguyên nhân là thiếu sự tương thích giữa bảo vệ,

giữ gìn với phát huy phát triển. Điều này có nguyên nhân sâu xa từ chỗ chưa có

sự đồng thuận của những chủ thể văn hóa; Đội ngũ cán bộ làm cơng tác văn hóa

ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số còn rất thiếu, trình độ khơng đồng đều, nhiều

nơi còn rất yếu, khơng đáp ứng được u cầu cơng tác trong tình hình mới;

3.2 Chiến lược

3.2.1 Bảo tồn nguyên trạng Kiến trúc và kết cấu làng truyền thống.

Tổ chức không gian theo nguyên tác bảo tồn kiến trúc cảnh quan môi trường và

những giá trị văn hóa dân tộc truyền thống. Thiết kế quy hoạch phù hợp với

chiến lược bảo tồn và phát triển kinh tế tại địa phương đồng thời kết nối được

với các điểm du lịch trên địa bàn thành mạng một mạng lưới tổng thể hồn

chỉnh. Hiện tại các hộ gia đình hầu hết vẫn giữ được nguyên vẹn kiến trúc

CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



43

CHPN13P



LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



truyền thống của người Tày đặc trưng, thống nhất nhà có kết cấu hai tầng, tồn

bộ kết cấu móng, tường bao che được xây dựng bằng đá hộc dày 40cm. Mái lợp

ngói đất nung ( ngói âm dương ) lợp trên hệ thống rui, mè bằng tre, hoành đỡ

chủ yếu bằng gỗ lim hoặc gỗ nghiến, hình thức mái khá đơn giản là mái thẳng,

xây tường đá bít đốc và khơng có chái. Khơng gian tầng 1 thường là kho chứa

nơng sản, tầng 2 là không gian sinh hoạt của gia đình gồm gian trung tâm của

ngơi nhà được bố trí bàn thờ tổ tiên, sung quanh là các không gian nhỏ như

phong ngủ bố mẹ, phòng ngủ con cái, khu bếp… một số gia đình còn lưu giữ

được cảnh quan về khuôn viên như hàng rào xếp đá hộc, kè đá, nơng sản được

phơi phóng trên sàn tre trước hiên nhà cao khoảng 2m so với mặt đất. Hiện tại

hệ thống hạ tầng như cấp điện câp nước còn chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng

của người dân trong làng. Mạng lưới điện đấu nối nhằng nhịt làm mất mỹ quan

rễ gây cháy nổ, nước chủ yếu dùng hệ thống nước tự chảy và nước suối gây mất

vệ sinh, nhất là vào mùa khô các khe nước cạn kiệt không đủ nước sinh hoạt.

Mặc dù nằm trong thung lũng với mật độ che phủ rừng lớn nhưng mật độ cây

xanh tạo bóng mát, cảnh quan của làng lại thiếu nghiêm trọng, các không gian

công cộng trong làng, nhà ở, nhà văn hóa, hàng rào, kè, đường làng đều bị đá

hóa gây cho cảm giác nóng bức và thiếu cây xanh

3.2.2 Phục dựng lại những nghề truyền thống, nét đẹp đời sống văn hóa tín

ngưỡng.

Bảo tồn các khơng gian làng nghề

Văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam là một bộ phận cấu thành quan trọng

của nền văn hoá Việt Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc. Cùng với xu thế

hội nhập và phát triển, những luồng văn hoá khác nhau xâm nhập vào đời sống

xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, gây ảnh hưởng, tác động mạnh đến văn hoá

truyền thống các dân tộc thiểu số, đáng chú ý là nguy cơ phai mờ, biến dạng bản

sắc dân tộc. Do vậy, việc bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số là

nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược cần phải tiếp tục thực hiện thường

xuyên và lâu dài. Việc huy động các nguồn vốn khác đầu tư cho văn hoá rất hạn

chế do chính sách khuyến khích chưa cụ thể và thiết thực; Vai trò của chủ thể,

của người dân, của cộng đồng chưa được phát huy và đặt đúng vị trí trong việc

lập kế hoạch, xây dựng dự án cũng như triển khai, tổ chức quản lý, giám sát các

CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



44

CHPN13P



LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



dự án từ cơ sở đối với các dự án nói chung và các chương trình, dự án về văn

hố, ảnh hưởng tới chất lượng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của các

dân tộc thiểu số Việt Nam; Đội ngũ cán bộ quản lý và làm cơng tác văn hố

vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu, yếu, nhất là đội ngũ cán bộ trẻ, có

năng lực là người dân tộc thiểu số. Người có uy tín và các nghệ nhân người dân

tộc thiểu số ngày càng ít dần.

Quảng bá văn hóa lễ hội và các làn điệu Then

Nhiều di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số chưa được nghiên

cứu, đánh giá một cách bài bản khoa học. Nghệ thuật diễn xướng Then của các

dân tộc Tày, Nùng…, Kho sách cổ của dân tộc Dao…, hàng nghìn làng, bản…

truyền thống với các giá trị văn hóa tiêu biểu của các dân tộc (kiến trúc, trang

phục dân tộc, nghề truyền thống và các món ăn truyền thống, các làn điệu dân

ca, dân vũ, lễ hội…) đang đứng trước nguy cơ biến mất theo xu hướng kiên cố

hoá, hiện đại hoá hoặc do tác động mặt trái của cơ chế thị trường rất cần phải

nhanh chóng được hướng dẫn, hỗ trợ để bảo tồn, phát huy trong cuộc sống

đương đại. Đề cao tính đặc thù, bản sắc văn hoá dân tộc, coi trọng việc giữ gìn

và phát huy giá trị di sản văn hoá, đấu tranh chống khuynh hướng đồng hoá về

văn hoá.

Trong bối cảnh tồn cầu hố, văn hố là một lĩnh vực dễ bị tổn thương, trong

đó bản sắc văn hố, văn hoá truyền thống dễ bị tổn thương hơn cả, đặc biệt là

văn hoá các dân tộc thiểu số. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo vệ bản sắc

văn hố dân tộc với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại sẽ làm

phong phú cho văn hoá đất nước, thúc đẩy văn hoá phát triển.

Từ quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, trước những đòi hỏi của thực tế,

yêu cầu của xu hướng phát triển, trên cơ sở kế thừa, tích luỹ những bài học về

bảo tồn, phát triển văn hoá dân tộc thiểu số giai đoạn trước, ngày 27 tháng 7

năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 1270/ QĐ-TTg phê duyệt

Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm

2020”. Đề án có đối tượng là các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập trung ưu tiên

cho phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số rất ít người, các dân tộc khơng có

điều kiện tự bảo vệ và phát huy di sản văn hố của dân tộc mình. Với địa bàn:

Miền núi, dân tộc thiểu số. Ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó

khăn, biên giới, hải đảo; những vùng phải di dời để phát triển kinh tế; vùng có

nguy cơ cao bị mai một bản sắc văn hóa; vùng dân tộc trọng điểm

đặc biệt là hỗ trợ sự phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc thiểu số; Ưu

tiên đầu tư cho việc giữ gìn và phát huy các loại hình nghệ thuật biểu diễn

truyền thống các dân tộc thiểu số, sưu tầm, phục hồi và phát triển một số loại

CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



45

CHPN13P



LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



hình nghệ thuật truyền thống có nguy cơ thất truyền; Đẩy mạnh các hoạt động

bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số kết hợp với các chương

trình phát triển kinh tế, phát triển nghề thủ công truyền thống, du lịch cộng đồng

kết hợp với xố đói, giảm nghèo; Hỗ trợ truyền dạy và phát huy các giá trị văn

hoá, nghệ thuật truyền thống dân tộc của cộng đồng, nghệ nhân.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đào tạo bồi dưỡng nâng cao nhận thức, năng

lực, trình độ chun mơn cho cán bộ làm cơng tác văn hố dân tộc; có chính

sách, cơ chế phát huy những người có uy tín, nghệ nhân, thế hệ trẻ của các dân

tộc thiểu số trong việc bảo tồn, phát huy văn hoá truyền thống;

3.2.3 Nâng cao giá trị Kiến trúc của làng đá Khuổi Ky, gắn kết với nét đẹp đời

sống văn hóa tín ngưỡng của dân tộc Tày. Biến ngơi làng đá Khuổi Ky thành

một bảo tàng sống nhằm quảng bá những giá trị lịch sử truyền thống của dân tộc

thiểu số và gắn kết với chuỗi các điểm thăm quan du lịch, tâm linh, nghỉ dưỡng

của khu vực thác Bản Giốc. Tạo điều kiện phát triển kinh tế địa phương và phát

triển du lịch bền vững.

Với một chiến lược Quy hoạch tổng thể nhằm kết nối lang Khuổi Ky với các

điểm Du lịch trong xã thành một hệ thống hoàn chỉnh cần đầu tư tôn tạo lại điểm

Du lịch làng Khuổi Ky xây dựng đập dâng nước nhằm ổn định nguồn nước, tạo

không gian cảnh quan cho làng, xây dựng những khơng gian cơng cộng nhằm

tạo ra những sân chơi có thể tái hiện những nghi lễ truyền thống, các không gian

hát Then trong và ngồi nhà, các khơng gian làm nghề thủ công như đan lát, thổ

cẩm… tu bổ lại những ngôi nhà đã xuống cấp hoặc cải tạo không nguyên trạng

nhằm tạo nên một tổng thể hoàn chỉnh. Hoàn thiện lại mạng lưới cấp điện cấp

nước, hệ thống cây xanh cảnh quan bờ suối. Bên cạnh đó quy hoạch lại các điểm

bán đồ lưu niêm, bãi đỗ xe tại các khu đảm bảo mỹ quan, hiệu quả.

Khi dự án Bảo tồn làng Khuổi Ky hồn thiện sẽ góp phần là một mắt xích

trong chuỗi điểm thăm quan du lịch, chải nghiệm nhằm giới thiệu cho du khách

thăm quan hiểu về đời sống thường nhật, lễ hội, các điệu hát then, các nghề

truyền thống như đan lát, dệt thổ cẩm được tái hiện một cách chân thực như một

bảo tàng sống. Qua đó cũng giúp những hộ dân trong làng phát triển kinh tế tăng

CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



46

CHPN13P



LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



thêm thu nhập dần ổn định đời sống, xóa đói giảm nghèo bền vững mà khơng

đánh mất đi những giá trị văn hóa, bản sắc truyền thống của địa phương. Bên

cạnh đó cũng góp phần ổn định nguồn nhân lực tại địa phương và được quản lý

một cách hiệu quả, giúp cho đời sống giữa các vùng miền, dân tộc xóa dần

khoản cách về giàu nghèo giữa đồng bằng và miền núi.

Phải chú trọng đưa ra các chính sách nhằm bảo tồn những làng nghề truyền

thống như đan lát, dệt thổ cẩm, bảo tồn đày đủ được những nét đẹp truyền thống

về đời sống văn hóa tín ngưỡng cũng như các tác phẩm đậm chất sử thi được

truyền từ đơi này qua đời khác bằng văn hóa truyền miệng. Nhằm phục dựng lại

một cách chân thật đời sống của dân tộc Tày cổ tại làng đá Khuổi Ky để đưa vào

phục vụ du khách đến thăm quan và tìm hiểu về nét đẹp truyền thống và hiểu

được quá trình phát triển của làng, các dân tộc nói chung, của dân tộc Tày tại nơi

đây nói riêng.

Tổng kết

Dựa trên những giá trị lịch sử văn hóa truyền thống, phục dựng và làm sống

lại làng đá Khuổi Ky như một bảo tàng sống vốn có của nó, bên cạnh đó biến

làng Khuổi Ky thành một điểm Du lịch đặc biệt nhằm quảng bá những net đẹp

về đời sống văn hóa tĩn ngưỡng của một bộ phần dân tộc Tày tại vùng núi phía

bắc, gắn kết mật thiết với chuỗi điểm Du lịch như thác Bản Giốc, động Ngườm

Ngao, chùa trúc lâm Bản Giốc, Khu nghỉ dưỡng Sài gòn – Bản Giốc… làm

phong phú thêm giá trị và một trải nghiệm mới đầy thú vị đối với du khách đến

thăm quan.



CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



47

CHPN13P



LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



CHƢƠNG IV:

Bài học kinh nghiệm và đề xuất

4.1 Bài học kinh nghiệm:

4.1.1. Bài học kinh nghiệm trên thế giới

- Làng Alberobello – Ý: Nổi tiếng với những ngôi nhà được xây dựng từ đá vôi,

Làng Alberobello là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất nước Ý.



Làng Alberobello – Ý



Làng Alberobello – Ý



Ảnh: Awuethrich



Ảnh: NIKOZAR (Nicola Zaratta)



Nhắc đến nước Ý, nhiều người nghĩ ngay đến vẻ đẹp cổ kính của cơng trình kiến

trúc La Mã, hay màu xanh ngắt của biển Địa Trung Hải. Thế nhưng, nước Ý còn

nổi tiếng với thị trấn Alberobello, nơi được mệnh danh là làng “Hobbit nấm

lùn”. Không nhộn nhịp sầm uất như Roma, Milan hay Florence, Alberobello

mang hơi thở thanh bình của vùng thôn dã với những ấn tượng đặc biệt bởi các

cơng trình kiến trúc kì lạ. Khi đặt chân đến Alberobello, hình ảnh đầu tiên sẽ

làm bạn phải trầm trồ chính là những ngơi nhà được xây mà khơng cần vữa:

những tảng đá được chồng lên nhau. Mái nhà hình vòm, hình nón hoặc kim tự

tháp và đơi khi được sơn các biểu tượng pháp thuật hay ngoại giáo, như thể ngôi

nhà của các phù thủy trong câu chuyện xa xưa. Dạo bước trong thị trấn nhỏ bé,

xinh đẹp với hai bên đường là những ngôi nhà trông giống như nhà của chú lùn,



CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



48

CHPN13P



LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



Làng Alberobello – Ý



Làng Alberobello – Ý



Ảnh: Ricardo



Ảnh: Masahiro Noguchi



bạn sẽ ngỡ rằng mình đang lạc bước trong xứ sở của những câu chuyện cổ tích

kì ảo nào đó. Các căn nhà nhỏ truyền thống có kiến trúc hình chóp độc đáo

thường được cư dân trong vùng gọi là. Chỉ là thị trấn với 11.000 dân nhưng

Alberobello có nhiều hơn 3 bảo tàng ngồi cơng trình chính Territorio – nơi

trưng bày mọi thứ liên quan đến cuộc sống ở thị trấn. Bảo tàng dầu ô-liu, bảo

tàng rượu, bảo tàng đồ thủ công mĩ nghệ đều ẩn mình trong các ngơi nhà cổ,

Đâu đâu trong thị trấn cũng treo những giỏ hoa nhiều màu sắc dễ thương, Cuộc

sống bình yên nơi này như tách bạch khỏi cái xơ bồ của cuộc sống, khơng ồn ào,

khói bụi, khiến du khách không khỏi bị quyến rũ

- Làng cổ Yvoire – Pháp với 700 năm tuổi xinh đẹp với những con đường làng

nhỏ nhắn rực rỡ sắc hoa.

Làng cổ Yvoire nằm ở Rhône-Alpes (Pháp), trải dọc ven hồ Geneva được

thành lập từ thế kỷ 14. Trải qua hơn 700 năm tuổi nhưng Yvoire vẫn giữ được

nét đặc sắc và quyến rũ vốn có. Vào mùa hè ở Yvoire được trang trí rất nhiều

hoa, điều này khiến các con phố nhỏ hẹp hơn nhưng lại mang đến cảm giác thú

vị và rất dễ chịu. Yvoire nhỏ bé nhưng lại có rất nhiều điểm du lịch. Bạn có thể

đi bộ dọc ven hồ Geneva hòa mình vào thiên nhiên đẹp như tranh vẽ, hay khám

phá kiến trúc của những ngôi nhà cổ làm bằng đá. Có rất nhiều cửa hàng quà

tặng và phòng trưng bày nghệ thuật bán những tác nghệ thuật nguyên bản. Đặc

biệt ở đây có rất



CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



49

CHPN13P



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương III. Chuẩn đóa và chiến lược.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×