Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương I. Điều kiện tự nhiên, nét đẹp truyền thống trong đời sống, văn hóa, tính ngưỡng, kiến trúc và kết cấu làng truyền thống của người Tày cổ.

Chương I. Điều kiện tự nhiên, nét đẹp truyền thống trong đời sống, văn hóa, tính ngưỡng, kiến trúc và kết cấu làng truyền thống của người Tày cổ.

Tải bản đầy đủ - 0trang

LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



1.1.2 Hệ thống hồ, sông suối

Với lợi thế được thiên nhiên ưu đãi ban tặng non nước sơn thủy hữu tình

làng đá Khuổi Ky nằm gần sơng Qy Sơn bắt nguồn từ Trung Quốc sau khi

chảy len lỏi qua những cánh rừng và thung lũng lòng sơng bị chặn bởi tầng đá

cao khoảng trên 60m, rơng 230m đó là thác Bản Giốc được xếp vào loại đẹp bậc

nhất của đông nam Á. Thác được chia làm 3 tầng với những ngọn thác lớn nhỏ,

bên cạnh đó là những thảm thực vật phủ đầy cây cối chia dòng nước ra thành ba

luồng như những dải lụa trắng mềm mại tung bọt trắng, dưới chân thác là những

thảm cỏ xanh mướt.



Sông Quây Sơn



Thác Bản Giốc



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



Nguồn ảnh: Internet



1.1.3 Khí hậu

Khí hậu Cao Bằng mang tính chất nhiệt đới, gió mùa lục địa núi cao và có

đặc trưng riêng so với các tỉnh miền núi khác thuộc vùng Đông Bắc. Trong năm

được chia thành hai mùa rõ rệt: mùa nóng (mưa nhiều) từ tháng 4 đến tháng 10

và mùa lạnh (mưa ít) từ tháng 11 đến tháng 3. Mùa hè có nhiệt độ trung bình

250C - 280C và nóng nhất vào tháng 7. Mùa đơng có nhiệt độ trung bình 140C 180C và lạnh nhất vào tháng Giêng. Vào mùa đơng trên vùng núi đá vơi ở phía

Bắc và Đơng Bắc của tỉnh thường có sương muối, nhiệt độ trung bình khoảng

50C có ngày xuống đến 00C. Ngồi ra còn có các tiểu vùng khí hậu á nhiệt đới.

Lượng mưa trung bình hàng năm của tỉnh từ 1.300-1.500 mm/năm. Số ngày

CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



10

CHPN13P



LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



mưa trung bình khoảng 92 ngày, số giờ nắng không nhiều, chỉ khoảng 1.5001.600 giờ/năm, độ ẩm trung bình khoảng 80%.

1.2 Đời sống, Văn hóa, Tín ngưỡng

1.2.1 Nơng, ngư nghiệp

Ngồi một vụ lúa mùa, nơng dân xã Đàm Thủy đã trồng thêm vụ đông xuân,

đưa tổng diện tích gieo trồng lúa, ngơ, đậu tương, lạc... lên gần 500ha/vụ, tỷ lệ

hộ nghèo là 9,8%. Trên địa bàn xã Đàm Thủy có mỏ ManGan Lũng Phiắc,

quặng măng gan lộ thiên ngay trong những hốc đá nên thuận lợi trong việc khai

thác.



Trồng Lúa



Trồng Ngô



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



Trồng Lúa



Trồng đậu



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



11

CHPN13P



LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



Cọn nước



Kênh mương thủy lợi



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



Đập nước nông nghiệp



Đánh bắt cá trên sông Quây Sơn



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



Với hệ thống sông suối dày đặc và phong phú do vậy việc đánh bắt cá trên

sông suối diễn ra thường xuyên, thiếu kiểm soát làm ảnh hưởng lớn nguồn tài

nguyên và ánh hưởng lớn tới môi trường nước gây mất cân bằng sinh thái.

1.2.2 Lâm Nghiệp

Được thiên nhiên ưu đãi với thổ nhưỡng khí hậu phù hợp với loại cây hạt Dẻ

đã nổi tiếng khắp mọi nơi “ Hạt Dẻ Trùng Khánh Cao Bằng “ có mầu nâu sẫm

căng tròn thường được thu hoạch vào tháng 10 tháng 11 đến tháng 2 hàng năm.

Hạt Dẻ thường được rang, luộc, nướng với mùi thơm, vị ngọt bùi kèm theo sự

béo ngây rất đặc trưng khiến cho ai đã một lần thưởng thức sẽ nhớ mãi.

CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



12

CHPN13P



LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



Cây hạt Dẻ



Cây hạt Dẻ



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



1.3 Lễ hội

Lễ hội truyền thống ở Cao Bằng là một trong những loại hình di sản độc đáo

và mang đậm bản sắc văn hố dân tộc. Ở đó thể hiện rất rõ đời sống văn hoá tâm

linh, những quan niệm nhân sinh và các sinh hoạt văn hoá dân gian khác. Chính

vì thế lễ hội là một trong những loại hình văn hố đặc biệt, có sức thu hút lớn

đối với khách du lịch trong và ngoài nước Lễ hội truyền thống ở Cao Bằng diễn

ra hàng năm, chủ yếu là vào mùa xuân, mùa của sinh sôi nảy nở. Khi ấy là lúc

khí hậu, cảnh sắc thiên nhiên đẹp nhất. Con người thong thả, an nhàn qua một

năm vất vả, bắt đầu chuẩn bị cho những mùa vụ tiếp theo. Đây cũng là lúc thuận

tiện nhất cho các hoạt động, sinh hoạt văn hoá cộng đồng.

1.3.1 Lễ hội thờ Thần Đá

Một điều nữa có thể nhận thấy sự khác biệt của làng Khuổi Kỵ so với những

nơi khác giữa các huyện miền núi là những ngôi nhà sàn, cây cầu bắc qua suối,

hàng rào, đường đi lại hoàn toàn được làm bằng đá. Trong tâm niệm của người

dân nơi đây, đá được coi như một vị thần tượng trưng cho sự lâu bền, vững chắc

có thể phục vụ cho các mục đích lâu dài trong đời sống sinh hoạt nên đã lập đền

để thờ tạo nên tục thờ Thần đá với người Tày nơi đây họ coi đá là khởi nguồn

của sự sống và là trung tâm của vũ trụ. Họ quan niệm rằng, con người sinh ra từ

đá và khi chết sẽ hóa thành đá.



CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



13

CHPN13P



LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



1.3.2 Lễ hội Nàng Hai

Là lễ hội của dân tộc Tày, được bắt đầu vào tháng giêng và kéo dài đến trung

tuần tháng ba. Theo tín ngưỡng dân gian của người Tày thì trên cung trăng có

mẹ trưng và các nàng tiên. Mẹ cùng các nàng chăm lo bảo vệ mùa màng cho

dân. Vì thế, hội Nàng Hai được tổ chức với ý nghĩa tượng trưng là đón mẹ trăng

cùng các nàng tiên xuống trần gian để giúp con người trong công việc làm ăn

sinh sống. Để tổ chức hội, trong bản phải chọn một phụ nữ trung tuổi, có gia

đình hạnh phúc, cuộc sống vẹn toàn và đặc biệt là phải hát hay, hát giỏi để làm

mẹ trăng. Chọn 12 đến 18 cô gái trẻ đóng vai các nàng tiên. Trong số những cô

gái ấy, chọn 2 cô đẹp nhất làm hai chị em trăng. Để bắt đầu, người ta chọn 2

thiếu niên nam khoẻ mạnh dẫn lễ đi trước, mở đường cho cuộc hành trình của

mẹ trăng và các nàng tiên lên trời. Lễ cúng đón mẹ trăng và các nàng xuống trần

được tiến hành trong 12 đêm, mỗi đêm cúng mời một mẹ trăng, mỗi mẹ trăng

phụ trách một công việc. Mẹ thì bảo quản giống lúa, mẹ thì coi giống bông, mẹ

coi giống tăm, mẹ trông coi sâu bọ, mẹ lo chuyện tưới nước… Sau khi đã cầu

hết các cửa mới xin các mẹ đầy đủ các giống cây, giống con, điều kiện mưa

thuận gió hồ thì dân bản tổ chức tiễn các mẹ trăng về trời. Họ hát các bài hát

chia tay và múa những điệu múâ đưa của cải lên thuyền cho mẹ và các nàng

trăng về trời. Đây là một lễ hội đặc biệt với những nghi thức và làn điệu “Lượn

hai” hết sức độc đáo của dân tộc Tày.

1.3.3 Lễ hội Pháo Hoa

Hội pháo hoa có từ lâu đời với màn độc đáo nhất là tranh đầu pháo hoa đầu

xuân được tổ chức vào ngày mồng 2 tháng 2 âm lịch hàng năm. Các xã thành lập

đội để tranh cướp chiếc vòng sắt được trang điểm bằng tua ngũ sắc rực rỡ (tượng

trưng cho đầu pháo hoa) với quan niệm rằng xã nào giành được chiếc vòng sẽ

gặp may mắn, tốt lành và phát tài, phát lộc. Vì thế hội pháo hoa ln thu hút

nhiều chàng trai khoẻ mạnh trong huyện về tranh đầu pháo hoa (tranh vòng) cầu

phúc. Lễ hội dân gian truyền thống được tổ chức chủ yếu ở quy mô làng xã và

mang đậm nét văn hoá của các dân tộc và tổ chức theo nghi lễ truyền thống, các

trò chơi dân gian được khôi phục, kết hợp với các hoạt động văn hố thể thao

như bóng đá, bóng chuyền, văn nghệ quần chúng, đã tạo thêm nét tưng bừng cho

ngày hội. Đồng thời lễ hội cũng là nơi bảo tồn, giữ gìn những giá trị của văn

hoá, nghệ thuật truyền thống. Những câu hát Then, điệu hát Sli, Lượn, Phongslư,

Dá Hai, Hà Lều… với những giai điệu ngọt ngào, da diết cùng những trò chơi

CHUN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐƠ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



14

CHPN13P



LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



dân gian thực sự hấp dẫn là những tiềm năng du lịch văn hoá rất lớn của vùng

đất Cao Bằng.



Lễ hội Lồng Tồng



Lễ hội Pháo Hoa



Nguồn ảnh: Internet



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



1.3.4 Lễ hội Lồng Tồng

Là lễ hội quan trọng nhất trong năm của đồng bào người Tày được tổ chức

từ ngày mồng 4 đến ngày mồng 10 tháng giêng. Sau những ngày vui xuân chấm

dứt, các bản làng người Tày lại nhộn nhịp chuẩn bị cho lễ hội Lồng tồng. Gắn

liền với nền nông nghiệp trồng trọt, lễ hội Lồng tồng được tổ chức nhằm gửi

gắm những mong ước của con người, cầu cho mưa thuận gió hồ, mùa màng bội

thu, đời sống ln no ấm. Lồng tồng theo tiếng Tày có nghĩa là xuống đồng.

Đây là một lễ hội mang đậm dấu ấn của nền sản xuất nông nghiệp từ phần nghi

lễ khi hội, các nghi thức, sản vật dân cúng đến các trò chơi trong lễ hội. Sau khi

thức dân hương kính cáo các vị thần, chủ lễ vạch một đường cày đầu năm, bắt

đầu cho cuộc sống nông trang, cày bừa, cấy hái. Dù được tổ chức với quy mô

lớn hay nhỏ, phần lễ vẫn giữ nguyên các nghi thức từ xa xưa. Mở đầu bằng lễ

cầu mùa: thày cúng đọc các bài khấn và thực hiện nghi thức tạ thiên địa, cầu

thần nơng, thần núi, thần suối và Thành hồng, những vị thần bảo hộ cho mùa

màng và sức khoẻ, sự bình yên của dân làng. Trong lễ hội, mỗi sản vật được

dâng cúng đều mang một ý nghĩa thể hiện sự giao hoà của trời đất, thành quả

của lao động. Lễ vật chung của dân bản gồm một bát nước, một đĩa xôi đỏ, một

đĩa xôi vàng, một con gà luộc, một xâu cá nướng, một bát tiết luộc, một con dao

nhọn, một bó vải mới dệt, hai con cá bằng giấy màu vàng, hai con chim cú bằng

giấy màu đỏ, hai chùm hoa bằng bỏng gạo cắm trên bẹ chuối, hai chùm quả của

cây bồ đao. Xôi đỏ tượng trưng cho mặt trời, xôi vàng tượng trưng cho mặt

CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



15

CHPN13P



LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



trăng, chùm quà của cây bồ đao tượng trưng cho hạt gạo… Đặc biệt, mâm cỗ

cúng của các gia đình còn có thêm đơi quả còn với tua rua nhiều màu sắc sặc sỡ

rất đẹp. Tất cả đều là những biểu hiện của sự sinh sôi nảy nở và gửi gắm những

ước mơ khát khao về cuộc sống ấm no an lành. Một hồi chiêng vang lên, thày

mo thắp hương, đọc lời khấn và bắt đầu những nghi lễ. Thày mo tay cầm nậm

nước làm bằng vỏ bầu khô ngửa mặt lên trời cầu khấn rồi vảy nước ra khắp bốn

phương cầu cho cây cối tươi tốt, cho mùa màng sinh sôi, cho cuộc sống ấm no.

1.4 Nghệ Thuật

1.4.1 Đan lát

Nghệ thuật đan lát suất phát từ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu, công việc đan lát

được tiến hành quanh năm, nhưng phổ biến nhất là vào các dịp nông nhàn; nên

sản phẩm chủ yếu là tự cung, tự cấp.

1.4.2 Thổ Cẩm

Thổ cẩm là loại hàng vải dệt thủ công giàu họa tiết và các họa tiết này

thường nổi lên mặt vải giống như được thêu. Ở Việt Nam thổ cẩm thường để chỉ

loại vải tự dệt, có hoa văn dệt theo phương pháp truyền thống của các dân tộc ít

người. Các hoa văn trên vải thổ cẩm thường thể hiện theo nét truyền thống của

từng dân tộc. Nghề dệt thổ cẩm truyền thống được giữ gìn và lưu truyền qua bàn

tay khéo léo của người phụ nữ trong gia đình. Thổ cẩm là sản phẩm dệt thủ cơng

khơng thể thiếu trong đời sống của người Tày ở Cao Bằng. Thổ cẩm của người

Tày rất nổi tiếng với những hoa văn đẹp mắt, sặc sỡ, mang đậm bản sắc dân tộc

được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Nguyên liệu chính để dệt thổ cẩm là

sợi bơng nhuộm chàm và tơ tằm nhuộm màu. Dệt thổ cẩm hoàn toàn bằng thủ

công cần giăng khung cửi dệt thổ cẩm, giăng sợi dọc có màu chàm xanh để làm

nền, sợi ngang đan qua là những sợi màu để tạo hoa văn. Trên tấm thổ cẩm của

người Tày thường có 6 màu chủ đạo, gồm: xanh, đỏ, vàng, tím, trắng, đen. Từ

các màu chủ đạo đó, người dệt đã pha chế các gam màu đậm, nhạt phù hợp theo

ý tưởng cho từng sản phẩm. Cách bố cục họa tiết trên thổ cẩm rất đa dạng tạo

nên những tấm thổ cẩm có hình dạng vô cùng đặc sắc. Các họa tiết thường được

người Tày đưa vào thổ cẩm là những hình ảnh của những lồi hoa, chim mng,

thú q..., thân thiện với đời sống, hòa quyện cùng mây trời, non nước thường

ngày. Đây là nét riêng tạo nên thổ cẩm của người Tày Cao Bằng không thể lẫn

được với thổ cẩm của người Tày ở những địa phương khác.



CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



16

CHPN13P



LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



1.4.3 Văn học dân gian

Văn học dân gian chủ yếu được lưu truyền miệng gồm các thể loại như ca

dao tục ngữ, thơ ca, truyện cổ dân gian… thường được các cụ già có chức sắc

được tin tưởng kể và chuyền lại cho con cháu nghe.

Hát Then là loại hình diễn xướng dân gian tổng hợp gồm: ca, nhạc, múa và

diễn trò. Theo người Tày, Then được hiểu là Thiên - chỉ trời. Về nguồn gốc có

nhiều ý kiến khác nhau song đa phần có cùng nhận định: “ hát Then có xuất xứ

từ Cao Bằng, khi nhà Mạc bị thất sủng “. Hầu hết trong các lễ cúng của người

Tày đều có hát Then, hát Then không chỉ đơn thuần là một loại hình âm nhạc

hay diễn xướng dân gian mà có sự gắn kết chặt chẽ với tín ngưỡng. Khơng gian

biểu diễn, hát Then thường được trình diễn chủ yếu trong một không gian nhỏ

hẹp như trong nhà (trước bàn thờ) tuy nhiên đơi khi cũng được trình diễn trong

một khơng gian rộng như ngoài cánh đồng, phổ biến ở Lễ hội Lồng tồng vào dịp

tháng giêng.



Hát Then



Làm Tào, Pụt



Nguồn ảnh: Internet



Nguồn ảnh: Internet



Trong cộng đồng Tày, các ông Then, Tào, Pụt, Mo là những người có khả năng

liên hệ với thần linh, tiếp cận với thế giới siêu nhiên, là cầu nối giữa người trần

với các đấng tự nhiên. Chính bởi đó họ có vai trò hết sức quan trọng trong đời

sống tâm linh và tín ngưỡng của cộng đồng. Then được hát trong hầu hết các

nghi lễ, hội với nhiều đường Then khác nhau tùy thuộc vào mục đích của lễ

cúng. Ngồi phần thuộc lễ nghi, diễn xướng Then còn có phần mang tính chất

vui chơi mang đậm yếu tố sân khấu. Ông Then là người thuộc nhiều đường Then

và có căn Then. Người có căn Then được cộng đồng tín nhiệm, nể trọng. Cũng

giống như Hầu đồng của người Việt, Then của người Tày mượn lời ca, tiếng đàn

CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



17

CHPN13P



LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



cùng chùm xóc nhạc dẫn đường đến với các đấng siêu nhiên để thỉnh cầu hay

cảm tạ.

1.4.4Văn hóa Ẩm thực

Cao Bằng là địa bàn sinh sống chủ yếu của người Tày, vì vậy khi nhắc đến

văn hóa ẩm thực nơi đây không thể không nhắc đến những nét độc đáo đa dạng

các loại rau rừng các món ăn từ rau rừng ngồi giá trị ẩm thực còn có giá trị

chữa bệnh rất tốt.



Thị hun khói



Rau rừng



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



Xôi trứng kiến



Bánh trứng kiến



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



Có thể kể đến hàng chục loại rau rừng thường xuyên được dùng trong các bữa

ăn của người Tày: rau dạ hiến hay còn gọi là rau bò khai, rêu đá, rau chuối rừng,

hoa ban cách chế biến món ăn của người Tày cũng rất đa dạng, vừa đem lại cảm

CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



18

CHPN13P



LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



giác mới lạ. Bên cạnh đó còn nổi tiếng với móm lợn quay, Vịt quay, bánh trứng

kiến…

1.5 Cấu trúc làng truyền thống

Làng đá Khuổi Ky hiện có 14 nóc nhà với 100% là dân tộc Tày, tại thôn Tày

cổ xã Đàm Thủy hiện còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa truyền thống vơ

cùng quan trọng mang tính lịch sử từ thời nhà Mạc vào khoảng thế kỷ 15-16 với

những ngôi nhà sàn được xây dựng bằng đá tự nhiên và gắn kết với nhau bằng

vôi trộn với cát, mái lợp ngói âm dương. Kiến trúc nhà sàn đá gồm 2 tầng với

vật liệu chính là đá tạo thành 4 bức tường xung quanh như một bộ khung vững

chãi, kiên cố. Tường thường được xây với bề dày 30 đến 40cm. Những viên đá

tự nhiên nhiều kích cỡ được xếp chồng lên nhau và gắn với nhau nhờ hỗn hợp

kết dính gồm vơi tơi trộn cát. Trong nhà có chừng 5 đến 7 hàng cột gỗ chiều cao

nhà khoảng 8m đến 9m cùng, khoảng cách giữa các cột từ 2m đến 2,5m với

tường đá bao quanh đỡ sàn gỗ và mái, gầm sàn dùng để nuôi gia súc, gia cầm.

Nhà nọ được ngăn cách với nhà kia bằng những hàng rào đá xếp cao từ 60cm –

90cm, rộng 30cm – 40cm. Toàn bộ đường trong làng cũng được xếp bằng đá

hộc.



CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



19

CHPN13P



LÀM HỒI SINH CÁC LÀNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: “ Trường hợp nghiên cứu dân tộc Tày cổ, ở làng đá Khuổi Ky, xã

Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng “.



Tổng thể làng đá Khuổi Ky

Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



Tường rào đá phân chia ranh giới



Nền đường trong Bản



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



Nguồn ảnh: Chụp Nguyễn Mạnh Hùng



CHUYÊN NGHÀNH : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ, BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

HỌC VIÊN : NGUYỄN MẠNH HÙNG



20

CHPN13P



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương I. Điều kiện tự nhiên, nét đẹp truyền thống trong đời sống, văn hóa, tính ngưỡng, kiến trúc và kết cấu làng truyền thống của người Tày cổ.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×