Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

CHƯƠNG III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Dựa trên kết quả đo phổ UV-Ví của khảo sát nồng độ hệ AgNPs/γ-CD/Alginate ta nhận

thấy rằng cường độ hấp thụ tăng tuyến tính theo tỉ lệ nồng độ.

− Đối với tỉ lệ 1:1 , nồng độ của gel không đủ lớn để xảy ra quá trình khử bạc nên

ta thấy được nó có cường độ hấp thụ thấp nhất.

− Đối với tỉ lệ 1:10 ta thấy nó có cường độ hấp thụ cao nhất và khi ta tăng lên tỉ lệ

1:15 thì cường độ hấp thụ nhỏ hơn ở tỉ lệ 1:10 điều này cho ta thấy tỉ lệ ở 1:10 là

tối ưu nhất.

− Ta chọn tỉ lệ 1:10 để thực hiện các khảo sát tiếp theo.

Hình III.2: Đồ thị biểu diễn cường độ hấp thụ cực đại của khảo sát tỉ lệ khối lượng gel so



III.2. Khảo sát ảnh hưởng của

giandịch

phản

ứng lên q trình hình thành

vớithời

thể tích

chiết

nano bạc



Hình III.3: Kết quả đo UV-Vis của khảo sát thời gian



38



Hình III.4: Đồ thị biểu diễn cường độ hấp thụ cực đại của thời gian phản ứng

Dựa trên kết quả đo phổ UV-Vis từ khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến quá trình hình

thành nano bạc ta nhận thấy rằng:

− Cường độ hấp thu tăng nhưng không đồng đều ở khoảng thời gian từ 40 đến 80

phút , sau đó thì cường độ hấp thụ tăng dần đều theo thời gian. Sự tăng không

đồng đều trong khoảng thời gian 40-80 phút có thể là do sai số do ảnh hưởng

khách quan.

− Thời gian trong khoảng 140-180 phút đã khơng có sự thay đổi cường độ hấp thụ

nào đáng kể nên ta chọn 140 phút là thời gian tối ưu để thực hiện các khảo sát

sau.



III.3. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ phản ứng lên quá trình hình thành

nano bạc



39



Hình III.5: Kết quả đo UV-Vis của khảo sát nhiệt độ



Hình III.6: Đồ thị biểu diễn cường độ hấp thụ cực đại của nhiệt độ phản ứng

Dựa trên kết quả đo phổ UV-Vis từ khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ phản ứng đến quá

trình hình thành nano bạc, ta nhận thấy:



40



− Cường độ hấp thụ tăng tuyến tính theo sự tăng nhiệt độ phản ứng.

− Ở nhiệt độ 120oC ta có được độ hấp thụ cao nhất. Nhiệt độ 120 oC được chọn

làm nhiệt độ tối ưu để thực hiện các khảo sát tiếp theo.



III.4. Kích thước hạt bởi HR-TEM



Hình III.7: kết quả đo HR-TEM của AgNPs

Theo kết quả từ hình ảnh HR-TEM, ta nhận thấy được AgNPs có các hạt nano bạc

phân bố rải rác trên hệ chất mang Alginate/γ-CD với hình dạng đặc trưng của các hạt

AgNPs là hình cầu ở các kích thước khác nhau, kích thước trung bình của các hạt

AgNPs nằm ở 4,4 nm, những hạt có kích thước lớn nằm trong khoảng 17,7 nm.



41



III.5. Kết quả phân tích kích thước hạt



Hình III.8: kết quả đo kích thước hạt của mẫu Nano Blank và mẫu AgNPs

Theo kết quả đo kích thước hạt, ta nhận thấy:

− Kích thước trung bình của mẫu AgNPs là 109,5nm, kích thước thu được nhều

nhất là 110nm,



42



− Kích thước trung bình của các hạt nano blank là 503,2nm, kích thước thu được

nhiều nhất là 480,8nm.

− Ta thấy hạt nano blank lớn hơn rất nhiều so với kích thước của các hạt AgNPs

điều này chứng minh rằng các hạt nano blank có khả năng phân ly thành các hạt

có kích cỡ nhỏ hơn.



43



III.6. Kết quả phân tích thế Zeta



Hình III.9: kết quả đo thế zêta của mẫu Nano Blank và mẫu AgNPs

Theo kết quả phân tích thế zeta ta đưa ra kết luận rằng:

− Thế zeta trung bình của hạt AgNPs được tìm thấy khoảng -52,0mV.

− Thế zeta trung bình của hạt nano blank nằm trong khoảng -32,1mV.



44



− Giá trị của thế zeta càng âm thì hạt AgNPs có lực đẩy tĩnh điện càng lớn, giúp

kìm hãm sự kết dính nên các hạt AgNPs khó bị hút lại gần nhau  hệ

AgNPs/γCyclodextrin/Alginate ổn định và bền vững.



III.7. Kết quả phân tích FTIR



Hình III.10: kết quả phân tích phổ hồng ngoại

Theo kết quả phân tích của phổ IR đối với dịch chiết củ Ngưu Bàng ta thấy sự xuất

hiện của các peak :

− Peak ở tần số 3374 cm-1: cho thấy sự xuất hiện dao động của nhóm chức OH

trong hợp chất phenol.

− Peak ở tần số 2931 cm-1: là dao động của nhóm C-H.

45



− Peak ở tần số 1633 cm-1: dao động hố trị của nhóm carbonyl C=C.

− Peak ở tần số 1430 cm-1: là của các hợp chất thơm.

− Peak co tần số ở 1033 cm-1: là dao động hoá trị của C-O trong nhóm C-OH.

Theo kết quả phân tích của phổ IR đối với AgNPs/γCyclodextrin/Alginate ta thấy sự

xuất hiện của các peak :











Peak ở tần số 3446 cm-1: là dao động hố trị của nhóm chức OH.

Peak ở tần số 2927 cm-1: là dao động của nhóm C-H.

Peak ở tần số 1626 cm-1: là dao động hố trị của nhóm chức C=C.

Peak co tần số ở 1029 cm-1: là dao động hố trị của C-O trong nhóm C-OH.



Theo kết quả phân tích của phổ IR đối với Blank γCyclodextrin/Alginate ta thấy sự

xuất hiện của các peak :











Peak ở tần số 3447 cm-1: là dao động hố trị của nhóm chức OH.

Peak ở tần số 2927 cm-1: là dao động của nhóm C-H.

Peak ở tần số 1611 cm-1: là dao động hố trị của nhóm chức C=C.

Peak co tần số ở 1039 cm-1: là dao động hoá trị của C-O trong nhóm C-OH.



Theo kết quả phân tích của phổ IR đối với γCyclodextrin ta thấy sự xuất hiện của các

peak sau:











Peak ở tần số 3440 cm-1: là dao động hoá trị của nhóm chức OH.

Peak ở tần số 2920 cm-1: là dao động của nhóm C-H.

Peak ở tần số 1640 cm-1: là dao động hố trị của nhóm chức C=C.

Peak co tần số ở 1030 cm-1: là dao động hoá trị của C-O trong nhóm C-OH.



Theo kết quả phân tích của phổ IR đối với sodium alginate ta thấy sự xuất hiện của các

peak sau:

− Peak ở tần số 3472 cm-1: dao động hố trị của nhóm chức OH.

− Peak ở tần số 2924 cm-1: là của nhóm C-H.

− Peak ở tần số 1640 cm-1: là dao động hoá trị của nhóm chức C=C



46



− Peak ở tần số 1124 cm-1: có thể là dao động của các nhóm C-C-H hoặc O-C-H bị

biến dạng.



47



III.8. Kết quả phân tích phổ EDX



48



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×