Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



Sắc ký cột với pha tĩnh là silicagel pha thường thì hợp chất khơng (kém) phân

cực được giải ly ra khỏi cột trước, còn hợp chất phân cực giải ly ra sau. Với hai chất

khơng phân cực, chất có trọng lượng phân tử lớn sẽ có tính phân cực mạnh hơn bị giữ

lại trong cột lâu hơn chất còn lại.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp sắc ký cột trung áp. Sử

dụng máy bơm hút dung môi từ bình chứa đẩy vào đầu cột, từ đó đẩy chất ra khỏi cột

nhờ áp lực của bơm trung áp. Có thể điều chỉnh tốc độ dòng chảy của dung môi nhờ

van điều chỉnh của máy bơm [3], [10].

2.2.2 Phương pháp đánh giá cảm quan thành phần tạo mùi hương

Đánh giá cảm quan là kỹ thuật sử dụng các cơ quan cảm giác của con người để

nhận biết, mô tả và định lượng các tính chất cảm quan của một sản phẩm như màu sắc,

hình thái, mùi vị và cấu trúc.

Để đánh giá cảm quan các thành phần tạo mùi hương chúng tôi sử dụng phép

thử cho điểm. Phép thử này thường dùng để xác định xem mức độ khác nhau về một

tích chất cảm quan nào đó giữa nhiều mẫu là bao nhiêu. Trong nghiên cứu này, phép

thử được dùng để xác định xem nhóm thành phần tạo hương có mùi thơm giống mùi

của tinh dầu trầm hương hay không.

Trước tiên người thử sẽ được làm quen để xác định mùi hương của mẫu. Giai

đoạn tiếp theo người thử sẽ nhận được đồng thời tất cả các mẫu cần đánh giá. Những

người này thường là các chuyên gia cảm quan, đã có thời gian dài được huấn luyện và

làm việc trong lĩnh vực này. Sau khi ngửi thử, người thử sẽ đánh giá cường độ của tính

chất cảm quan của mỗi mẫu thông qua một điểm số tương ứng với một thuật ngữ mơ tả

cường độ của tính chất ấy đã được quy định sẵn. Thang điểm thường dùng trong phép

thử này là thang 6 điểm. Thang điểm hay thuật ngữ mơ tả là do người điều hành thí

nghiệm lựa chọn, tuy nhiên cần tránh những thuật ngữ không rõ nghĩa [4].



14



2.2.3 Phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS)

Sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) là sự kết hợp hai kỹ thuật để tạo thành một

phương pháp duy nhất trong phân tích hỗn hợp các chất. Hai thiết bị này có khả năng

bổ sung và hỗ trợ cho nhau trong q trình phân tích, sắc ký khí tách các thành phần

của một hỗn hợp và khối phổ phân tích đặc tính của từng thành phần riêng lẻ đó. Như

vậy, khi tiêm mẫu vào hệ thống sẽ tách ra các thành phần riêng biệt từ hỗn hợp các chất

và xác định từng thành phần trong chúng. Hơn nữa, nó còn có khả năng xác định được

hàm lượng của từng thành phần.

Thiết bị GC-MS được cấu tạo gồm hai phần: phần sắc ký khí (GC) và phần khối

phổ (MS):

- Sắc ký khí (GC) dùng để chia tách hỗn hợp chất ra các thành phần riêng lẻ,

mỗi thành phần có một giá trị riêng biệt. Trong sắc ký khí sự chia tách xuất hiện khi

mẫu được bơm vào pha động. Pha động mang hỗn hợp mẫu đi qua pha tĩnh, mỗi hợp

chất trong hỗn hợp mẫu tương tác với pha tĩnh một lực tương tác khác nhau, hợp chất

tương tác yếu sẽ thoát ra khỏi cột trước. Hơn nữa quá trình chia tách có thể xảy ra bởi

sự thay đổi nhiệt độ của pha tĩnh hay áp suất của pha động. Pha động là một khí trơ

như heli, pha tĩnh được sử dụng là hóa chất và được chứa trong cột. Cột GC được làm

bằng thủy tinh, inox hay thép khơng gỉ có kích thước rất đa dạng. Chiều dài thường lớn

hơn 25m và đường kính rất nhỏ như một ống mao dẫn. Một chất chia tách, rửa giải

phóng đi ra khỏi cột và đi vào đầu dò. Đầu dò có khả năng tạo ra một tín hiệu khi phát

hiện ra chất cần phân tích. Tín hiệu này phát ra từ máy tính, thời gian từ khi bơm mẫu

đến khi rửa giải gọi là thời gian lưu (tR). Nếu trong cùng điều kiện sắc ký như nhiệt độ,

loại cột…giống nhau thì cùng một chất ln có cùng thời gian lưu. Trong q trình

chạy sắc ký, máy tính sẽ tạo ra một đồ thị từ các tín hiệu gọi là sắc ký đồ. Mỗi peak

trong sắc ký đồ đại diện cho một tín hiệu được tạo ra khi một chất rửa giải từ cột sắc ký

đi vào đầu dò detector. Trục hoành biểu thị thời gian lưu (tR), trục tung biểu thị cường



15



độ của tín hiệu. Mỗi đỉnh peak biễu diễn một chất riêng lẻ và có thời gian lưu tương

ứng.

- Khối phổ (MS) dùng để xác định một chất hóa học dựa trên cấu trúc của nó.

Khi giải hấp các chất riêng lẻ ở pha khí từ cột sắc ký, chúng đi vào đầu dò có dòng điện

ion hóa (mass spectrometry) và bị vỡ thành những mãnh vụn là các vật mang điện (ion)

rồi đi vào đầu dò detector. Máy tính sẽ ghi lại biểu đồ sau mỗi lần quét. Trục hoành

biễu diễn tỉ lệ m/z (tương ứng với khối lượng phân tử mỗi mãnh) còn trục tung biễu

diễn cường độ tín hiệu của mỗi mảnh vụn được quét bởi đầu dò detector. Biểu đồ này

gọi là khối phổ. Khối phổ MS này được đem so sánh với các khối phổ MS chuẩn có

trong thư viện khối phổ đã được xác định trước. Việc này giúp ta có thể định danh

được chất đó [11].



16



CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM

3.1 HĨA CHẤT, THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ

3.1.1 Hóa chất

Dung mơi dùng để chạy cột: n-hexane, ethyl acetate.

Dung mơi dùng để phân tích GC-MS: n-hexane, acetone.

Silicagel cỡ hạt 40 – 60 µm được sử dụng cho pha thường.

3.1.2 Thiết bị và dụng cụ

3.1.2.1) Thiết bị

Thiết bị GC-MS GC-MS Scion 456-GC/Scion SQ.



Hình 3.5 Thiết bị GC-MS Scion 456-GC/Scion SQ.

Máy bơm và máy phân đoạn hứng tự động.

Máy cơ quay chân khơng Buchi.

Cân phân tích.

Máy đánh siêu âm Sonicator.



17



Máy thổi khí nitơ N2 LCMS.

3.1.2.2) Dụng cụ

Cột sắc ký đường kính 1,7 cm.

Dụng cụ dùng để hứng phân đoạn: hủ bi 20mL.

Dụng cụ chứa mẫu phân tích: Vial 1,5 mL.

Bình cầu cơ quay.

Một số dụng cụ khác: bình chứa dung mơi, pipet định mức, pipet paster, phễu

thủy tinh, ống đong, erlen...

3.2 XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TINH DẦU TRẦM HƯƠNG

BẰNG PHƯƠNG PHÁP GC-MS

3.2.1 Công đoạn chuẩn bị mẫu

Mẫu được chuẩn bị bằng cách hòa tan 10µL tinh dầu Trầm hương trong 990µL

n- hexane và 200 µL acetone cho vào một vial.



Hình 3.6 Mẫu tinh dầu Trầm hương phân tích GC-MS.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×