Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 TINH DẦU TRẦM HƯƠNG (AGARWOOD OIL)

2 TINH DẦU TRẦM HƯƠNG (AGARWOOD OIL)

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



Năm 2011, P. Pripdeevech, W. Khummueng, and Seung-Kook Park đã nghiên

cứu xác định các thành phần dễ bay hơi từ ba loại tinh dầu trầm hương (A. malaccensis

, A. subintegra và A. crassna) đánh giá theo phương pháp sắc ký khí khối phổ (GCMS) và sắc độ khí-phép đo độ nhạy khứu giác (GC-O). Họ đã tìm thấy tổng cộng có 31

thành phần. Một tập hợp gồm 18 trong số 31 thành phần được xác định từ tinh dầu của

A. malaccensis với thành phần chính là isoamyl dodecanoate, guaia-1(10), 11-dien-15ol, karanone, cyclocolorenone và jinkoh-eremol. Tinh dầu A.subintegra mang lại 28

hợp chất được xác định với các thành phần phong phú nhất là isoamyl dodecanoate,

kusunol, jinkoh-eremol, epoxybulnesene và agarofuran, Trong khi 30 hợp chất dễ bay

hơi từ A. crassna đã được xác định với isoamyl dodecanoate, agarofuran, kusunol,

dehydrojinkoh-eremol và 9,11-eremophiladien-8-one là các thành phần chính. Thành

phần mùi đặc trưng được xác định bằng cách sử dụng kỹ thuật GC-O. Các thành phần

chính chịu trách nhiệm cho hương thơm bao gồm -agarofuran, 4-phenyl-2-butanone,

furfural và benzaldehyde. Đặc tính hương thơm của các chất bay hơi cũng được liệt kê:

-agarofuran đặc trưng mùi gỗ, là thành phần hoạt động hương thơm mãnh liệt nhất

của tinh dầu trầm hương. 4-phenyl-2-butanone có khả năng chịu trách nhiệm về các

mùi hương chính của hoa nhài, thảo dược và trái cây. Trong khi furfural và

benzaldehyde chịu trách nhiệm về các mùi hạnh nhân, trái cây [21].

Năm 2011, Jutarut Pornpunyapat, Pakamas Chetpattananondh, Chakrit và các

đồng nghiệp đã phân tích thành phần hóa học của tinh dầu trầm hương A. crassna

chưng cất lần lượt ở nhiệt độ 80 0C, 1000C, 1200C bằng phương pháp GC-MS đã thu

được số lượng các hợp chất chính tương ứng 8, 13, 21 chất. Điều này chỉ ra rằng nhiệt

độ chưng cất ảnh hưởng đến các hợp chất hóa học của chiết xuất tinh dầu. Ở nhiệt độ

chưng cất cao hơn, các thành phần có điểm sơi cao hơn của tinh dầu có thể được chiết

xuất qua đó thu được số lượng hợp chất hóa học nhiều hơn. Tinh dầu trầm hương thu

được ở nhiệt độ cao có tính chất tốt hơn, màu đậm hơn, nặng hơn, độ bền của tinh dầu



7



cao hơn, hương thơm và độ bám dính lâu hơn với da người. Tinh dầu chưng cất ở 80 0C

có agarospirol, alloaromadendrene, valencene và valerenol là các hợp chất chính.

Aristolene, 1,5-diphenyl-3-pentanone và agarospirol được tìm thấy là các hợp chất

chính của tinh dầu chưng cất ở 100 0C. Aromadendrenepoxide, agarospirol, alphaGurjunene và 2-naphthaleneethanol là các hợp chất chính của tinh dầu được chưng cất

ở 1200C [20].

Năm 2014, Y. Hashim và N.I. Ismail và P. Abbas, đã chỉ ra rằng các

sesquiterpenes là thành phần hoạt động chính đóng vai trò quan trọng trong việc tạo

mùi thơm và mùi dễ chịu cho tinh dầu trầm hương [12].

Một nghiên cứu của Nor Azah Ma, Ismail N, Mailina J và cộng sự được công bố

vào năm 2014. Trong nghiên cứu này, các thành phần hóa học của một số mẫu tinh dầu

trầm hương được lấy từ nhiều nguồn khác nhau đã được phân tích bằng bằng phương

pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS), sáu hợp chất có ý nghĩa đã thu được trong

hầu hết các mẫu tức là 4-phenyl-2-butanone, α-guaiene, ar-curcumene, 10-epi-γeudesmol, dihydroagarofuran và valencene [18].

Năm 2014, nhóm các nhà khoa học được dẫn đầu bởi Nurlaila Ismail đã tiến

hành phân tích thành phần hóa học tinh dầu trầm hương và phân loại chất lượng của

nó. Thơng thường, tinh dầu trầm hương được phân loại theo màu sắc, mùi thơm và dựa

trên cảm giác con người. Tuy nhiên, đánh giá này cho thấy tinh dầu trầm hương có thể

được phân loại theo tính chất hóa học. Nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu sự khác

biệt của thành phần hóa học trong tinh dầu trầm hương, hầu hết trong số họ đồng ý

rằng các thành phần sesquiterpens và dẫn xuất chromone là các hợp chất chính trong

tinh dầu trầm hương. Ba hợp chất sesquiterpenes chỉ được phát hiện ở tinh dầu chất

lượng cao nhất đó là: (-)-guaia-1(10), 11-dien-15-al, (-)-selina-3,11-dien, 9-one và (+)selina-3,11-dien, 9-ol. Các thành phần: 9-11-eremophiladien-8-one và oxo-agarospirol

đã được tìm thấy trong tinh dầu trầm hương chất lượng thấp. β-agarofuran, α-



8



agarofuran và 10-epi-eudesmol là những hợp chất chính trong chất lượng cao. Trong số

đó, agarofuran là hợp chất quan trọng nhất với tinh dầu chất lượng cao và nó đóng góp

vào mùi thơm của tinh dầu trầm hương [15].

Năm 2017, J Majid, AH Hazandy và các đồng nghiệp đã phân tích thành phần

hóa học của trầm hương từ các loài Aquilaria khác nhau (A.crassna, A.sinensis và A.

subintegra) đã được kiểm tra bằng cách sử dụng phương pháp GC-MS. Nhìn chung,

tổng cộng có 20 hợp chất được xác định trong tất cả các loại gỗ trong đó có 13 hợp

chất từ A.crassna, 17 hợp chất từ A. sinensis và 17 các hợp chất từ A. subintegra. Một

số hợp chất dễ bay hơi phổ biến trong cả ba loài cụ thể là 4-phenyl-2-butanone,

agarofuran, dihydroagarofuran, α-bulnesene, α-agarofuran, aromadendrene, 10-epi-eudesmol, agarospirol, valencene, valerianol và α-eudesmol. Dihydroagarofuran là một

trong những hợp chất chính trong tất cả ba lồi. Agarospirol là hợp chất phong phú

nhất đối với A. crassna, trong khi đó α- eudesmol là các hợp chất cao nhất trong A.

sinensis và A. subintegra [17].

Năm 2018, Đinh Thị Thu Thủy và cộng sự đã công bố nghiên cứu thành phần dễ

bay hơi của tinh dầu trầm hương từ Aquilaria crassna trồng ở tỉnh Khánh Hòa được

thực hiện bằng các phương pháp khác nhau bao gồm thủy phân, hỗ trợ enzyme, chưng

cất hơi nước hỗ trợ vi sóng, chiết bằng dung mơi và carbon dioxide siêu tới hạn. Các

hợp chất dễ bay hơi của sản phẩm được phân tích bởi GC-MS. Hầu như tất cả các mẫu

có chứa một số thành phần đặc trưng phổ biến, chẳng hạn như benzylacetone, 10-epi-γeudesmol,



agarospirol,



valerianol,



eudesmol,



α-eudesmol,



neopetasane







dihydrokaranone. Tuy nhiên, có sự khác biệt về sản lượng, thành phần và số lượng các

thành phần được xác định [9].

Một nghiên cứu của Daoud Tajeldeinn Ahmaed and Ajaykumar D. Kulkarni

được công bố năm 2018. Nghiên cứu này mô tả các thành phần hóa học của các lồi

Aquilaria, chủ yếu là Aqularia malaccensis, Aqularia sinensis và Aqularia crassna.



9



Có sự khác nhau giữa các nhóm hợp chất đã được xác định trong này các loài, chủ yếu

là Sesquiterpenoids, chromone và các hợp chất thơm dễ bay hơi. Một loạt kỹ thuật

phân tích khác nhau đã được sử dụng để phân lập các hợp chất từ gỗ trầm hương và

dung môi là phương pháp phổ biến nhất trong số đó. Các dung mơi phân cực được sử

dụng để thu được các hợp chất phân cực và chromone, trong khi hầu hết các

sesquiterpenes là thu được từ dung môi không phân cực. Thành phần sesquiterpenes

trong trầm hương có thể được chia chủ yếu thành: Agarofurans, Agarospiranes,

Guaianes, Eudesmanes, Eremophilanes và Prezizananes. Từ các tài liệu đã tìm kiếm, có

thể kết luận rằng 6-methoxy-2-[2-(4-methoxypheny1)-ethyl]-chromone và 2-(2

(4methoxyphenyl)-ethyl)-chromone là hai chất chiếm ưu thế nhất tìm thấy ở tất cả các

lồi [5].

1.2.1.2) Nghiên cứu về hoạt tính sinh học của tinh dầu trầm hương

Kết quả nghiên cứu của Y.H. Hashim, A. Phirdaous, A. Azura và các đồng

nghiệp thực hiện vào năm 2014 đã chứng minh tiềm năng chống ung thư của tinh dầu

trầm hương thu được từ quá trình chưng cất gỗ trầm hương đối với các tế bào ung thư

vú. Trong nghiên cứu này, dựa trên các sàng lọc đơn giản (xét nghiệm khả năng sống

của tế bào và xét nghiệm khả năng gắn kết tế bào) cũng như xét nghiệm độc tế bào,

tinh dầu trầm hương đã được kiểm tra hoạt động chống ung thư của nó đối với các tế

bào ung thư vú. Tinh dầu trầm hương gây giảm số lượng tế bào trong cả khả năng sống

và tiêu diệt tế bào, ức chế sự gắn kết tế bào và làm cho các tế bào tách ra [13].

Năm 2015, S. Dahham, M. Tabana và các cộng sự đã cơng bố đặc tính chống

ung thư, chống oxy hóa và kháng khuẩn của Caryophyllene từ tinh dầu Aquilaria

crassna. Nghiên cứu đã chứng minh Caryophyllene có hoạt động kháng khuẩn rõ rệt và

tác dụng chống oxy hóa mạnh mẽ. Nghiên cứu kết luận rằng Caryophyllene có đặc tính

gây độc tế bào có chọn lọc một cách mạnh mẽ chống lại các tế bào ung thư đại trực

tràng của con người. Các nghiên cứu sâu hơn chỉ ra rằng Caryophyllene có khả năng



10



ức chế mạnh mẽ chống lại sự nhân bản, ngăn chặn sự vận động và tập hợp của khối u.

Những kết quả này giúp khẳng định rằng, Caryophyllene có tiềm năng lớn để được

phát triển hơn nữa như là một tác nhân hóa trị liệu đầy hứa hẹn chống lại các khối u ác

tính đại trực tràng [6], [7].

Cũng trong năm 2015, S. Dahham và đồng nghiệp lần đầu tiên làm sáng tỏ đặc

tính chống ung thư tuyến tụy của tinh dầu A. crassna, có thể kết luận rằng tác dụng

chống ung thư từ chiết xuất tinh dầu là do ảnh hưởng kết hợp của các thành phần hóa

học có hoạt tính sinh học có trong tinh dầu [8].

1.2.2 Công dụng của tinh dầu trầm hương

Tinh dầu trầm hương là chất lỏng sánh nhớt, có màu vàng, vàng nâu hay màu đỏ

hổ phách và mùi thơm đặc biệt, rất dai. Có rất nhiều cơng dụng trong y học, hương liệu

và mỹ phẩm.

1.2.2.1) Y học

Tinh dầu trầm hương đã được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc và các

quốc gia Đông Nam Á để điều trị các bệnh truyền nhiễm, viêm khớp và tim mạch. Nó

đã được sử dụng rộng rãi bởi người Ả Rập và Nhật Bản để điều trị rối loạn tiêu hóa,

giảm đau và an thần. Chiết xuất A. crassna được biết đến là thảo dược truyền thống của

Thái Lan để điều trị các chứng rối loạn khác nhau bao gồm viêm, lão hóa, ung thư và

rối loạn tim mạch. Một số nghiên cứu khoa học đã tiết lộ rằng các chiết xuất tinh dầu

của A. crassna có chứa các hợp chất chống oxy hóa, kháng khuẩn, gây độc tế bào, hạ

sốt, giảm đau, chống thiếu máu cục bộ, nhuận tràng và tiêu hóa [6], [13].

1.2.2.2) Hương liệu – Mỹ phẩm

Tinh dầu trầm hương là chất định hương có giá trị đặc biệt trong cơng nghệ chế

biến các loại hương liệu, nguyên liệu không thể thiếu trong ngành cơng nghiệp nước

hoa tạo ra các dòng nước hoa cao cấp cho mùi hương độc đáo. Tinh dầu trầm hương có



11



tác dụng làm đẹp da, chống lão hóa giúp da mịn và lành sẹo được điều chế thành nhiều

loại mỹ phẩm. Các loại mỹ phẩm chứa tinh dầu trầm hương rất được ưa chuộng đặc

biệt ở các quốc gia Châu Á.

Ngoài ra, tinh dầu trầm hương được dùng để xông tinh dầu cho không gian sinh

hoạt giúp giảm căng thẳng thần kinh, thanh lọc khơng khí nhờ tác dụng khử trùng

mạnh mẽ, sử dụng làm một loại hương tạo mùi thơm đặc trưng trong các dịp lễ tôn

giáo quan trọng [15], [20].



12



CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Tinh dầu trầm hương sử dụng làm nguyên liệu

cho nghiên cứu này được cung cấp bởi Công ty

Agarvina Việt Nam thu được bằng phương pháp

chưng cất lôi cuốn hơi nước.

Gỗ trầm hương sản xuất tinh dầu được xác định

là Aquilaria crassna Pierre (họ Thymelaeaceae).



Hình 2.4 Tinh dầu trầm hương.

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp sắc ký cột trung áp (MPLC)

Sắc ký cột là một phương pháp dùng để tách một hỗn hợp gồm nhiều hợp chất

ra thành từng loại đơn chất dựa vào độ phân cực khác nhau của những loại hợp chất đó

đối với một hệ thống gồm hai pha: một pha động và một pha tĩnh.

Pha tĩnh thường là các hạt silicagel được nạp nén trong cột thủy tinh, mẫu chất

cần phân tích đặt ở phía trên đầu cột pha tĩnh. Pha động là dung mơi giải ly, đặt ở phía

trên mẫu cần phân tách. Dung môi giải ly ra khỏi cột ở phía dưới cột, được hứng bằng

những hủ bi thủy tinh đặt phía dưới trước ống dẫn cột.



13



Sắc ký cột với pha tĩnh là silicagel pha thường thì hợp chất không (kém) phân

cực được giải ly ra khỏi cột trước, còn hợp chất phân cực giải ly ra sau. Với hai chất

khơng phân cực, chất có trọng lượng phân tử lớn sẽ có tính phân cực mạnh hơn bị giữ

lại trong cột lâu hơn chất còn lại.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp sắc ký cột trung áp. Sử

dụng máy bơm hút dung mơi từ bình chứa đẩy vào đầu cột, từ đó đẩy chất ra khỏi cột

nhờ áp lực của bơm trung áp. Có thể điều chỉnh tốc độ dòng chảy của dung mơi nhờ

van điều chỉnh của máy bơm [3], [10].

2.2.2 Phương pháp đánh giá cảm quan thành phần tạo mùi hương

Đánh giá cảm quan là kỹ thuật sử dụng các cơ quan cảm giác của con người để

nhận biết, mô tả và định lượng các tính chất cảm quan của một sản phẩm như màu sắc,

hình thái, mùi vị và cấu trúc.

Để đánh giá cảm quan các thành phần tạo mùi hương chúng tôi sử dụng phép

thử cho điểm. Phép thử này thường dùng để xác định xem mức độ khác nhau về một

tích chất cảm quan nào đó giữa nhiều mẫu là bao nhiêu. Trong nghiên cứu này, phép

thử được dùng để xác định xem nhóm thành phần tạo hương có mùi thơm giống mùi

của tinh dầu trầm hương hay không.

Trước tiên người thử sẽ được làm quen để xác định mùi hương của mẫu. Giai

đoạn tiếp theo người thử sẽ nhận được đồng thời tất cả các mẫu cần đánh giá. Những

người này thường là các chuyên gia cảm quan, đã có thời gian dài được huấn luyện và

làm việc trong lĩnh vực này. Sau khi ngửi thử, người thử sẽ đánh giá cường độ của tính

chất cảm quan của mỗi mẫu thông qua một điểm số tương ứng với một thuật ngữ mơ tả

cường độ của tính chất ấy đã được quy định sẵn. Thang điểm thường dùng trong phép

thử này là thang 6 điểm. Thang điểm hay thuật ngữ mô tả là do người điều hành thí

nghiệm lựa chọn, tuy nhiên cần tránh những thuật ngữ không rõ nghĩa [4].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 TINH DẦU TRẦM HƯƠNG (AGARWOOD OIL)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×