Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 GIỚI THIỆU VỀ CÂY DÓ BẦU

1 GIỚI THIỆU VỀ CÂY DÓ BẦU

Tải bản đầy đủ - 0trang

2



Hạt có hai phần, phần chính ở phía trên dạng hình nón và phần kéo dài ở phía

dưới. Hạt khi chín có màu nâu, phần vỏ ngồi cùng hóa gỗ cứng, bên trong mềm có

chứa nhiều dầu.



a) Lá



b) Hoa



c) Quả

d) Hạt

Hình 1.2 Các bộ phận chính của cây dó bầu.

Cây dó bầu sau khi trồng khoảng 4-5 năm tuổi thì bắt đầu ra hoa kết trái. Tùy

vào điều kiện thời tiết ở mỗi vùng mà thời gian này có sự khác nhau. Cây thường ra

hoa và kết trái từ tháng 4 đến tháng 7 [1].



3



1.1.3 Phân bố

Trong tự nhiên cây dó bầu phân bố khắp các nước Châu Á từ Trung Đông, Nam

Á, Trung Quốc cho đến các nước Đông Nam Á.

Ở Việt Nam, cây dó bầu phân bố rải rác khắp các tỉnh vùng núi từ Hà Giang,

Quảng Ninh, Hồ Bình, Tun Quang, Thanh Hóa, Nghệ An đến Tây Ninh, An Giang

và Kiên Giang (đảo Phú Quốc). Tập trung nhiều nhất là ở các tỉnh mền trung và tây

nguyên như Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Gia Lai, Kon Tum, Bình Ðịnh, Phú

n, Khánh Hòa [1].

1.1.4 Phân loại

Trên thế giới có tổng cộng khoảng 25 lồi dó bầu. Ở nước ta, hiện đã phát hiện

tất cả 6 loài: Aquilaria crassna, Aquilaria baillonii, Aquilaria banaense, Aquilaria

malaccensis, Aquilaria sinensis và Aquilaria rugosa [2], [9], [19]. Trong đó, lồi

Aquilaria rugosa được phát hiện vào năm 2005 bởi GS.TS Lê Công Kiệt (Việt Nam)

và TS. Paul Kessler (Hà Lan), đây được xem là loài thứ 6 ở Việt Nam và thứ 25 trên

thế giới [16].

1.1.5 Đặc tính sinh học

Cây dó bầu có khả năng hình thành một loại sản phẩm đặc biệt gọi là trầm

hương. Tuy nhiên, khơng phải bất kỳ cây dó bầu nào cũng có trầm hương. Chỉ có một

số cây nhiễm bệnh mới chứa trầm ở phần lõi của thân cây và quá trình này chỉ xảy ra

đối với cây dó bầu còn sống. Thường tìm thấy ở những cây dó bầu bị bệnh sau thời

gian từ 10 ÷ 20 năm.

Sự tạo thành trầm hương là kết quả của sự biến đổi các phần tử gỗ do q trình

chuyển hóa các bệnh lý ở những nơi cây bị bệnh, bị thương hoặc bị tác động bởi những

yếu tố bên ngoài tạo nên vết thương xảy ra một cách tự nhiên từ năm này sang năm



4



khác. Ngày nay, người ta còn sử dụng các loài vi sinh để tạo nên các vết thương cho

cây nhằm tăng khả năng hình thành trầm hương.



Hình 1.3 Sự tạo thành trầm hương của lồi Aquilaria crassna bị nhiễm bệnh.

Tùy thuộc vào sự biến đổi các phần tử gỗ mà có thể thu được những sản phẩm

khác nhau như:

Tóc: do sự biến đổi một phần chất gỗ bên ngồi hình thành những đường đen

như sợi tóc nhưng lượng tinh dầu rất ít nên thường được dùng làm nhang đốt.

Trầm hương: do sự biến đổi khơng hồn tồn của phần tử gỗ. Gỗ trầm hương

nhẹ, có vị cay, hơi đắng, mùi thơm nhẹ, có màu nâu hay sọc đen, ngấm tinh dầu trầm

hương nhiều hơn tóc. Trầm hương càng tốt khi nó càng dễ chìm trong nước. Khi đốt

cháy trầm hương bốc khói lên hình vòng rồi tan biến nhanh trong khơng khí. Dùng để

chưng cất tinh dầu.

Kỳ nam: là loại tốt nhất do có sự biến đổi hoàn toàn của phần tử gỗ, thấm

nhiều tinh dầu trầm hương, sản phẩm này có các màu nâu đậm, đen hoặc xanh. Kỳ nam

nặng và chìm trong nước, có đủ vị đắng, cay, chua, ngọt thơm, thường hình thành ở

phần lõi của cây. Kỳ nam chứa nhiều tinh dầu trầm hương nên khi cháy tạo ngọn lửa

màu xanh, khói lên thẳng và cao, bay lơ lửng trong khơng khí rất lâu [2].



5



1.2 TINH DẦU TRẦM HƯƠNG (AGARWOOD OIL)

1.2.1 Một số cơng trình nghiên cứu về tinh dầu trầm hương Aquilaria

crassna

1.2.1.1) Nghiên cứu về thành phần hóa học của tinh dầu trầm hương

Thành phần hóa học của tinh dầu trầm hương đã được nhóm các nhà khoa học

như nhóm M. Ishihara, nhóm N. Thavanapong, nhóm Regula Naef, nhóm Nurlaila

Ismail ... quan tâm và có nhiều cơng trình nghiên cứu. Hầu hết họ đồng ý rằng các

thành phần sesquiterpens và dẫn xuất chromone là các hợp chất chính trong tinh dầu

trầm hương [5], [14], [15], [21], [22].

Năm 2009, N. Thavanapong và đồng nghiệp đã nghiên cứu thành phần hóa học

của tinh dầu trầm hương Aquilaria crassna từ phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi

nước và chiết xuất CO2 siêu tới hạn. Thành phần hóa học thu được từ hai phương pháp

là tương đối giống nhau nhưng thành phần định lượng của chúng thì khác nhau. Tinh

dầu thu được bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước gồm 8 thành phần chính:

γ-selinene, γ-10-epi-eudesmol, selina-3,11-dien-9-one, tetradecanal, γ-eudesmol,

epoxybulnesene, valerianol và selina-3,11-dien-14-al .Trong khi đó tinh dầu thu được

từ chiết xuất CO2 siêu tới hạn gồm 8 thành phần chính là selina-4,11- dien-14-al, axit

octadecanoic, campesterol, oxo-agarospirol, γ-sitosterol, hexadecanol, valerianol,

selina-3,11-dien-9-one và selina-3,11-dien-14-al [22].

Năm 2010, Nhóm các nhà khoa học dẫn đầu bởi Regula Naef đã phân tích các

thành phần dễ bay hơi của gỗ trầm hương ở một số lồi Aquilaria, trong đó có A.

crassna. Chỉ ra một số nhóm hợp chất phổ biến bao gồm: agarofurans, cadinanes,

eudesmanes, valencanes và eremophilanes, guaianes, prezizanes, vetispiranes, 2-(2phenylethyl)-chromones, tetrahydro-2-(2-phenylethyl)-chomones, diepoxytetrahydro2-(2-phenylethyl)-chromones [19].



6



Năm 2011, P. Pripdeevech, W. Khummueng, and Seung-Kook Park đã nghiên

cứu xác định các thành phần dễ bay hơi từ ba loại tinh dầu trầm hương (A. malaccensis

, A. subintegra và A. crassna) đánh giá theo phương pháp sắc ký khí khối phổ (GCMS) và sắc độ khí-phép đo độ nhạy khứu giác (GC-O). Họ đã tìm thấy tổng cộng có 31

thành phần. Một tập hợp gồm 18 trong số 31 thành phần được xác định từ tinh dầu của

A. malaccensis với thành phần chính là isoamyl dodecanoate, guaia-1(10), 11-dien-15ol, karanone, cyclocolorenone và jinkoh-eremol. Tinh dầu A.subintegra mang lại 28

hợp chất được xác định với các thành phần phong phú nhất là isoamyl dodecanoate,

kusunol, jinkoh-eremol, epoxybulnesene và agarofuran, Trong khi 30 hợp chất dễ bay

hơi từ A. crassna đã được xác định với isoamyl dodecanoate, agarofuran, kusunol,

dehydrojinkoh-eremol và 9,11-eremophiladien-8-one là các thành phần chính. Thành

phần mùi đặc trưng được xác định bằng cách sử dụng kỹ thuật GC-O. Các thành phần

chính chịu trách nhiệm cho hương thơm bao gồm -agarofuran, 4-phenyl-2-butanone,

furfural và benzaldehyde. Đặc tính hương thơm của các chất bay hơi cũng được liệt kê:

-agarofuran đặc trưng mùi gỗ, là thành phần hoạt động hương thơm mãnh liệt nhất

của tinh dầu trầm hương. 4-phenyl-2-butanone có khả năng chịu trách nhiệm về các

mùi hương chính của hoa nhài, thảo dược và trái cây. Trong khi furfural và

benzaldehyde chịu trách nhiệm về các mùi hạnh nhân, trái cây [21].

Năm 2011, Jutarut Pornpunyapat, Pakamas Chetpattananondh, Chakrit và các

đồng nghiệp đã phân tích thành phần hóa học của tinh dầu trầm hương A. crassna

chưng cất lần lượt ở nhiệt độ 80 0C, 1000C, 1200C bằng phương pháp GC-MS đã thu

được số lượng các hợp chất chính tương ứng 8, 13, 21 chất. Điều này chỉ ra rằng nhiệt

độ chưng cất ảnh hưởng đến các hợp chất hóa học của chiết xuất tinh dầu. Ở nhiệt độ

chưng cất cao hơn, các thành phần có điểm sơi cao hơn của tinh dầu có thể được chiết

xuất qua đó thu được số lượng hợp chất hóa học nhiều hơn. Tinh dầu trầm hương thu

được ở nhiệt độ cao có tính chất tốt hơn, màu đậm hơn, nặng hơn, độ bền của tinh dầu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 GIỚI THIỆU VỀ CÂY DÓ BẦU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×