Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Tổng quan về gốm sứ

1 Tổng quan về gốm sứ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



9



GVHD: ThS. La Vũ Thùy Linh

Nguyễn Thị Hằng



có thể tồn tại đến hàng nghìn năm , tính ổn định nhiệt và hóa học tốt. Sứ thường được

dùng để sản xuất đồ gia dụng, đồ mỹ nghệ.

Thuật ngữ về gồm sứ trong tiếng anh :

Ceramics: Gốm, đồ gốm, nghề sản xuất gốm.

Pottery: Đồ gốm, nghề sản xuất gốm, lò gốm.



Hình 1.1: Một vài sản phẩm gốm sứ cao cấp hiện nay

1.1.2 Phân loại gốm sứ

Ngày nay, từ đồ gốm đã thành tên gọi chung của năm loại chất liệu: gốm đất

nung, gốm sành nâu, gốm sành xốp, gốm sành trắng và đồ sứ, xuất hiện nối tiếp nhau

và cùng tồn tại.

Có thể phân biệt các loại gốm khác nhau đó như sau:

Gốm đất nung làm bằng đất sét thường, nung ở nhiệt độ 600°C – 900°C, màu đỏ

gạch, xốp, ngấm nước.

Gốm sành nâu làm bằng đất sét thường, nung ở nhiệt độ 1100°C – 1200°C;

xương đất chảy, có thấu quang.

Trong thực tế người ta còn có những tên gọi khác nhau theo thói quen địa

phương hoặc từng nước. Chẳng hạn, người ta gọi gốm sành trắng là sứ thô hoặc bán sứ,

sành mịn; gọi gốm sành xốp là đồ đàn. Riêng đồ sứ, khi người ta tìm ra nó ở loại sứ

hồn chỉnh tức là sứ trắng, đưa lên ánh sáng thấy được hình bóng ngón tay cầm từ phía



Khóa luận tốt nghiệp



10



GVHD: ThS. La Vũ Thùy Linh

Nguyễn Thị Hằng



trong lòng sản phẩm (gọi là thấu quang) thì người ta muốn tách sứ ra khỏi họ hàng nhà

gốm để đề cao nó trên thị trường.

Phân loại theo mặt hàng : dựa trên nguyên liệu chủ yếu để sản xuất ra sản phẩm

đó như gạch ngói , sành tràng thạch , sành đá vôi , sứ frit , sứ corundum …

Phân loại theo lĩnh vực sử dụng.

Gốm dân dụng



Gốm hóa học



Gốm làm dao tiện



Gốm mỹ nghệ

Gốm xây dựng



Đồ gốm



Gốm làm răng

Sứ cách điện



Gốm làm vật liệu

mài, đá mài



Gốm phủ kim loại

Gốm chịu lửa



Gốm dùng trong kỹ

thuật điện, vô tuyến



Gốm từ tính



Sứ tụ

Sứ áp điện

Gốm bán dẫn

điện

Hình 1.2: Phân loại gốm theo lĩnh vực sử dụng

1.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển gốm sứ

1.1.3.1 Gốm sứ ở thế giới

Thật khó xác định chính xác khi nào vật dụng bằng gốm đầu tiên ra đời trên thế

giới. Có lẽ cách đây khoảng 10.000 năm, sau khi phát minh ra lửa, con người lần đầu

tiên biết rằng đất sét dưới tác dụng sức nóng của lửa sẽ đổi màu và kết khối lại, có thể

dùng nó để tạo nên những vật dụng đơn giản trong sinh hoạt hằng ngày để đựng nước

uống hay lương thực, thực phẩm.

Có số khác lại cho rằng nghề gốm bắt đầu tại vùng Trung Đông và Ai Cập

khoảng 4500 - 4000 năm TCN.Vì khoảng 4000 - 3000 năm TCN ở vùng này đã hình

thành một số trung tâm gốm, cũng trong thời gian này phát minh bàn xoay đã ra đời.



Khóa luận tốt nghiệp



11



GVHD: ThS. La Vũ Thùy Linh

Nguyễn Thị Hằng



Việc phát minh ra thủy tinh khoảng 2000 - 1000 năm TCN là một bước tiến lớn,

tạo điều kiện để phát minh ra men gốm, trong đó nổi tiếng nhất là hỗn hợp Ai Cập

( hỗn hợp của đất sét, cát và tro gỗ ) đóng vai trò chất trợ dung và dùng các oxit đồng

hay mangan để tạo màu. Sau khi nung nó làm cho bề mặt gốm có một lớp nhẵn bóng

và có màu.

Thời Trung Cổ ở Châu Âu đã có những trung tâm rất lớn sản xuất đồ gốm như

Faenza ở Ý (từ đó dó danh từ faience hay còn gọi là sành), hay Mallorca là một hòn

đảo ở Địa Trung Hải (từ đó có tên mặt hàng majolica, cũng có nghĩa là sành. Loại sành

này xương có màu, xốp, được tráng men đục và trang trí nhiều màu sắc).

Vào những năm 600 TCN nước Trung Hoa cổ đã sản xuất được đồ sứ. Đến thế

kỷ IX (đời Đường) nghề sứ Trung Quốc đã rất phát triển. Đến thế kỷ XVI đời nhà

Thanh thì bước vào thời kỳ cực thịnh.

Việc sản xuất vật liệu gốm ở các vùng trên trái đất phát triển khác nhau tuỳ theo

từng địa phương, phụ thuộc rất lớn vào chất lượng nguồn nguyên liệu tại chỗ và sự

hoàn thiện các công đoạn chế tác và nung luyện.

1.1.3.2 Gốm sứ ở nước ta

Việt Nam là một trong những nơi gốm xuất hiện sớm. Theo các tài liệu khảo cổ,

cách đây một vạn năm, ở Việt Nam đã ra đời loại gốm đất nung.

Vào thời kỳ này, gốm sứ Việt Nam vẫn còn thơ sơ, các sản phẩm gốm được nặn

bằng tay, nguyên liệu đất pha cát hoặc pha tạp chất. Hoa văn đơn giản được vẽ bằng

các vật nhọn với các vạch chéo, rang cưa… được vẽ khi sản phẩm còn ướt. Sản phẩm

được nung ngồi trời được tạo nên bằng bàn tay người phụ nữ với các sản phẩm như:

đun nấu, sản phẩm để đựng…



Khóa luận tốt nghiệp



12



GVHD: ThS. La Vũ Thùy Linh

Nguyễn Thị Hằng



Hình 1.3: Đồ Gốm thời tiền sử

Ở Việt Nam, ông cha ta đã sản xuất được đồ gốm từ thời thượng cổ, cách đây

4500 năm. Vào thời đầu các vua Hùng chúng ta đã có gốm Phùng Ngun, gò Mun

(Vĩnh Phú) nung ở nhiệt độ 800 – 9000C, xương gốm bắt đầu được tinh luyện.

Từ thế kỷ 11 chúng ta đã sản xuất được gốm men Đại Việt nổi tiếng với các

trung tâm Hà Bắc, Thanh Hóa, Thăng Long, Đà Nẵng. Từ thời Trần có gốm Thiên

Trường (Hà Nam Ninh) với sản phẩm bát đĩa, bình lọ phủ men ngọc, men nâu.

Suốt bốn thế kỷ từ nhà Lý (Thế kỷ XI-XII) sang nhà Trần (Thế kỷ XIII-XIV),

đồ gốm đạt được những thành tựu mới rực rỡ, sản xuất hàng loạt gốm sành xốp và gốm

sành trắng một cách thành thục, với kỹ thuật và nghệ thuật cao; sử dụng rộng rãi đất sét

trắng và cao lanh trắng để làm xương và men, tạo nên những loại gốm mới, bền để sản

xuất các loại đồ đựng và đồ gốm kiến trúc; Các loại men màu như men tráng ngà, men

ngọc, men nâu được ổn định về mặt cơng nghệ, do đó có thể sản xuất hàng loạt, và đặc

biệt loại men trắng cũng đã xuất hiện.

Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, nghệ thuật gốm Việt Nam đã bước vào giai đoạn

tổng hợp được ba yếu tố cơ bản tạo nên vẻ đẹp của đồ gốm: là hình dáng, hoa văn trang

trí, men màu. Những yếu tố trên, cộng với sự phát triển của kỹ thuật và trình độ thẩm

mỹ cao, đã khiến cho người thời Lý-Trần sáng tạo nên ba loại gốm nổi tiếng: gốm men

trắng ngà chạm đắp nổi, gốm hoa nâu, gốm men ngọc.



Khóa luận tốt nghiệp



13



GVHD: ThS. La Vũ Thùy Linh

Nguyễn Thị Hằng



Người ta thường nhắc đến ba nơi làm gốm nổi tiếng từ đó đến nay: Bát Tràng,

Thổ Hà và Phù Lãng. Truyền thuyết xưa nói rằng ba làng này do ba người có nghề gốm

giỏi đã chọn ngày tốt lập dàn ở bên sông Hồng làm lễ truyền nghề cho dân làng.

Làng Bát Tràng chuyên làm các hàng sắc trắng (gốm sành trắng); Làng Thổ Hà

chuyên làm các loại sắc đỏ (gốm sành nâu); Làng Phù Lãng chuyên làm các loại sắc

vàng thẫm (gốm sành nâu có men da lươn).

Các làng gốm lớn đều được dựng ở vùng ven sông để thuận tiện cho việc vận

chuyển, sử dụng nguyên vật liệu (đất, than, củi) và thuận tiện cho việc chuyên chở

thành phẩm đi các địa phương. Ngoài ra tìm thấy rất nhiều mảnh gốm vỡ trên khu vực

thương cảng cổ Vân Đồng.

Trước năm 1975, các sản phẩm gốm sứ xây dựng và kỹ thuật nước ta có một số

nhà máy như Nhà máy sứ vệ sinh Thiên Thanh, nhà máy gạch men Thanh Thanh, nhà

máy sứ Hải Dương, nhà máy đá mài Đồng Nai, cùng nhiều cơ sở sản xuất gạch ngói

xây dựng phân khắp nơi trên cả nước.



Khóa luận tốt nghiệp



14



GVHD: ThS. La Vũ Thùy Linh

Nguyễn Thị Hằng



Hình 1.4: Một số sản phẩm gốm sứ cổ Việt Nam

Hiện nay , sản phẩm gốm sứ Việt Nam đã có mặt tại 23 quốc gia trên thế giới,

trong đó Nhật Bản là thị trường chủ lực, chiếm 20% tổng kim ngạch, đạt 52,6 triệu

USD đứng thứ hai là thị trường Đài Loan với 38,2 triệu USD, kế đến là Mỹ đạt 34,9

triệu USD. ( nguồn..)

Ngồi ba thị trường chính kể trên, sản phẩm gốm sứ còn có mặt tại các quốc gia

khác nữa như: Hàn Quốc, Trung Quốc (Đại lục), Đan Mạch, Singapore, Thụy Điển…

Việt Nam là quốc gia có tiềm năng phát triển ngành gốm sứ và thủ cơng mỹ

nghệ, bởi lẽ có nhiều làng nghề gốm sứ cổ truyền, sản phẩm khác biệt và kỹ thuật chế

tác tinh xảo.

1.2 Tổng quan về trang trí gốm sứ

1.2.1 Men sứ

Men là một lớp thuỷ tinh có chiều dày từ 0,15 đến 0,4 mm phủ bên trên bề mặt

xương gốm sứ. Lớp thuỷ tinh này được hình thành trong quá trình nung và có tác dụng

làm cho bề mặt sản phẩm trở nên sít đặc, nhẵn , bóng. Khi xương và men phù hợp với

nhau sẽ cải thiện tất cả các tính chất của sản phẩm như độ bền hố , bền cơ , bền nhiệt

và bền điện. Nhiệt độ chảy của nó được chọn phụ thuộc vào nhiệt độ kết khối của

xương gốm sứ nhưng thông thường sẽ dao động trong khoảng 900-14000C.



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. La Vũ Thùy Linh

Nguyễn Thị Hằng



15



So với thuỷ tinh thơng thường thì men có những tính chất khác như khơng đồng

nhất, lớp trên khi nung phản ứng với mơi trường của lò nung, lớp dưới thì phản ứng với

xương, trong lớp men có những chất khơng tan hay kết tinh.

Người ta tráng thêm lớp men với mục đích để :

- Tăng sự trơn láng , sản phẩm không bị hút nước trên bề mặt để dễ dàng vệ sinh

sản phẩm

- Cho phép sản xuất phong phú màu sắc cho sản phẩm mà bản thân xương

khơng làm được

- Men còn được sử dụng như một lớp bảo vệ cho việc trang trí màu dứơi men

dẫn đến độ bền hơn hàng trăm năm.

Bảng 1.1 : Những oxýt thông dụng thường dùng cho men [2]

Những oxyt



Những oxyt



Những



cơ bản

Na2O

K2O

CaO

MgO

ZnO

BaO

PbO



trung tính



oxyt axit

SiO2

B2O3

SnO2



Al2O3



1.2.2 Sự tạo màu của men

Sự phát màu của men là do khả năng hấp phụ và phản xạ ánh sáng của men

trong vùng khả kiến, nếu men phản xạ tồn phần thì màu của men là trắng, nếu men

hấp phụ tồn phần ánh sáng thì có màu đen, trường hợp chỉ hấp phụ một số tia còn lại

phản xạ một số tia khác thì màu của men ứng với các bước sóng khơng bị hấp phụ

phản xạ trở lại trong vùng khả kiến. Cơ chế và các yếu tố ảnh hưởng của sự phát màu

rất phức tạp.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Tổng quan về gốm sứ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×