Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Mô tả về chi Trôm (Sterculia)

1 Mô tả về chi Trôm (Sterculia)

Tải bản đầy đủ - 0trang

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP



GVHD: PGS.TS MAI ĐÌNH TRỊ



Trang 3



đường nứt bụng; hạt 1 hay hơn, thường là 4-5 hình trứng, ít khi có các phơi nhũ nạc dính

với lá mầm mơng.”[8]

1.1.3 Đặc điểm thực vật về một số lồi Trơm (Sterculia)

1.1.3.1 Cây Sterculia colorata

“Cây cao 20m, lá rụng vào mùa khô; nhánh non, không lông. Phiến đa dạng, gân từ

đáy 3-7, không thùy đến năm thùy, không lông, cuống dài 7-18 cm, lá bẹ 1cm. Chùm tụ

tán hẹp, ở nhánh chưa lá, có lơng màu đỏ chói; có lơng mặt ngồi, dài cao 2cm; hung đài

khơng lơng. Manh nang mỏng, dài 10cm, không lông; hột 1-2.” [3]

Phân bố:

Thế giới: Thái Lan, Campuchia, Philippin...

Việt Nam: Ninh Thuận, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai.

[3]



Cây



1.1.3.2

Hình 1-1: Thân, lá và hoa Sterculia colorata

Sterculia lychnophora



“Cây lớn lên đến độ cao 25-30 mét hoặc hơn, nhiều sợi, vỏ dày, cành non có cạnh

và có lơng màu hung. Lá to và dày, mọc so le tập trung ở đầu cành, xẻ 5 thùy ở cây con,

đơn nguyên khi trưởng thành, rộng 7-22cm, dài 15-40cm. Hoa nhỏ mọc thành chùy ở đầu

cành trước khi cây ra lá, khi chín màu đỏ, tự tách ra để phát tán học đi xa.

Hạt hình bầu dục hoặc thuôn, rộng 1,2 cm – 2,5cm, dài 2,5cm – 3,5 cm, màu đỏ

nhạt, vỏ hạt nhăn nheo, dính ở gốc quả.”

Phân bố: Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Lào, Campuchia, Indonesia, Trung Quốc.



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP



GVHD: PGS.TS MAI ĐÌNH TRỊ



Trang 4



Hình 1-2: Thân và quả Sterculia lychnophora

1.1.3.3 Cây Sterculia striata

“Cây gỗ to, thân cây trơn láng, cao 8-15m, có đường kính đường kính 40cm, vỏ

cây màu đen có. Lá hình chân vịt có 5 thùy, trong đó có hai thùy dưới chồng lên nhau.

Quả màu đỏ, mọc thành chùm, khi chính quả tự tách ra.

Phân bố: Paraguay, Nam Mỹ - Argentina, miền trung, đơng và bắc Brazil,

Bolivia.”[10]

1.1.3.4

Cây



Hình 1-3: Thân, lá và quả Sterculia striata

Sterculia villosa

“Cây trung bình, rụng lá có vỏ trắng; chi nhánh ít. Lá 30-45.5cm mỗi chiều, diềm

cơ, lõm sâu 5-7 lát, sọc lót phía trên, thùy sáng, 3 ngón; cánh hoa với lá. Hạt 30-35cm, có

nhiều nhánh, rải rác, rậm rạp. Hoa nhỏ, hoa đực nhiều hơn hoa cái. Bạt 3.75-5cm, lan

rộng, thuôn, rậm rạp. Trái cây dài 4-8cm, cong, xanh lá cây khi tươi và đỏ khi chín...”

Phân bố: Bangladesh, Ấn độ.



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP



GVHD: PGS.TS MAI ĐÌNH TRỊ



Trang 5



Hình 1-4: Lá, quả và hoa Sterculia villosa

1.2 Mô tả về cây Trôm (Sterculia foetida L.)

1.2.1 Giới thiệu chung













Tên khoa học: Sterculia foetida Linn.

Bộ: Trơm (Malvales).

Họ: Sterculiaceae.

Chi: Sterculia (chi Trơm).

Lồi: Sterculia foetida Linn.

1.2.2 Mơ tả thực vật về cây Trôm (Sterculia foetida L.)



“Cây gỗ lớn, rụng lá hàng năm, thân hình trụ thẳng, vỏ xám nhạt, nứt nhẹ, cao 2530 m, đường kính 60-80 cm. Cành mập, thơ, có nhiều sẹo lá hình tim. Lá kép chân vịt, có

cuống dài, mọc so le; lá chét 5-9, mặt trên nhạt, mặt dưới màu lục xám, hình mác, lá kèm

dễ rụng. Cụm hoa mọc ở ngọn, gồm những chùm hẹp, nhẵn, thường xuất hiện cùng lá

non, dài 15-20 cm, hoa tạp tính, màu đỏ có mùi rất thối, nên còn có tên là trơm thối; đài

hình ống, mặt trong đỏ có lơng; khơng có cánh hoa; hoa đực có cuống, bộ nhị mở thành

dạng chén ở đầu, bao phấn 15-20, hoa cái có bầu hình cầu họp bởi 5 lá nỗn, mỗi lá nỗn

có 8-15 nỗn. Quả gồm 1-5 đại chỗi ra, màu đỏ tím, có lơng, vỏ quả rất dày, khi mở

giống cái mõ, hạt 10-15, màu đen nhẵn. Trôm rụng lá vào tháng ba. Mùa hoa tháng 2-3,

mùa quả tháng 5-9.”t[3]



Hình 1-5: Thân, lá, quả và hoa Trơm



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP



GVHD: PGS.TS MAI ĐÌNH TRỊ



Trang 6



Hình 1-6: Hạt, mủ Trôm tươi và mủ Trôm khô



1.2.3 Phân bố

“Việt Nam: Trôm phân bố tự nhiên tại các tỉnh Tây Nguyên như: Kon Tum, Gia

Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng và các tỉnh miền duyên hải Nam Trung Bộ: Khánh Hòa, Bình

Thuận, Ninh Thuận. Ở Ninh Thuận, Trơm phân bố nhiều nơi, nhưng đặc biệt nhiều ở

vùng rừng ven biển thuộc xã Phước Dinh, huyện Ninh Phước. Trôm cũng đã được trồng ở

nhiều thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Bn Mê Thuột để

làm cây cảnh và cây bóng mát trong các cơng viên, đường phố.

Thế giới: Trôm phân bố ở các nước thuộc châu Âu, Châu Phi và châu Á như: Úc,

Ấn Độ , Bangladesh, Indonesia, Kenya, Pakistan, Sri Lanka, Myanmar, Malaysia, Thái

Lan , Philippines, Somalia, Tanzania, Lào, Campuchia, Philippin,Trung Quốc,...” [3].

1.2.4 Công dụng

“Trên cây Trôm nhựa mủ, vỏ cây, lá, hạt và gỗ là các thành phần được con người

sử dụng với nhiều mục đích khác nhau.

Theo y học cổ truyền, mủ Trơm được xem là thuốc nhuận tràng, dùng điều trị

chứng táo bón. Mủ Trơm còn có tác dụng điều hòa đường huyết, ổn định huyết áp, mát

gan giải độc, giúp mau lành vết thương, hỗ trợ điều trị xơ gan, kiết lị và mụn nhọt. Chính

vì thế ở Việt Nam mủ Trôm đã trở thành một loại nước giải khát được ưa chuộng trong đó

hai địa phương nổi tiếng với sản phẩm này là huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận và Phan

Rang, tỉnh Ninh Thuận. Ngồi ra trên thế giới còn sử dụng mủ Trôm làm polime quan

trọng trong phẫu thuật thẩm mĩ mắt [4].



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP



GVHD: PGS.TS MAI ĐÌNH TRỊ



Trang 7



Hạt Trơm có thành phần chứa nhiều protein và chất béo được sử dụng làm dầu ăn

hoặc dầu thắp sáng. Những chiết xuất từ hạt Trôm được dùng làm nguyên liệu tổng hợp

nên các phân tử nano Ag được dùng làm thuốc chống muỗi vectơ và kháng tế bào ung thư

HeLa ở Ấn Độ [5].

Vỏ thân và lá non cây Trôm được dùng chữa thấp khớp. Nước sắc lá để chữa vết

thương đã mưng mủ. Chiết xuất từ lá Trôm được sử dụng làm chất kháng khuẩn, kháng

nấm và kháng sinh ở Philippin [6]. Ở Nhật Bản, Ấn Độ tinh dầu chiết xuất từ lá và hạt cây

Trôm được sử dụng làm nguyên liệu tổng hợp sản phẩm chăm sóc da [7].

Nghiên cứu của một nhóm các nhà hóa học ở Trung Quốc cũng đã chứng minh lá

cây Trôm chứa thành phần flavonoid glycoside và phenylpropanoid glucose ester có tác

động đến thần kinh trung ương, điều trị chứng khó ngủ, mất ngủ [8]. Lá cây Trơm còn

được chứng minh chứa thành phần có tác dụng giảm đường huyết, kháng lậu và kháng

viêm gan bởi một nhóm các nhà hóa học Ấn Độ [9].

Ở Việt Nam, lá Trôm được người dân sắc nước rửa những chỗ phát ban, lỡ loét,

các bệnh về da, những bệnh về tóc và da đầu, bong gân, vết đứt, các vết cắn, và các vết

thương khác [10].

Tuy nhiên chưa có cơng trình nghiên cứu khoa học nào về thành phần hóa học các

hợp chất trong lá Trơm cũng như dược tính của chúng. Vì thế việc nghiên cứu thêm là rất

cần thiết, nhằm làm sáng tỏ vai trò trong việc chữa bệnh mà dân gian đang sử dụng, góp

phần củng cố và phát triển bài thuốc y học cố truyền từ lá Trôm một cách thuyết phục

nhất.”

1.3 Thành phần hóa học

1.3.1 Cây Trơm (Sterculia foetida Linn)

1.3.1.1 Vỏ cây Trôm

“Năm 1981, Anjaneyulu A.S.R. và cộng sự [11] đã cô lập từ vỏ cây Sterculia

foetida L. thu mẫu ở New Delhi, Ấn Độ 9 hợp chất, trong đó gồm 2 dẫn xuất của

quercetin có dược tính kháng oxi hóa và trị nấm [21] là quercetin 3,7,3’,4’-tetramethyl

ether (1) và quercetin 5,7,3’,4’-tetramethyl ether (2), 2 hợp chất steroid là β-sitosterol (3),

β-sitosterol-3-O-β-D-glucopyranoside (4), 3 hợp chất triterpene là taraxerol (5), lupeol

(6), lupenone (7), 2 hợp chất ancohol gồm n-octacosanol (8) và n-hexacosanol (9).”



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP



GVHD: PGS.TS MAI ĐÌNH TRỊ



Trang 8



Quercetin 3,7,3’,4’-tetramethyl ether (1)



β-Sitosterol (3)



Taraxerol (5)



Quercetin 5,7,3’,4’-tetramethyl ether (2)



β-Sitosterol-3-O-β-D-glucopyranoside (4)



Lupeol (6)



Lupenone (7)



HO-(CH2)28-CH3



n-Octacosanol (8)



HO-(CH2)26-CH3



n-Hexacosanol (9)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Mô tả về chi Trôm (Sterculia)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×