Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu

II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mơ hình VNEN



thức đã học rèn luyện kĩ năng) và hoạt động ứng dụng (giúp học sinh vận dụng

kiến thức đã học vào thực tế cùng với sự giúp đỡ của cha mẹ và người lớn).

Trong q trình giảng dạy, tơi nhận thấy việc áp dụng mơ hình VNEN

đem lại một số thuận lợi nhất định trong việc giúp học sinh rèn kĩ năng sử dụng

quan hệ từ, như sau:

- Mỗi bài học trong sách hướng dẫn học Tiếng Việt đều có phần mục tiêu

rõ ràng để học sinh xác định được mình nắm được bao nhiêu phần kiến thức; có

kênh hình, kênh chữ rõ ràng. Mỗi hoạt động đều có logo để học sinh tự giác biết

mình phải làm gì.

- Học tập theo mơ hình VNEN, học sinh phát huy được tính tự học, tự

giác, tự quản, sáng tạo, sự tự tin và hứng thú trong học tập.

- Với phương pháp dạy học mới này các em phát triển được kĩ năng hợp

tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự đánh giá lẫn nhau trong giờ học.

* Từ Nhà trường

- Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, được sự giúp đỡ của

lãnh đạo nhà trường lớp học đầy đủ đồ dùng dạy học, phòng học khang trang

rộng rãi, số lượng học sinh trên mỗi lớp đảm bảo phù hợp với điều kiện dạy mơ

hình mới.

- Nhà trường thường xun tổ chức chuyên đề, tập huấn rút kinh nghiệm

theo mô hình mới.

* Từ giáo viên

- Giáo viên giảng dạy một cách nhiệt tình, tận tâm, ln cố gắng tìm tòi,

sáng tạo những phương pháp giảng dạy sao cho học sinh có thể tiếp thu bài một

cách hiệu quả nhất.

- Ln học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp.

* Từ phụ huynh học sinh

- Đa số phụ huynh đều quan tâm đến việc học của con em mình, ln

động viên, nhắc nhở con em trong việc học.

- Thường xuyên trao đổi với giáo viên về các vấn đề liên quan đến việc

học cũng tâm lí của học sinh.

Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng



6



Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mơ hình VNEN



- Tạo điều kiện cho giáo viên hiểu học sinh hơn và đồng thời tạo ra mối

liên hệ giữa phụ huynh với giáo viên và Nhà trường.

2. Khó khăn

* Từ mơ hình VNEN

- Mơ hình VNEN đòi hỏi học sinh phải có khả năng giao tiếp tốt, tuy

nhiên học sinh của chúng tôi là học sinh nông thôn, các em ít có cơ hội tiếp xúc

bên ngồi nên kĩ năng giao tiếp của các em còn hạn chế.

- Mơ hình này đòi hỏi các em phải tự tìm tòi, khám phá kiến thức nhưng

khả năng phân tích của các em còn hạn chế nên một số em có dấu hiệu “theo

không kịp” dẫn đến chán nản hoặc lười làm việc.

* Từ giáo viên

- Giáo viên tiếp xúc với chương trình VNEN lớp 5 chưa nhiều nên còn

gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ trong q trình giảng dạy.

- Giáo viên còn thiếu kinh nghiệm trong dạy học mơ hình mới.

* Từ học sinh

- Ở lứa tuổi này, tâm lí của học sinh vẫn còn ham chơi, ít tập trung nên

khó khăn trong việc học thuộc các quan hệ từ và vận dụng một cách linh hoạt

các quan hệ từ vào những trường hợp cụ thể. Đôi khi các em học thuộc nhưng

lại rất mau quên.

- Việc học ngồi theo nhóm cả buổi học tạo điều kiện cho một bộ phận học

sinh nói chuyện riêng.

- Làm việc dưới sự điều khiển của nhóm trưởng khiến một số em ỷ lại vào

nhóm trưởng không tập trung học.

* Từ phụ huynh

- Một số phụ huynh có hồn cảnh gia đình khó khăn, phải đi làm ăn xa

nên ít có thời gian quan tâm đến việc học của con em dẫn đến tình trạng giao

hẳn việc học của con mình cho giáo viên.

- Sự tiếp cận của phụ huynh đối với mơ hình mới còn nhiều hạn chế nên

việc giúp đỡ con em khi ở nhà còn gặp khó khăn.

3. Ngun nhân

Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng



7



Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN



Qua quá trình tìm hiểu cũng như trong thực tế giảng dạy, tơi nhận thấy

việc học sinh gặp khó khăn trong việc sử dụng quan hệ từ là do những nguyên

nhân sau:

* Nguyên nhân khách quan

- Trong chương trình Tiểu học thì đến lớp 5 học sinh mới được làm quen

với quan hệ từ . Phân phối chương trình cho phần này rất ít mà yêu cầu học sinh

nắm được nhiều quan hệ từ và cặp quan hệ từ cũng như sử dụng chúng một cách

linh hoạt thì tương đối khó khăn đối với các em.

- Học sinh Tiểu học thì có đặc điểm nhanh nhớ nhưng cũng rất mau quên.

Các bài tập được phân bố không tập trung, xen lẫn nhiều nội dung trong một tiết

học dễ khiến học sinh nhầm lẫn nội dung này với nội dung kia.

- Một số học sinh có khả năng tiếp thu chưa tốt lại rơi những gia đình có

hồn cảnh khó khăn, phụ huynh ít có thời gian quan tâm đến việc học của con

nên giao hết việc học của con cho giáo viên.

- Trong thực tế giảng dạy cho thấy tình trạng học sinh tiếp thu kiến thức

còn thụ động, ít chịu khó suy nghĩ, tìm tòi cách học để nhớ lâu kiến thức.

- Học sinh chưa thuộc kỹ các quan hệ từ.

- Học sinh chưa thành thạo khi xác định mối quan hệ mà mỗi quan hệ từ

biểu thị.

- Học sinh nhầm lẫn mối quan hệ giữa quan hệ từ này với quan hệ từ

khác.

* Nguyên nhân chủ quan

- Một số học sinh có khả năng tiếp thu chậm, kĩ năng phân tích chưa tốt

nên khơng theo kịp các bạn dẫn đến chán và lười học.

- Tư duy của lứa tuổi Tiểu học chịu ảnh hưởng nhiều bởi trực quan sinh

động nhưng yếu tố quan hệ từ đòi hỏi các em phải nắm được thuộc tính bên

trong nó dẫn đến các em hay nhầm lẫn khi sử dụng.

- Khả năng tập trung ghi nhớ của học sinh chưa vững nên dễ nhớ nhưng

rất nhanh quên.



Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng



8



Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mơ hình VNEN



Với những thuận lợi và khó khăn nêu trên, bản thân tôi nhận thấy việc

giúp học sinh học thuộc các quan hệ từ và sử dụng chúng một cách linh hoạt,

phù hợp với hồn cảnh nhất định là vơ cùng quan trọng. Qua thời gian tìm tòi,

học hỏi và đúc rút kinh nghiệm, tơi đã tìm được một số giải pháp giúp giải quyết

vấn đề nêu trên.

III. Các giải pháp đã tiến hành

Qua nghiên cứu, tìm hiểu về nội dung chương trình Tiếng Việt lớp 5 cùng

với những khó khăn mà học sinh mắc phải. Qua kết quả khảo sát đầu năm cũng

như tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến việc học sinh sử dụng sai quan hệ từ và xác

định sai mối quan hệ mà quan hệ từ đó biểu thị, tôi đưa ra một số giải pháp

nhằm giải quyết khó khăn, giúp học sinh lớp 5 hạn chế việc nhầm lẫn trong xác

định quan hệ từ như sau:

- Giải pháp 1: Giúp học sinh rèn kĩ năng sử dụng quan hệ từ.

- Giải pháp 2: Giúp học sinh học tốt quan hệ từ thơng qua trò chơi

1. Giải pháp 1: Giúp học sinh rèn kĩ năng sử dụng quan hệ từ.

2.1 Hình thành khái niệm quan hệ từ

Muốn học sinh sử dụng quan hệ từ đúng thì việc giúp các em nắm chắc

khái niệm “quan hệ từ” là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.

Để thực hiện nhiệm vụ trên, khi hình thành kiến thức cho học sinh về

quan hệ từ ở hoạt động 2 bài 11C: Môi trường quanh ta, tơi cho học sinh phân

tích thật kĩ và cho biết từ in đậm dùng để làm gì trong các ví dụ sau:

Ví dụ:

Rừng say ngay và ấm nóng.

Ma Văn Kháng

Tiếng hót dìu dặt của Họa Mi giục các lồi chim dạo lên những khúc

nhạc tưng bừng, ca ngợi núi sông đang đổi mới.

Võ Quảng

Hoa mai trổ từng chùm thưa thớt, không đơm đặc như hoa đào. Nhưng

cành mai uyển chuyển hơn cành đào.

Theo Mùa xuân và phong tục Việt Nam

Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng



9



Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mơ hình VNEN



Bước 1: Tơi giao việc cho tất cả các cá nhân đọc, phân tích ví dụ và tìm

câu trả lời.

Bước 2: Cá nhân trao đổi với bạn bên cạnh về câu trả lời của mình.

Bước 3: Nhóm trưởng tổ chức cho các bạn thống nhất ý kiến trong nhóm

rồi báo cáo với giáo viên.

Bước 4: Giáo viên tổ chức cho học sinh chia sẻ câu trả lời của mình trước

lớp: Các từ in đậm dùng để nối các từ ngữ và biểu thị quan hệ giữa các từ ngữ

được nối.

Tôi yêu cầu học sinh thảo luận và cho biết các từ in đậm đó dùng để nối

các từ ngữ nào với nhau?

Sau khi thảo luận, tôi cho học sinh chia sẻ câu trả lời và chốt lại câu trả lời

đúng:

Từ và nối từ say ngay với từ ấm nóng

Từ của nối từ tiếng hót với từ Họa Mi

Từ như nối từ hoa mai với hoa đào

Từ nhưng: trường hợp này khác những trường hợp trước, tơi giúp học

sinh phân tích: từ nhưng đứng ở đầu một câu nên nó khơng nối các từ ngữ với

nhau mà nó nối nội dung của hai câu văn với nhau.

Từ những ví dụ trên, học sinh dễ dàng rút ra được khái niệm về quan hệ

từ.

2.2 Một số lỗi học sinh thường mắc phải

Muốn giải quyết được một vấn đề nào đó thì bắt buộc chúng ta phải tìm

hiểu được vấn đề phát sinh từ đâu, như vậy chúng ta mới có hướng giải quyết

đúng đắn và hiệu quả. Đối với vấn đề học sinh học tập chưa tốt phần quan hệ từ,

căn cứ vào các bài làm của học sinh, tôi thống kê được những lỗi thông thường

mà học sinh mắc phải như sau:

Thứ nhất: Lỗi dùng sai quan hệ từ hoặc cặp quan hệ từ.

Thứ hai: Lỗi dùng quan hệ từ khơng thích hợp về nghĩa.

Thứ ba: Lỗi dùng thừa quan hệ từ.

Thứ tư: Lỗi dùng thiếu quan hệ từ.

Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng



10



Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mơ hình VNEN



Thứ năm: Lỗi dùng sai quan hệ từ trong viết văn.

2.3 Cách khắc phục lỗi khi sử dụng quan hệ từ

a) Lỗi dùng sai quan hệ từ hoặc cặp quan hệ từ.



Hình 1 & 2: Bài làm của học sinh - mắc lỗi sử dụng sai quan hệ từ, cặp quan

hệ từ



Từ những ví dụ trên ta có thể thấy ngun nhân dẫn đến học sinh làm bài

sai là vì chưa thuộc quan hệ từ.

Học sinh muốn làm đúng các bài tập về quan hệ từ thì trước hết các em

cần phải thuộc tên các quan hệ từ và các cặp quan hệ từ.

Vì vậy, để giúp học sinh ghi nhớ các quan hệ từ một cách bền vững tôi

dành thời gian cho các cá nhân học thuộc tại lớp, đọc cho bạn bên cạnh nghe, thi

đọc thuộc trong nhóm, tổ chức cho các nhóm thi đọc thuộc các quan hệ từ và

nêu tên các mối quan hệ mà chúng biểu thị. Ngoài ra, tơi còn u cầu các em



Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng



11



Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN



kiểm tra bài nhau vào đầu giờ mỗi buổi học. Đây cũng là một biện pháp giúp

học sinh rèn luyện thêm trí nhớ của mình.

Đối với những học sinh khó khăn trong học tập, khả năng ghi nhớ chậm,

tơi áp dụng cách cho các em lập bảng các quan hệ từ vào những tờ giấy bìa cứng

sau đó kẹp vào bìa cuốn vở Tiếng Việt, khi nào qn có thể lấy ra xem. Trong

trường hợp các em thay vở thì chỉ cần lấy tờ giấy đó kẹp sang vở mới tránh mất

công phải viết lại nhiều lần.

Với cách làm như trên, tơi nhận thấy học sinh đã có thể ghi nhớ tên của

các quan hệ từ và cặp quan hệ từ một cách bền vững.

b) Lỗi dùng quan hệ từ khơng thích hợp về nghĩa



Hình 3: Bài làm của học sinh - mắc lỗi dùng quan hệ từ không thích hợp về nghĩa



Ví dụ trên cho ta thấy học sinh dùng đúng quan hệ từ nhưng lại chọn vế

câu chưa phù hợp với quan hệ từ. Nguyên nhân là vì các em chưa chú ý đến

nghĩa của câu văn và chưa nắm rõ mối quan hệ mà mỗi quan hệ từ biểu thị.

Với ví dụ trên ta có thể thấy việc học sinh hiểu được mối quan hệ mà mỗi

quan hệ từ biểu thị và sử dụng chúng vào đúng trường hợp, đúng ngữ cảnh cũng

không kém phần quan trọng. Do đó, tơi dẫn dắt học sinh tìm hiểu mối quan hệ

mà một số quan hệ từ thường gặp như sau:

Trước khi kết thúc hoạt động cơ bản của bài 20C tiết 1 hướng dẫn học

Tiếng Việt 5: Hoạt động tập thể. Học sinh đọc xong phần ghi nhớ về các quan hệ

Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng



12



Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mơ hình VNEN



từ và cặp quan hệ từ dùng để nối các vế câu trong câu ghép. Tôi giúp học sinh

diễn giải về nghĩa của một số từ ngữ hay một số mối quan hệ mà quan hệ từ đó

biểu thị để khi nối các vế trong câu ghép học sinh biết các phân tích và sử dụng

quan hệ từ chính xác hơn. Chẳng hạn:

Quan hệ từ “của” dùng để nối các từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất, hoạt

động, … của bản thân sự vật đó hay nói cách khác quan hệ từ “của” dùng để

biểu thị quan hệ “sở hữu”.

Quan hệ từ “nhưng” dùng để biểu thị quan hệ “tương phản” nghĩa là hai

sự vật, hiện tượng … có tính chất trái ngược, đối chọi nhau rõ rệt.

Quan hệ từ “rồi” dùng để nối các từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất, hoạt

động, … theo một trình tự “trước – sau”.

Đối với các cặp quan hệ từ, sách hướng dẫn học Tiếng Việt đã cung cấp

cho các em một số cặp quan hệ từ và mối quan hệ mà chúng biểu thị. Tuy nhiên

để giúp học sinh sử dụng thành thạo và làm tốt một số bài tập chẳng hạn : Chọn

quan hệ từ thích hợp điền vào chỗ chấm – dạng bài tập này rất hay dùng trong

nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ.

Đối với dạng bài tập này, học sinh phải phân tích được nội dung, ý nghĩa

của các vế câu thì mới có thể lựa chọn được quan hệ từ thích hợp. Do đó, tơi

hướng dẫn đồng thời cung cấp cho học sinh một số khái niệm như sau:

Cặp quan hệ từ : Vì … nên … ; Do … nên … ; Nhờ … mà … ( biểu thị

quan hệ nguyên nhân – kết quả)

+ Nguyên nhân là nhân tố tạo ra kết quả hoặc làm phát sinh sự việc đang

nói đến.

+ Kết quả là cái do một hay nhiều hiện tượng khác gọi là nguyên nhân

gây ra, tạo ra trong quan hệ với các hiện tượng ấy.

Cặp quan hệ từ : Nếu… thì … ; Hễ … thì … ( biểu thị quan hệ giả thiết –

kết quả, điều kiện – kết quả)

+ Giả thiết: điều coi như là có thật, nêu ra để phân tích, suy luận.

+ Điều kiện là cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể

xảy ra.

Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng



13



Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mơ hình VNEN



+ Kết quả là cái do một hay nhiều hiện tượng khác gọi là nguyên nhân

gây ra, tạo ra trong quan hệ với các hiện tượng ấy.

Cặp quan hệ từ: Tuy… nhưng … ; Mặc dù … nhưng … ( biểu thị quan hệ

tương phản).

+ Tương phản là hai sự vật, sự việc, hiện tượng, … có tính chất trái ngược

nhau, đối chọi nhau rõ rệt.

Cặp quan hệ từ: Khơng những… mà còn … ; Khơng chỉ … mà còn …

( biểu thị quan hệ tăng tiến)

+ Tăng tiến nghĩa là tiến hơn, vượt hơn so với trước một cách rõ rệt.

Với những khái niệm này, tôi cũng yêu cầu học sinh học thuộc và cũng

lưu trữ vào sổ tay tài liệu của mình như đã làm ở mục a phần 2.3a.

Ngồi ra, tơi giúp học sinh phân tích mẫu một số ví dụ:

Tơi cho học sinh làm phiếu bài tập bổ sung:

PHIẾU BÀI TẬP

Tìm và nêu tác dụng của quan hệ từ trong các câu sau bằng cách thực

hiện các yêu cầu bên dưới:

- Hoa hồng lung linh và rực rỡ.

- Bạn Lan học giỏi và hát hay.

- Trần Quốc Khái là người truyền cho dân ta nghề thêu và nghề làm lọng.

Yêu cầu 1: Quan hệ từ trong các câu trên là quan hệ từ ….

Yêu cầu 2: Gạch chân dưới những từ ngữ được nối với nhau bởi quan hệ

từ vừa tìm được.

Yêu cầu 3: Chọn từ trong ngặc đơn điền vào chỗ chấm:

Yêu cầu 4: Các từ ngữ vừa gạch chân chỉ đặc điểm, tính chất, hoạt động

của ( cùng một sự vật, nhân vật; hai hay nhiều sự vật, nhân vật)

………………………

Các nhóm thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Cá nhân đọc, phân tích ví dụ và tìm câu trả lời.

Bước 2: Cá nhân trao đổi với bạn bên cạnh về câu trả lời của mình.



Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng



14



Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN



Bước 3: Nhóm trưởng tổ chức cho các bạn thống nhất ý kiến trong nhóm

rồi báo cáo với giáo viên.

Bước 4: Giáo viên tổ chức cho học sinh chia sẻ câu trả lời của mình trước

lớp.

Sau khi học sinh chia sẻ nội dung câu hỏi, chốt lại ý kiến đúng, tôi giúp

học sinh đi đến kết luận về tác dụng của quan hệ từ và bằng cách đặt câu hỏi:

Qua các ví dụ trên, em nào có thể cho biết quan hệ từ “và” có tác dụng gì?

Học sinh trả lời: quan hệ từ “và” dùng để nối các từ ngữ chỉ đặc điểm,

tính chất, hoạt động … của cùng một sự vật.

Giáo viên bổ sung thêm cho học sinh: mối quan hệ mà từ “và” biểu thị

được gọi là quan hệ “liên hợp”.

Với cách làm như vậy, học sinh sẽ biết cách phân tích, lựa chọn quan hệ

từ, cặp quan hệ từ phù hợp với nghĩa của câu. Đồng thời giúp học sinh sử dụng

từ ngữ đúng hơn trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.

c) Lỗi dùng thừa quan hệ từ.

Ví dụ: Khi thực hiện hoạt động 3 trang 18 của bài 11C: Môi trường quanh ta

Đề bài yêu cầu: Đặt câu với mỗi quan hệ từ: và, nhưng, của. Có học sinh

đặt câu như sau:



Hình 4: Bài làm của học sinh - mắc lỗi dùng thừa quan hệ từ



Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng



15



Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mơ hình VNEN



Với việc đặt câu như vậy, tôi gọi học sinh khác nhận xét. Kết quả chỉ được

một vài em phát hiện ra lỗi của bạn là dùng “thừa quan hệ từ”. Điều đó chứng tỏ

việc sử dụng thừa quan hệ từ còn khá phổ biến trong học sinh.

Để khắc phục lỗi vừa nêu, tôi hướng dẫn học sinh như sau:

Bước 1: Tôi cho hai câu văn sau:

+ Bạn Mai, bạn Lan và bạn Hồng đều là những học sinh giỏi.

+ Bạn Mai và bạn Lan và bạn Hồng đều là những học sinh giỏi.

Bước 2: Tôi yêu cầu học sinh nhận xét: Trong hai câu văn trên, cách sử

dụng từ ngữ có gì khác nhau?





Học sinh trả lời: trong hai câu văn trên, cách sử dụng từ ngữ khác



nhau ở chỗ: một câu dùng một “dấu phẩy” và một từ “và” còn câu kia dùng hai

từ “và”.

Khi đọc lên, ta thấy câu nào hay hơn? Vì sao?





Học sinh trả lời: Khi đọc lên, ta thấy câu thứ nhất hay hơn. Vì ở câu



thứ nhất, lời văn mạch lạc, rõ ràng; câu thứ hai dùng hai từ và làm cho câu văn

lặp từ ngữ dẫn đến không hay.





Giáo viên chốt lại câu trả lời đúng và lưu ý học sinh: Trong một câu



văn, ta không nên dùng hai hoặc nhiều quan hệ từ giống nhau sẽ dẫn đến lỗi lặp

từ ngữ làm cho câu văn khơng hay.

d) Lỗi dùng thiếu quan hệ từ.

Ví dụ: khi thực hiện hoạt động 2 trang 159 của bài 28A: Ơn tập 1

Đề bài u cầu: Tìm ví dụ điền vào bảng tổng kết. Đối với câu ghép dùng

cặp quan hệ từ. Có học sinh đặt câu như sau:

Hoa phượng khơng những đẹp chúng còn tượng trưng cho lứa tuổi học

trò.



Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×