Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giáo viên có thể sử dụng những tấm hình chụp thật và giới thiệu: My mother is a teacher.; My father is a factory worker; My sister is a clerk; My brother is a farmer.

Giáo viên có thể sử dụng những tấm hình chụp thật và giới thiệu: My mother is a teacher.; My father is a factory worker; My sister is a clerk; My brother is a farmer.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sau đó giáo viên có thể dùng máy chiếu để chiếu lại các đồ vật bị khuyết để

học sinh nhắc lại từ vựng trong bài đã học. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng có

sẵn đồ vật thật ở trên trường cho nên giáo viên phải chuẩn bị tranh ảnh minh họa

kèm theo. Trong bộ sách giáo khoa Tiếng Anh mới, hình ảnh được đưa ra giới thiệu

rất sẵn, sống động và là hình ảnh thật trong cuộc sống. Vì vậy, giáo viên không

những phải biết khai thác và sử dụng một cách triệt để mà còn phải sử dụng một

cách linh hoạt và sáng tạo các tranh ảnh này. Đây là cách dạy nhẹ nhàng và dễ hiểu

nhất đối với các em học sinh Tiểu học, nó vừa khêu gợi trí tò mò, sự chú ý cũng

như mang lại hiệu quả tối đa cho mỗi tiết học Tiếng Anh.

Ví dụ: khi dạy Unit 19: What animal do you want to see?

Giáo viên có thể dùng tranh trong sách hoặc phóng to các bức tranh lên giấy

rơki và treo lên bảng nhằm tạo sự chú ý của các em, sau đó đưa ra các câu hỏi gợi

mở về chủ đề bài học.

GV: Em hãy nhìn vào tranh và cho cơ biết về đặc tính của những con vật này.



HS:

Giáo viên đưa ra chủ đề: animal do you want to see

Ngoài việc sử dụng đồ dùng trực quan để giới thiệu từ mới, chủ đề hay tình

huống của bài, giáo viên có thể sử dụng lại chúng để củng cố bài học nhằm giúp

học sinh khắc sâu nội dung của bài và học sơi nổi hơn.

Ví dụ: sau khi dạy xong Unit 12, giáo viên có thể sử dụng tranh để củng cố lại

từ mới cũng như kiến thức mà các em đã học trong bài bằng cách: Giáo viên treo

các bức tranh nói về gia đình và cơng việc.



- 11 -



Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh gấp sách vở lại, nhìn vào tranh và nói về

nghề nghiệp.

Ví dụ: Picture a: My mother is a nurse.

Picture b: My brother is a worker.

Qua thực tế giảng dạy trên lớp, tôi thấy các giáo cụ trực quan luôn làm cho tiết

học trở nên sôi nổi, học sinh chú ý học hơn, đạt hiệu quả cao và gây hứng thú học

hơn cho học sinh.

Giải pháp 5: Sử dụng hình thức dạy học “mở” pha chút “hài hước” trong

tiết học

Có một định lý trong giáo dục học là: Tâm trạng của học sinh khi học ảnh

hưởng rất lớn đến khả năng tiếp thu và kết quả học tập.

Trạng thái tâm lý thuận lợi cho việc học là: thoải mái, vui vẻ, phấn khích, tập

trung. Học mà vui sướng, tập trung và hăng say như là đang được chơi một trò thú

vị, là học nhanh vào nhất. Ngược lại, nếu rơi vào một trong các trạng thái như

hoang mang, sợ hãi, cáu kỉnh, bực bội, buồn chán, lơ đãng thì sẽ khó dung nạp

được kiến thức.



Ảnh minh họa

Theo bài báo nhan đề “Humour as means to make mathematics enjoyable”

của Shmakov & Hannula (Univ. of Turku, Finland):

One “fundamental principle of human behavior is that emotions energize and

organize perception, thinking and action” (Ref: Izard, The psychology of emotions,

N.Y.: Plenum Press, 1991). Research has confirmed a positive relationship between

positive affect and

achievement. It seems that

the

affective

outcomes

are

most

important during

the first school years, as

they are less likely

to be altered later on. Two

key elements of a

desired

affective

disposition

are

self-confidence

and

motivation

to

learn (Ref: Hannula, Affect

in Mathematical

Thinking and learning. In:

- 12 -



J. Ma & W. Schlưglmann eds., New mathematics education research and

practice, 2006).

Nhiều phương pháp giáo dục cổ điển chỉ chú trọng đến phần kiến thức, nhồi

nhét kiến thức, mà không quan tâm đến tâm lý học sinh.

Các phương pháp giáo dục hiện đại đang chú ý hơn đến việc làm sao cho học

sinh “học mà phấn khởi như chơi”, nhằm tăng hiệu quả của quá trình tiếp thu kiến

thức. Một trong các phương pháp đó thậm chí có tên rất ngộ là CheCha (viết tắt của

hai chữ Cheerful và Challenging gép lại với nhau), được giới thiệu trong bài báo có

nhắc tới phía trên của Shmakov & Hannula. Phương pháp CheCha dựa trên các câu

truyện tranh ảnh hài hước và các “riddles” (bài tốn đố) cũng như các trò chơi để

kích thích trí tò mò của học sinh, và tạo khơng khí vui vẻ trong q trình học.

Những giáo viên ln tìm kiếm những cách thức vui nhộn, hài hước để tạo

động lực cho học sinh. Chúng ta cũng biết rằng ở các trường Sư phạm giáo viên

thường không được lựa chọn hay được đào tạo để trở thành một “diễn viên hài. Tuy

nhiên, một khơng khí tích cực học tập và sự hứng thú học có mối liên hệ mật thiết

với năng lực ghi nhớ thông tin và khả năng ứng dụng kiến thức vào mọi tình huống

của cuộc sống hàng ngày (bao gồm cả các bài kiểm tra).



Hình 3 - Ý nghĩa của phương pháp dạy học “mở” và pha chút “hài hước”.

Nhưng trên hết, hài hước mang đến cảm giác thoải mái và dễ chịu, tạo sự đồng

cảm, những trải nghiệm tích cực liên quan đến cảm xúc mà học sinh chia sẻ với

giáo viên và các bạn cùng lớp.

Đôi khi những tiếng cười lại giúp "kéo" mạch lớp học trở lại như cũ. Tuy

nhiên, nhiều GV nhầm lẫn giữa những câu hỏi hài hước với lời châm chọc. Trong

khi sự hóm hỉnh có thể nhanh chóng "hóa giải" tình huống sư phạm thì lời mỉa mai

có thể làm tổn thường mối quan hệ của giáo viên với học sinh. Hãy dùng việc đánh

giá tối ưu nhất nhưng giáo viên phải có sự tinh tế bởi lẽ, điều học trò này nghĩ là

vui thì có thể học trò kia lại nhận thấy bị xúc phạm. Do đó, giáo viên phải thực sự

- 13 -



khéo léo khi sử dụng biện pháp này.

Việc đưa ra phương pháp học “mở” sẽ giúp học sinh tự tin hơn khi thể hiện

bản thân, vừa phát huy được cá tính của học sinh, vừa giúp cho giáo viên nhận diện

đối tượng học sinh, thơng qua đó có sự linh hoạt hơn trong phương pháp dạy để đạt

hiệu quả tốt nhất trong môn học.

IV. Tính mới của giải pháp:

Tính cho đến thời điểm hiện tại( đã gần hết học kì) thì tình hình học tập của

các em đã có nhiều tiến triển, hầu hết các em đã chú ý trong giờ học hơn, khắc sâu

kiến thức hơn cũng như lĩnh hội kiến thức một cách linh hoạt hơn, phát huy được

tính tích cực trong giờ học Tiếng Anh.



Hình 4 - Các hình thức dạy học

Có một bộ phận khơng nhỏ giáo viên vẫn lựa chọn các hình thức truyền thống

để duy trì sự chú ý của học sinh với tâm lý e ngại sự thay đổi, sợ mất thời gian khi

thực hiện. Giáo viên có thể đạt được một phần nào đó mục đích của mình nhưng lại

khơng thỏa mãn được u cầu đổi mới cho chính mơn học mà mình đang dạy,

khơng kích thích được sự năng động, sáng tạo của học sinh và trên hết chưa tạo ra

được khơng khí một giờ học ngoại ngữ đặc trưng. Đây là một trong những hạn chế

được đưa ra từ thực tế dạy học.

Bản thân tôi nhận thấy rằng, phần lớn các giờ học Tiếng Anh ở trường Tiểu

học vẫn tồn tại kiểu duy trì sự tập trung, chú ý của học sinh bằng các biện pháp

truyền thống như: giáo viên gõ thước lên bảng hoặc lên bàn, quát to.

Đối với giáo viên, cứ nhắc nhở học sinh mãi như vậy mà học sinh khơng thay

đổi nhiều, dẫn tới nhiều lúc mất kiểm sốt mà quát mắng học sinh, bản thân mình

cũng ức chế mà học sinh thì căng thẳng. Quan trọng hơn cả là khơng khí lớp học

chưa thể hiện được phong cách của một giờ ngoại ngữ đặc trưng, do vậy chưa thu

hút được sự chú ý học tập của học sinh hiệu quả. Giáo viên vẫn chưa có thói quen

sử dụng một câu chuyện hay một trò chơi làm chủ đề xuyên suốt một giờ học. Các

hoạt động trong bài sẽ được thiết kế theo mạch của câu chuyện để tạo ra sự lơi

cuốn.

- 14 -



V. Hiệu quả SKKN:

Qua q trình giảng dạy thực tế ở hai lớp 4B, 4C và sau khi áp dụng các biện

pháp thu hút sự chú ý của các em học sinh lớp 4 người Êđê vào các tiết học Tiếng

Anh, tơi thấy có hiệu quả rõ rệt:

Thứ nhất, tâm sinh lý của các em về mơn học đã có sự thay đổi rõ rệt, các em

học sinh ở hai lớp này đã chú ý hơn trong giờ học, đa số các em đã thể hiện tinh

thần học tập một cách chủ động hơn. Những giáo viên kiên trì áp dụng các biện

pháp này đều thu được các kết quả khả quan. Bản thân người giáo viên như tôi cũng linh

hoạt hơn trong việc sử dụng các phương pháp giảng dạy, do đó, chất lượng giảng dạy cũng được

nâng cao hơn rất nhiều.



Lớp



Chưa áp dụng các phương

Đã áp dụng các phương pháp thu

pháp thu hút sự chú ý

hút sự chú ý

( cuối kì I 2018-2019)

(giữa kì II 2018-2019)

4B: 20 HS

T

H

C

T

H

C

MĐHT

SL % SL % SL

%

SL

%

SL

%

SL %

3 15 16 80

1

5

6

30

14

70

0

0

4C: 18 HS

T

H

C

T

H

C

MĐHT

SL % SL % SL

%

SL

%

SL

%

SL %

1 5.6 16 89

1

5.4

3 16.7 15 83.3 0

0

Hình 5 - Kết quả thực nghiệm thu được

Thứ hai, điều quan trọng hơn cả là kết quả học tập của các em tiến bộ theo

từng tuần. Các biện pháp này có sức hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, gây hứng thú cũng

như thu hút sự chú ý của các em trong mỗi tiết học, giúp cho giáo viên truyền đạt

kiến thức một cách hiệu quả.

Phần thứ ba: PHẦN KẾT LUẬN

I. Kết luận

Thông qua sáng kiến này, các giáo viên ngoại ngữ đã tạo được khơng khí thoải

mái, giờ học nhẹ nhàng kích thích sự sáng tạo và phát triển tư duy cho học sinh,

nhưng thực tế giảng dạy cho thấy vơ hình họ bị chi phối bởi cách đứng lớp của giáo

viên cơ bản về tác phong, thái độ. Bên cạnh đó, ngay bản thân nhiều giáo viên

ngoại ngữ cũng không tự thay đổi mình, khơng ít người cho rằng thân thiện q sẽ

khiến học sinh “nhờn mặt”, dẫn đến tiếng nói của giáo viên khơng còn có uy nữa.

Quan sát thái độ của thầy cơ giáo người nước ngồi trong khi giảng dạy, chúng ta

có thể thấy rằng họ ln khen ngợi, động viên học sinh ngay cả khi học sinh nói

hoặc làm chưa đúng, ln sử dụng óc hài hước để giải quyết vấn đề trong giờ học

để tạo cảm giác thân thiện, cởi mở với học sinh khiến học sinh không sợ học. Điều

này không phải giáo viên người Việt nào dạy Tiếng Anh cũng làm được.



- 15 -



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giáo viên có thể sử dụng những tấm hình chụp thật và giới thiệu: My mother is a teacher.; My father is a factory worker; My sister is a clerk; My brother is a farmer.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×