Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. Đặt vấn đề gì

I. Đặt vấn đề gì

Tải bản đầy đủ - 0trang

Do đó, việc dạy và học Tiếng Việt để đạt được kiến thức và kĩ năng là một

điều hết sức khó khăn cho trường cũng như các trường trong địa bàn. Vì đây là

ngơn ngữ thứ hai của các em, khả năng tiếp thu của các em chậm, mất nhiều thời

gian, ảnh hưởng đến thời lượng và các hoạt động trong một tiết dạy. Vì vậy, cần

có một bộ mơn, một tiết học phù hợp để rèn luyện, hướng dẫn sửa sai cho học

sinh đọc, nói đúng tiếng Việt.

Xuất phát từ thực tế đang giảng dạy, tôi nghiên cứu: Học sinh dân tộc

thiểu số lớp 5C, trường Tiểu học Ea Bơng còn yếu về kĩ năng nghe, nói, đọc,

viết tiếng Việt.

- Phạm vi nghiên cứu: Thực nghiệm biện pháp, hình thức tổ chức tăng

cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số tại lớp 5C, trường Tiểu học Ea

Bông, xã Ea Bông, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk. Phương pháp rèn luyện

nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt cho học sinh trong Tiết đọc thư viện.

- Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ ngày Tiết đọc thư viện được đưa vào

chương trình giảng dạy 10/9/2018 đến nay.

Đây là tiết học mới nhưng Tiết đọc thư viện này giống như một buổi vào

thư viện đọc sách ở cấp học phổ thông trước đây; điểm khác biệt là học sinh vào

thư viện dưới sự hướng dẫn của giáo viên chủ nhiệm, được giáo viên đưa vào kế

hoạch dạy học, thiết kế với các tiến trình hoạt động phong phú, đa dạng để thu

hút học sinh. Trong Tiết đọc thư viện học sinh đều được đọc và nói, đây là thời

gian thích hợp để sửa lỗi đọc, nói, viết đúng tiếng Việt cho học sinh. Bên cạnh

việc rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt, Tiết đọc thư viện còn rèn cho học sinh thói

quen đọc sách, việc này sẽ mang lại những lợi ích vơ cùng to lớn vì sách chứa

đựng rất nhiều kiến thức trong cuộc sống và học tập, giúp chúng ta tư duy, nhận

thức sâu sắc hơn, trưởng thành hơn và tích lũy được vốn từ ngữ phong phú, hình

thành văn hóa đọc.

Tơi thấy rằng việc giúp học sinh dân tộc thiểu số phát âm đúng, chuẩn

tiếng Việt là việc làm quan trọng, cần thiết, nó là nhân tố bổ trợ cho học sinh học

tốt mơn Tiếng Việt nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục nói chung. Xuất

phát từ lí do nêu trên tơi đã lựa chọn đề tài: “Tăng cường Tiếng Việt cho học

sinh lớp 5 dân tộc thiểu số qua Tiết đọc thư viện”.

II. Mục tiêu của nghiên cứu

Qua tiết đọc thư viện, tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt tích cực để học

sinh được sử dụng tiếng Việt và có điều kiện sửa sai, rèn luyện tiến tới nói, đọc,

viết đúng, chuẩn tiếng Việt. Nâng cao ý thức sử dụng tiếng Việt ngoài thời gian

trên lớp của các em. Qua mỗi câu chuyện, học sinh biết điều chỉnh giọng phù

hợp với ngữ cảnh, lời của người kể chuyện hay lời của nhân vật. Học sinh thể

hiện được hành vi văn minh trong giao tiếp như chú ý lắng nghe người khác nói,

biết giơ tay khi muốn nói và biết chờ đến lượt mình. Ngồi ra còn hình thành

thói quen và khơi dậy niềm đam mê đọc sách, tìm tòi để trau dồi vốn tiếng Việt,

rèn luyện kĩ năng đọc sách có hiệu quả, mỗi giờ đến tiết đọc thư viện là một

niềm vui, đúng như câu khẩu hiệu : “Mỗi ngày đến trường là một niềm vui”.

2



Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I. Cơ sở lí luận của vấn đề

1. Các định nghĩa, khái niệm

1.1. Tăng cường Tiếng Việt là gì?

Tăng cường Tiếng Việt là các biện pháp giúp học sinh học Tiếng Việt có

hiệu quả.

1.2. Khái niệm về Thư viện

- Theo ý nghĩa truyền thống, thư viện là kho sưu tập sách, báo và tạp chí.

- Định nghĩa mới nhất của UNESCO: Thư viện khơng phụ thuộc vào tên

gọi, là bất kì bộ sưu tập có tổ chức của sách, báo, tài liệu các loại, ấn phẩm định

kì... Nhân viên thư viện có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng tài liệu để

tra cứu thơng tin, giáo dục và giải trí.

1.3. Thư viện thân thiện là gì?

Thư viện thân thiện là nơi học sinh được khuyến khích và hỗ trợ cho việc

đọc một cách tích cực trong một mơi trường thân thiện và an toàn.

1.4. Khái niệm Tiết đọc thư viện

- Tiết đọc thư viện được đưa vào thời khóa biểu của trường, thời gian

dành cho một tiết đọc thư viện tương đương với thời gian dành cho một tiết của

các môn học khác.

- Tiết đọc thư viện được giáo viên đã tham gia tập huấn thực hiện.

- Tiết đọc thư viện nên tổ chức ở thư viện. Nếu trường có số lớp đơng và

khơng thể tổ chức tồn bộ tiết đọc trong thư viện thì Tiết đọc thư viện có thể

diễn ra ở lớp học.

- Trong tiết đọc thư viện có các hoạt động đọc chính giúp phát triển thói

quen đọc sách của học sinh. Những hoạt động đọc không tập trung vào dạy kỹ

năng đọc mà mục đích chính của tiết đọc thư viện là hình thành và phát triển

thói quen đọc sách.

2. Các quan điểm khoa học

Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng và cần thiết nhất ở bậc

tiểu học. Bên cạnh việc học toán để phát triển tư duy logic cho học sinh, việc

học Tiếng Việt sẽ giúp các học sinh hình thành và phát triển tư duy ngôn ngữ.

Thông qua môn Tiếng Việt, các em sẽ được học cách giao tiếp, truyền đạt tư

tưởng, cảm xúc của mình một cách chính xác và biểu cảm.

Tiếng Việt vừa là môn học cơ bản, vừa là môn học công cụ để học sinh

tiếp thu tri thức, kỹ năng của các bộ mơn khác trong chương trình giáo dục và

hướng đến việc hình thành kỹ năng sống cần thiết cho học sinh.

Thư viện trường học là một bộ phận cơ sở trọng yếu, là trung tâm sinh

hoạt văn hóa, khoa học của nhà trường. Thư viện trường học góp phần nâng cao

chất lượng giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh, xây dựng thói quen

3



tự học cho học sinh. Mặt khác, thư viện trường học còn tạo cơ sở từng bước thay

đổi phương pháp dạy và học, xây dựng nếp sống văn hóa cho các thành viên

trong nhà trường.

Thư viện trường học giúp học sinh tự bổ sung kiến thức. Cũng chính ở thư

viện trường học, các em tự rèn luyện tính độc lập, tư duy và thói quen tự học.

Qua các tác phẩm mà các em đã đọc, sẽ hình thành cho các em tình cảm

đúng đắn, giúp các em hiểu thêm về con người, về đất nước và cuộc sống.

Theo Tạp chí Bộ Giáo dục và Đào tạo: Hiện nay tại các trường Tiểu học ở

Việt Nam tồn tại 2 kiểu thư viện: Thứ nhất, thư viện không được đầu tư cả cơ sở

vật chất và sách phục vụ học sinh. Mặc dù được gọi là thư viện, nhưng thực sự

là nhà kho của trường. Thứ hai, thư viện được đầu tư tốt về cơ sở vật chất,

nhưng vẫn thiếu sách phục vụ học sinh. Sách trong thư viện này phần lớn là sách

phục vụ giáo viên. Sách phục vụ học sinh được khóa trong tủ và học sinh tìm

sách qua danh mục sách. Điều này cản trở học sinh tiếp cận với sách và lựa chọn

cho mình quyển sách phù hợp. Ngồi ra, một khơng gian thư viện phục vụ

chung cả giáo viên và học sinh cũng khiến học sinh không cảm thấy thoải mái

khi đến thư viện.

Như vậy, có thể nói rằng mơ hình thư viện hiện nay chưa đáp ứng được

yêu cầu đọc sách và xây dựng thói quen đọc sách cho học sinh. Việc có một mơ

hình thư viện thân thiện để khuyến khích học sinh đến thư viện đọc sách, hình

thành và phát triển kĩ năng đọc cho học sinh là rất cần thiết.

Thời gian qua, chương trình Thư viện thân thiện Trường Tiểu học do Bộ

Giáo dục và Đào tạo phối hợp với tổ chức Room to Read đã được triển khai ở

nhiều địa phương trong cả nước. Chương trình nhằm xây dựng thói quen đọc

sách cho học sinh tiểu học, hướng đến mục tiêu giúp các em trở thành người đọc

độc lập trong tương lai, là người có kỹ năng đọc và thói quen đọc.

Mơ hình thư viện thân thiện trường Tiểu học được các Sở Giáo dục và

Đào tạo đánh giá cao và chỉ đạo nhân rộng đến các trường ngồi chương trình.

Việc phát triển thói quen đọc sách cho học sinh tiểu học với mục đích giúp học

sinh trở thành người đọc độc lập sẽ góp phần thực hiện thành cơng việc nâng

cao năng lực ngôn ngữ, khả năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học.

Vào tháng 6 năm 2018, Room to Read đã phối hợp cùng Bộ Giáo dục và

Đào tạo tổ chức hội thảo “Xây dựng văn hóa đọc và phát triển mơ hình thư viện

thân thiện trường Tiểu học”. Đây được xem là bước quan trọng để cụ thể hóa

thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung

ương về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục đào tạo và Quyết định 329/QĐTTg ngày 15/03/2017 của Chính phủ về phát triển văn hóa đọc đến năm 2020 và

định hướng đến năm 2030, cũng như biên bản ghi nhớ thực hiện Chương trình

“Thư viện thân thiện trường Tiểu học” giai đoạn 2016 – 2020, ký giữa Bộ Giáo

dục Đào tạo và tổ chức Room to Read.

Theo công văn 1108/SGDĐT-GDTH, ngày 10 tháng 8 năm 2018 của Sở

Giáo dục và Đào tạo Đăk Lăk về việc triển khai Chương trình “Thư viện thân

4



thiện trường Tiểu học” năm học 2018 – 2019 và bắt đầu thực hiện từ ngày

10/9/2018. Tiết đọc thư viện được bố trí trong chương trình, kế hoạch dạy học

của nhà trường. Tiết đọc thư viện được đưa vào thời khóa biểu của mỗi khối lớp,

mỗi tuần có một tiết đọc thư viện.

Đến với Tiết đọc thư viện, các em sẽ có 2 tiết để làm quen với nội quy thư

viện, bảng mã màu, cách chọn sách, mượn trả và bảo quản sách. Các em sẽ được

hướng dẫn sử dụng quy tắc 5 ngón tay để chọn sách: Em tự chọn một cuốn sách

bất kỳ và đọc 5 câu liên tục. Nếu không mắc lỗi hoặc chỉ 1 lỗi thì em nên chọn 1

cuốn sách ở mã màu cao hơn; nếu em mắc 2 - 4 lỗi trong 5 câu đó thì quyển sách

em chọn đã phù hợp với trình độ đọc của mình; còn nếu nhiều lỗi hơn, em cần

chọn mã màu thấp hơn.

Các tiết tiếp theo, các em sẽ được tiếp cận với các kiểu hoạt động: Đọc to

nghe chung; Cùng đọc; Đọc cặp đơi; Đọc cá nhân. Tùy thuộc vào trình độ đọc

của từng khối lớp mà giáo viên lựa chọn tỷ lệ các kiểu hoạt động phù hợp.

Chẳng hạn, đối với khối lớp 1, 2 có thể lựa chọn các hoạt động học như sau:

Đọc to nghe chung 40% số tiết; cùng đọc 30% số tiết; đọc cặp đôi 20% số tiết và

đọc cá nhân 10% số tiết/năm học. Đối với khối 4, 5 thì lại có lựa chọn khác: Đọc

to nghe chung 10% số tiết; Cùng đọc 20% số tiết; Đọc cặp đôi 30 % số tiết và

đọc cá nhân chiếm 40% số tiết/năm học.

Trong mỗi tiết, ngoài hoạt động đọc, các em được tham gia các trò chơi

nhẹ nhàng; viết hoặc vẽ những gì mình thích trong câu chuyện; trao đổi cho

nhau nghe về suy nghĩ, cảm nhận của bản thân về nhân vật, về câu chuyện đó.

Giáo viên có thể trao đổi với các em bằng một số câu hỏi giản đơn có liên quan

đến nhân vật cũng như nội dung câu chuyện, nhằm hướng tới nhu cầu đọc sách

tích cực cho học sinh. Tất nhiên, khơng biến các câu hỏi thành khai thác sâu nội

dung câu chuyện.

Như vậy, trong Tiết đọc thư viện nếu kết hợp được Tăng cường tiếng Việt

vào thì sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho học sinh.

II. Thực trạng vấn đề

1. Đặc điểm tình hình

- Tổng số học sinh tồn trường là 282 em. Trong đó học sinh dân tộc Ê –

đê là 204 em, nữ dân tộc là 108 em. Số dân tộc thiểu số chiếm 71% số học sinh

toàn trường.

- Khối lớp 5 có 3 lớp với tổng số học sinh 48 em, dân tộc Ê – đê là 39 em,

nữ dân tộc là 26 em.

- Lớp 5C tổng số học sinh là 17 em, dân tộc Ê – đê là 17 em, nữ dân tộc là

11 em.

Ở giai đoạn này, hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập, hầu hết các em

đã biết đọc, biết viết. Về tâm sinh lí, các em đang bước vào giai đoạn đầu của

tuổi dậy thì, các em đã biết ngại ngùng, rụt rè, xấu hổ, chưa mạnh dạn trong giao

tiếp.

5



Về phía gia đình, trình độ dân trí còn thấp, cuộc sống của người dân còn

gặp nhiều khó khăn. Bố mẹ khơng có nghề nghiệp ổn định, mải lo việc mưu

sinh, một số cha mẹ phải đi làm xa, các em phải ở với ông bà, các em thiếu thốn

tình cảm, sự quan tâm chăm sóc nhất là việc giáo dục kĩ năng sống cho các em.

Một số bố mẹ không biết tiếng Việt, họ ngại sử dụng Tiếng Việt vì vốn kiến thức

về Tiếng Việt ở họ q ít ỏi, cũng có lẽ vì bản năng ngơn ngữ mẹ đẻ ln tồn tại

trong tâm thức họ. Các em lại sống trong môi trường thuần tiếng dân tộc, môi

trường giao tiếp bằng Tiếng Việt hạn hẹp, nên vốn Tiếng Việt các em nhìn chung

là hạn chế, không đồng đều, chưa đủ tự tin khi giao tiếp.

Năng lực, trình độ đội ngũ giáo viên trong trường chưa đồng đều, số giáo

viên người dân tộc thiểu số chiếm 27%, kinh nghiệm giảng dạy, tăng cường

Tiếng Việt còn hạn chế, chưa phát huy hết kĩ năng Sư phạm, chưa biết tổ chức

hướng dẫn các hoạt động học tập có hiệu quả để phát huy tính tích cực của học

sinh. Tỉ lệ học sinh nói thơng viết thạo tiếng Việt thấp nên việc tiếp thu kiến thức

các môn học còn chậm dẫn đến chất lượng giáo dục hàng năm chưa cao.

Đa số học sinh có kết quả học tập chưa cao là học sinh đi học chưa chuyên

cần, cần có động cơ học tập và rèn luyện đúng đắn. Các em thiếu điều kiện học

tập như: dụng cụ học tập, khơng có góc học tập ở nhà. Các em chưa có phương

pháp tự học và chưa biết dành thời gian cho việc học ở nhà. Các em vẫn còn

ham chơi, thích đi theo bố mẹ ra rẫy đi làm, đi bốc gạch, chơi game, xem những

thứ vô bổ trên điện thoại,… đã trực tiếp tác động làm ảnh hưởng khơng ít đến

việc học tập của các em.

Bởi vậy đối với học sinh dân tộc thiểu số tập trung Tăng cường tiếng Việt

là cần thiết và hợp lí, đóng vai trò trọng tâm, then chốt cho chất lượng giáo dục

vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.

2. Thực trạng tăng cường Tiếng Việt tại trường Tiểu học Ea Bông

2.1. Các giải pháp đã tiến hành để tăng cường Tiếng Việt cho học sinh

tại trường Tiểu học Ea Bông ở những năm trước

Trường Tiểu học Ea Bông đã tổ chức dạy học Tăng cường Tiếng Việt cho

học sinh bằng các bài tập bổ trợ Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1,

2, 3 và Tăng cường Tiếng Việt lồng ghép, tích hợp ở lớp 4, 5. Thực hiện theo

Quyết định 920/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh Đăk Lăk, ngày 14/4/2017

về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ

Mầm non, học sinh Tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2020, định

hướng 2025” trên địa bàn Đăk Lăk, nhà trường đã tổ chức các buổi chuyên đề

Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Giáo viên đã vận dụng

soạn – giảng Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh bằng nhiều phương pháp, cách

thức tổ chức linh hoạt, khéo léo, phù hợp để lồng ghép, tích hợp ở tất cả bài học

của các môn học, tăng cường mọi lúc, mọi nơi để nâng cao chất lượng giáo dục

nói chung và bồi dưỡng kiến thức tiếng Việt, hình thành thói quen sử dụng tiếng

Việt của học sinh dân tộc thiểu số nói riêng.

6



Để tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, hầu hết các giáo

viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn đã áp dụng một số biện pháp sau:

- Chú trọng sửa lỗi phát âm sai về tiếng, từ, câu, dấu thanh.

- Tăng cường cho các em luyện đọc trên lớp.

- Nhắc nhở các em về nhà thường xuyên đọc lại bài.

- Tổ chức hoạt động nhóm để các em tham gia, trao đổi.

- Áp dụng Thông tư 22/2016 khuyến khích học sinh nhận xét bạn, để học

sinh có cơ hội được nói nhiều hơn.

- Tại lớp học tơi đang trực tiếp giảng dạy, phần tăng cường Tiếng Việt

được lồng ghép vào tất cả các môn học ở các nội dung phù hợp với các mức độ

khác nhau. Đặc biệt từ khi Tiết đọc thư viện được đưa vào thực hiện trong

trường tăng cường tiếng Việt được tôi thực hiện thường xuyên ở tiết học này.

2.2. Những tồn tại – hạn chế trong việc sử dụng tiếng Việt của học

sinh dân tộc thiểu số tại trường và tại lớp 5C

- Vẫn còn một số học sinh đọc, nói chưa đúng tiếng Việt. Phần lớn do các

em chưa chú tâm rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt của mình. Các em chưa

hiểu vai trò và tầm quan trọng của tiếng Việt trong học tập, giao tiếp hiện tại và

tương lai sau này.

Ví dụ: Y Tơ Ni (sinh năm 2007), đọc sai nhiều về tiếng từ và cả dấu

thanh. Em ngại khi đọc bài, còn đọc rất nhỏ, em hay xấu hổ khơng dám đọc

trước lớp vì bị các bạn chế diễu, cười cợt với kiểu đọc sai đó. Vì đọc yếu các em

không hiểu được yêu cầu và nội dung bài, không thể tham gia thảo luận xây

dựng bài cùng các bạn được. Tất cả điều đó làm các em chán nản khi đến lớp,

dần dần khơng thích đến lớp. Nghỉ học nhiều, các em sẽ khơng có cơ hội, thời

gian để giáo viên rèn luyện, sửa lỗi. Các em tự đánh mất đi quyền lợi của mình.

- Sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục tập quán: phần lớn các em chỉ chơi

với bạn bè cùng là dân tộc mình, địa bàn các em sinh sống khơng có người Kinh,

chỉ có vài người đi bn bán dạo hằng ngày; Tại phân hiệu 1 (Buôn Knul) của

trường Tiểu học Ea Bông từ lớp 1 đến lớp 5 đều là học sinh dân tộc Ê – đê; nên

giờ ra chơi cũng như lúc ở nhà các em vẫn sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp với

nhau nên ảnh hưởng rất nhiều đến việc tiếp thu kiến thức bằng tiếng Việt.

- Việc phát âm sai còn phụ thuộc rất nhiều vào tâm lí của học sinh. Các

em ngại tham gia các hoạt động tập thể do trường, lớp tổ chức. Một số em luôn

mặc cảm, tự ti, ngại giao tiếp bằng tiếng Việt, lo sợ bị thầy cô giáo gọi phát biểu,

sợ câu trả lời của mình bị sai,…

Ở lớp 5C, đa số các em đều học đúng độ tuổi (2008), còn 3 học sinh có độ

tuổi lớn hơn, do các em tiếp thu bài chậm nên bị lưu ban. Em H Dưng Hđơk

(sinh năm 2006), trao đổi với giáo viên chủ nhiệm lớp trước, em là học sinh

được quan tâm đặc biệt, vì ở lớp dưới em đã thường xuyên nghỉ học, hay mặc

cảm, tự ti khi phải học chung với học sinh lớp dưới. Cơ thể các em phát triển

7



trội hẳn so với học sinh khác trong lớp nên tâm sinh lí cũng khác hơn, em đã biết

ngại, xấu hổ, có những suy nghĩ phức tạp hơn và khơng hòa đồng với học sinh

khác.

Những lỗi cơ bản mà học sinh của lớp tôi thường mắc phải khi đọc:

+ Phát âm sai hoặc thiếu dấu thanh:

Ví dụ: Chậm chạp



Châm cháp



Vạn vật



Van vất



Thích nghi



Thích nghì



+ Ngắt nghỉ bất kì lúc nào giữa câu hoặc không ngắt nghỉ sau mỗi dấu câu:

do các em hụt hơi hoặc từ tiếp theo là từ khó đọc các em phải dừng lại để đánh

vần nhẫm trong đầu rồi mới phát âm ra thành tiếng.

Ví dụ: Thỏ nghĩ bụng chắc còn lâu Rùa mới lết tới nơi nên nằm phịch xuống

vệ đường, đánh một giấc ngon lành.

Thỏ nghĩ bụng chắc còn lâu Rùa mới lết tới nơi nên nằm (,) phịch

xuống vệ đường đánh (,) một giấc (,) ngon lành.

+ Viết là hoạt động khó khăn nhất đối với học sinh dân tộc, các em thiếu

vốn từ tiếng Việt, khơng biết dùng từ chính xác với ngữ cảnh, khó khăn khi diễn

đạt suy nghĩ của mình ra thành lời, khơng biết sắp xếp từ ngữ cho phù hợp. Vì

đọc, nói sai dấu thanh nên khi nghe – viết các em cũng viết sai hoặc thiếu dấu

thanh nhiều.

Như vậy, để sửa lỗi và rèn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh dân tộc

thiểu số ngoài việc nắm được các lỗi các em thường mắc phải dẫn đến việc nói,

đọc, viết chưa đúng cho nên cần phải nắm được bản chất, nguyên nhân mắc lỗi

phát âm và nắm được đặc điểm tâm sinh lí của học sinh để đưa ra các giải pháp

khắc phục.

2.3. Những khó khăn khi thực hiện Tiết đọc thư viện tại trường Tiểu

học Ea Bơng.

Vì đây là năm đầu tiên đưa vào giảng dạy nên việc thực hiện Tiết đọc thư

viện còn gặp nhiều khó khăn:

- Về phía nhà trường: Nhà trường chưa có đủ cơ sở vật chất trang thiết bị,

đầu sách phục vụ cho việc dạy và học Tiết đọc thư viện tại thư viện.

- Về giáo viên: Còn bỡ gỡ khi thực hiện Tiết đọc thư viện, chưa am hiểu

nhiều về công tác thư viện, chưa qua đào tạo công tác thư viện.

- Về học sinh: Vốn từ ngữ, vốn kiến thức về tiếng Việt của các em còn

hạn chế, chưa cảm thụ hết được giá trị kiến thức các em đã đọc.

- Về phụ huynh: Vốn tiếng Việt còn hạn chế, khơng có điều kiện để đọc

cùng con, chưa mạnh dạn cùng con trao đổi về nội dung sách.

Để đạt được mục tiêu của Tiết đọc thư viện, khắc phục các khó khăn trên

tơi đưa ra một số giải pháp như: Vận động, tuyên truyền phụ huynh học sinh,

8



nhà trường tạo môi trường giao tiếp thuận lợi. Tạo điều kiện để các em được

hoạt động nhiều hơn. Lập kế hoạch dạy học cho từng tiết học thư viện.

III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

Từ thực trạng và những vấn đề nêu trên, cùng với thực tiễn giảng dạy, bản

thân xin trình bày một số giải pháp để thực hiện nhiệm vụ của đề tài.

Việc sử dụng song song nhiều biện pháp tăng cường Tiếng Việt. Đặc biệt

khi tiết đọc thư viện được đưa vào giảng dạy việc vận dụng những ưu điểm của

phương pháp, hình thức dạy học đã sử dụng để hỗ trợ các biện pháp mới, sẽ

mang lại hiệu quả tích cực trong việc rèn cho học sinh dân tộc thiểu số nghe,

nói, đọc, viết tốt tiếng Việt.

1. Vận động, tuyên truyền phụ huynh học sinh, nhà trường tạo môi

trường giao tiếp thuận lợi

- Phối hợp với gia đình, nhắc nhở cha mẹ các em, quan tâm, đôn đốc việc

học tập của con em mình khi ở nhà. Khuyến khích các em đọc truyện cho cả nhà

nghe với những quyển truyện mà các em đã mượn từ thư viện và cha mẹ có thể

mua tặng các cháu để động viên khích lệ, hình thành thói quen đọc sách mỗi

ngày. Cha mẹ thường xuyên dùng tiếng Việt để trò chuyện, trao đổi, để các em

có thể sử dụng tiếng Việt mọi nơi, mọi lúc.

Ví dụ: vào đầu năm học, trong cuộc họp Cha mẹ học sinh, giáo viên trao

đổi chân tình những khó khăn của lớp. Nêu ra các biện pháp rèn luyện cho học

sinh ở lớp cũng như ở nhà. Vận động cha mẹ học sinh phối kết hợp với giáo viên

chủ nhiệm đôn đốc, kiểm tra việc rèn luyện ở nhà của các em, khuyến khích cha

mẹ học – đọc cùng con. Với thời buổi thông tin liên lạc phát triển, giáo viên dễ

dàng trao đổi với cha mẹ qua điện thoại, vừa có thể tiết kiệm được thời gian của

cha mẹ và của giáo viên đồng thời cha mẹ cũng nắm được tình hình học tập của

con thường xuyên hơn mà giáo viên cũng biết được tình hình học tập của học

sinh ở nhà.

- Để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng mơn Tiếng

Việt nói riêng yếu tố đầu tiên đó là chất lượng của đội ngũ giáo viên có phẩm

chất, năng lực có uy tín và tín nhiệm cao, có nhiều kinh nghiệm, nhiệt tình, gần

gũi, thân thiện với học sinh. Mỗi giáo viên phải là người tuyên truyền viên tích

cực, là nhân tố đi đầu trong phong trào vận động phụ huynh học sinh tham gia

vào việc đọc, việc học của các em nhất là việc đọc ở nhà, thường xuyên nhắc

nhở khích lệ, tạo điều kiện để các em được đọc, được khám thế giới qua các

quyển sách. Hướng dẫn các em biết cách đọc, biết tìm hiểu qua sách. Các em

biết thêm các kĩ năng khác nhau qua các quyển sách khác nhau: Như sách dạy

nấu ăn, sách thiếu nhi khám phá sự đa dạng của thiên nhiên, Em tìm hiểu khoa

học ….

- Nhà trường có đầy đủ cơ sở vật chất, tạo môi trường thân thiện, để các

em hứng thú, hăng say đến trường. Xã hội hoá giáo dục là yếu tố vô cùng quan

trọng, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt vừa mang tính chiến lược lâu dài trong sự

9



phát triển giáo dục bền vững. Điều 12 Luật Giáo dục năm 2005 đã qui định rõ về

xã hội hố sự nghiệp giáo dục: “Mọi tổ chức, gia đình và cơng dân có trách

nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu

giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn”. Nhà trường huy

động phụ huynh chung tay xây dựng thư viện thân thiện, tổ chức cho các cha mẹ

học sinh có tâm huyết tham gia trang trí, sắp xếp thư viện hợp lí, thân thiện cho

học sinh dễ đọc; mua thêm sách, đồ dùng, … để các em thích đến thư viện, u

thư viện, cùng nhau chăm sóc, xây dựng thư viện của mình. Tổ chức hoạt động

ngoại khóa, các hội thi để tất cả học sinh đều có điều kiện tham gia, học sinh thể

hiện năng khiếu của mình nhất là năng khiếu nói và viết như qua hội thi: “Giao

lưu Tiếng Việt của chúng em”. Trong năm học 2018 – 2019, lớp 5C có em H Bic

Hđơk đã đạt giải Ba cấp huyện trong hội thi: “Giao lưu Tiếng Việt của chúng

em”.

2. Tạo điều kiện để các em được hoạt động nhiều hơn

- Tiết đọc thư viện là một bộ môn đáp ứng được nhu cầu đó của học sinh,

với nhiều hình thức đọc khác nhau: Cùng đọc, Đọc cá nhân, Đọc nhóm đơi….

Giáo viên có thể sửa lỗi trực tiếp cho từng học sinh, đặc biệt quan tâm đến học

sinh khó khăn về đọc.

Ví dụ: Để sửa lỗi cho học sinh, giáo viên sử dụng quy tắc 5 ngón tay để

theo dõi học sinh đọc và có biện pháp giúp đỡ:

+ Trong tiết đọc “Đọc cá nhân” học sinh tự tìm một quyển sách và chọn

cho mình chỗ ngồi phù hợp để đọc. Giáo viên quan sát theo dõi học sinh, khi

học sinh đọc sai ở đâu, giáo viên sửa ngay ở đó, bằng cách gợi ý cho học sinh

đọc ngay tiếng, từ, câu vừa đọc sai và yêu cầu học sinh phải đọc lại cho đúng

hoặc nhắc lại theo giáo viên, để cho học sinh khác cũng ghi nhớ cách đọc đúng.

Tuyên dương khi học sinh đọc xong sách của mình mặc dù đọc chưa đúng hết

nhưng vẫn kèm theo lời động viên cố gắng đọc đúng, đọc hay hơn lần sau.

+ Ở hoạt động “Trong khi đọc” trong tiết Cùng đọc và Đọc nhóm đơi:

Học sinh làm việc theo cặp. Giáo viên khuyến khích các em khá giỏi ngồi gần

các bạn chưa có kĩ năng đọc tốt, những em còn đọc chưa chuẩn, phát âm sai,…

để nghe và sửa lỗi, kèm cặp, hỗ trợ nhau cùng đọc.

Ví dụ: Em H Bic Hđơk (chức vụ trong lớp là lớp phó học tập), rất nhiệt

tình trong mọi công việc được giao; chọn bạn H Koer (sinh năm 2007) làm bạn

cùng nhóm để giúp đỡ bạn, H Koer đọc yếu, đọc nhỏ, tính nhút nhát. Ngay từ

những buổi đầu, bạn lớp phó đã phát huy hết khả năng của mình, gương mẫu để

các nhóm làm theo. Sau một thời gian, H Koer đọc to, lưu loát các bài đọc hơn.

Tự tin đọc một mình trước lớp, mặc dù vẫn còn đọc sai ít dấu thanh nhưng mỗi

lần nhắc em cũng đã tự biết sửa lỗi. Ngoài ra, còn các nhóm bạn cũng có nhiều

tiến bộ như: H Ri Na và H Dưng, H Yun và H Noel.

+ Khi học sinh đọc “Đoạn trong câu chuyện làm em thích nhất? Vì sao?”

giáo viên có thể hướng dẫn học sinh ngắt nghỉ đúng và đọc diễn cảm đoạn học

sinh thích và chọn đọc lại. Em H’ Noel trước khi có Tiết đọc thư viện, em đọc

10



thiếu dấu thanh nhiều và chưa biết ngắt nghỉ đúng dấu câu. Sau vài Tiết đọc thu

viện, được cô và bạn cùng đọc giúp sửa lỗi, em đã đọc đúng dấu thanh và còn

thể hiện được giọng đọc diễn cảm, phù hợp với từng câu chuyện. Em hứng thú

tìm đọc những câu chuyện mới và thích chia sẻ lại câu chuyện mình đã đọc cho

các bạn cùng nghe.

+ Ở hoạt động “Sau khi đọc”: Rèn kĩ năng nói cho học sinh bằng cách trả

lời câu hỏi của giáo viên có liên quan đến câu chuyện. Ví dụ: Các em có thích

câu chuyện vừa đọc khơng? Tại sao? Các em thích nhân vật nào trong câu

chuyện vừa đọc? Tại sao? Đoạn nào trong câu chuyện làm em thích nhất? Tại

sao? Giáo viên có thể uốn nắn cho học sinh nói câu đủ thành phần chủ ngữ, vị

ngữ. Rèn kĩ năng biết lắng nghe, tập trung chú ý khi bạn nói.

Ví dụ: Khi học sinh nói chưa tròn câu, giáo viên gợi ý lại các thành phần

trong câu (Ai? / Làm gì? Như thế nào? Hoặc Cái gì?/ Như thế nào?...)

+ Ở “Hoạt động mở rộng”: Rèn kĩ năng viết cho học sinh, khuyến khích

học sinh tự viết một đoạn văn nói lên cảm nhận của mình về câu chuyện đã đọc.

Giáo viên gợi ý và sửa lỗi cho học sinh về dấu thanh, dấu câu và cách dùng từ,

đặt câu,… trực tiếp trong quá trình học sinh viết, để học sinh hồn thiện tốt nhất

sản phẩm của mình.



- Tổ chức cho các em thi kể chuyện, đọc diễn cảm, diễn kịch,… khích lệ

tinh thần kịp thời để các em hứng thú và ý thức tự rèn luyện cao hơn khi ở lớp

cũng như ở nhà. Các hoạt động này còn rèn luyện cho các em tính mạnh dạn nói

trước đám đơng. Ví dụ: trong quá trình đọc, các em tìm được câu chuyện hay, ý

11



nghĩa giáo dục đạo đức bao quát, thể hiện được nhiều kĩ năng sống,… Giáo viên

cùng học sinh chọn để thi kể chuyện, đọc diễn cảm, diễn kịch,… Vừa củng cố

được phần tăng cường Tiếng Việt vừa khắc sâu được nội dung, ý nghĩa bài học

qua các câu chuyện đó.

- Thành lập nhóm “Đơi bạn cùng tiến” để các em quan tâm và giúp đỡ

nhau cùng rèn luyện. Hoạt động này phù hợp cho các tiết học: Cùng đọc, Đọc

nhóm đơi. Khuyến khích các em khá giỏi hỗ trợ các bạn đọc chưa tốt, nghe và

sửa lỗi giúp bạn. Giao cho các em đã có kĩ năng đọc kèm cặp các em chưa có kĩ

năng đọc tốt, những em còn đọc chưa chuẩn, phát âm sai….Phân theo nhóm các

lỗi sai để kèm, hỗ trợ nhau và tăng thời lượng các em được trò chuyện với nhau

bằng tiếng Việt. Ví dụ Em Y Tô Ni là học sinh đọc yếu nhất lớp, sau một thời

gian cùng bạn lớp trưởng Y Khoan đọc những câu chuyện trong tiết đọc thư

viện, em đã đọc trơi chảy và lưu lốt hơn. Trong các mơn học khác em đã mạnh

dạn, tự tin xung phong đọc bài trước lớp.

- Tạo điều kiện cho các em có chỗ ngồi thoáng mát, sạch sẽ, đủ ánh sáng

để các em đọc thối mái nhất. Mơi trường thân thiện kết hợp cây xanh trong

phòng thư viện tạo nên khơng khí trong lành, cảm giác được thư giãn và gần gũi

với thiên nhiên hơn. Có thể đặt những chậu hoa nhỏ bên cạnh kệ sách, một cây

xanh trên bàn đọc và ở góc trưng bày sản phẩm, những cây hoa dây leo ở các

khung cửa sổ và một số loại cây khác có thể đặt ở các vị trí phù hợp trong thư

viện. Mơi trường đọc sách rất quan trọng, nó chi phối rất nhiều đến hứng thú, tác

động đến sự cảm nhận, cảm thụ tác phẩm của người đọc và có thể lĩnh hội được

nhiều nhất nội dung kiến thức mình đang đọc.

- Hỗ trợ tranh ảnh cho các câu chuyện, để giải nghĩa từ mới, từ trừu

tượng. Vì đối tượng học sinh dân tộc thiểu số có vốn từ tiếng Viết hạn chế, đôi

khi không diễn đạt được bằng các từ ngữ cụ thể, hình ảnh là cách gợi ý trực

quan và thực tế nhất để học sinh hiểu được từ ngữ bằng tiếng Việt, cung cấp

thêm vốn từ tiếng Việt cho các em.

3. Lập kế hoạch dạy học cho từng Tiết đọc thư viện

Giáo viên xác định được mục tiêu cần đạt được ở từng Tiết đọc thư viện:

Kiến thức kĩ năng cơ bản cần hình thành, rèn luyện cho học sinh; Tăng cường

Tiếng Việt: đọc đúng dấu thanh, tiếng, từ, câu, đoạn văn; trả lời câu hỏi đủ ý,

tròn câu. Sử dụng hợp lí các hình thức tổ chức học tập, thay đổi linh hoạt giữa

tiết đọc thư viện trước và sau tránh lặp lại, gây sự nhàm chán cho học sinh,

những vấn đề cần hỗ trợ học sinh…

Ví dụ:

- Tiết 1 – 2: Làm quen với nội quy thư viện, bảng mã màu, cách chọn

sách, mượn trả và bảo quản sách.

- Tiết 3: Cùng đọc

- Tiết 4: Đọc cá nhân

- Tiết 5: Đọc nhóm đơi

- Tiết 6, 7,… đảo lại các tiết tránh 2 tiết liền kề giống nhau.

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. Đặt vấn đề gì

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×