Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. Cơ sở lí luận của vấn đề:

I. Cơ sở lí luận của vấn đề:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Song vị trí của phát triển ngơn ngữ cho trẻ mầm non tương đối đặc

biệt vì từ sự phát triển ngôn ngữ sẽ tham gia trực tiếp vào sự phát triển của

các lĩnh vực khác. Bởi ngôn ngữ là phương tiện giao lưu tình cảm, phương

tiện để trẻ nhận thức khám phá tự nhiên.

Tiếng Việt là một môn học hết sức quan trọng đối với tất cả các bậc

học của nước ta hiện nay. Với trẻ là người dân tộc thiểu số, việc tăng cường

Tiếng việt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ dân tộc là một trong

những vấn đề đang được các cấp các ngành các trường học đặc biệt quan

tâm. Nghị quyết 40/2002/NQ-QH của quốc hội khóa IX về đổi mới giáo dục

phổ thông đã khẳng định: Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông được đưa vào

dạy học thống nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tiếng việt trong nhà

trường tồn tại với hai tư cách: Vừa là một môn học vừa là công cụ giao tiếp,

học tập của trẻ. Do đó trình độ Tiếng Việt (vốn từ, kiến thức về tiếng việt và

kỹ năng sử dụng vốn từ trong học tập, giao tiếp) có vai trò và ảnh hưởng

rất quan trọng đối với khả năng giao tiếp và lĩnh hội các kiến thức của trẻ.

Mục đích của giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số là

nhằm phát triển toàn diện nhân cách nói chung và phát triển năng lực hành

động của trẻ nói riêng trong các mối quan hệ của trẻ ở gia đình, nhà trường

và xã hội. Mục đích của q trình giáo dục đó phải là hướng tới là hình

thành ở trẻ các kỹ năng hành vi, biết biểu lộ thái độ, quan điểm của mình

trong giao tiếp với người khác. Đó là trẻ có kĩ năng chào hỏi, nói lời cảm ơn,

xin lỗi, biết cách lễ phép với người lớn tuổi, có kỹ năng chia sẽ với người

thân, bạn bè, những người xung quanh niềm vui và nỗi buồn biết tự nhận

thức về mình và người khác có kỹ năng nghe và trả lời câu hỏi của bạn bè

và người lớn tuổi, biết cách từ chối yêu cầu đề nghị khi thấy khơng hợp lý,

có khả năng xử lý tình huống trong quan hệ giao tiếp, có kỹ năng giải quyết

một số vấn đề cơ bản.

Đất nước Việt Nam ta có rất nhiều dân tộc anh em nhưng Tiếng việt là

ngơn ngữ chính để giao tiếp trao đổi với nhau thuận lợi hơn. Tuy nhiên trong

thực tế hiện nay đa số trẻ vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, trước khi

4



đến trường trẻ chỉ sống trong gia đình, ở các thơn bản nhỏ, trong mơi trường

tiếng mẹ đẻ do vậy trẻ chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ ở dạng khẩu ngữ. Trẻ biết rất ít

hoặc thậm chí khơng biết Tiếng việt. Trong khi đó Tiếng việt là ngơn ngữ được

dùng chính thức trong trường học và các cơ sở giáo dục khác.

Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ phải liên quan mật thiết với việc phát triển

của bán cầu đại não và hệ thần kinh nói chung, bộ máy phát âm nói riêng. Vì thế

cần phải phát triển ngôn ngữ đúng lúc mới đạt kết quả tốt. (Trích phương pháp

phát triển ngơn ngữ cho trẻ em nhà xuất bản Đai học Huế)

Trẻ càng lớn thì vốn từ càng tăng nhanh, theo các nghiên cứu thì năm lên 4

tuổi vốn từ của trẻ là 1200 từ, 5 tuổi là 2000 từ và khi được 6 tuổi vốn từ của trẻ

lên đến 3000 từ. Sự linh hoạt và phong phú trong ngôn ngữ của trẻ không chỉ

phụ thuộc vào tuổi, mà nó phụ thuộc rất lớn vào mơi trường ngơn ngữ xung

quanh trẻ, nó bao gồm cả mơi trường lớp học, mơi trường gia đình và mơi

trường văn hóa xã hội ở địa phương nơi mà trẻ sinh sống. (Trích mơđun 3 tài

liệu bồi dưỡng thường xun)

Trên thực tế tiếng nói các dân tộc thiểu số, hầu như chưa có vai trò rõ rệt

trong việc hỗ trợ Tiếng Việt trong giáo dục vì vậy, cho đến nay việc dạy và học

Tiếng việt ở các vùng dân tộc thiểu số chỉ đạt kết quả thấp. Đặc biệt ở lớp chúng

tôi đa số các cháu là người dân tộc Êđê việc nghe và nói tiếng Việt rất kém, mặc

dù cơ giáo có kèm cặp nhiệt tình thì trẻ vẫn nói bằng hai thứ tiếng mà chủ yếu là

tiếng mẹ đẻ, nhất là khi trẻ ra khỏi lớp học. Sở dĩ như vậy là do Tiếng việt không

phải là một phương tiện sử dụng dễ dàng đối với học sinh dân tộc thiểu số. Ở

lớp trẻ mới dùng Tiếng việt nói với giáo viên khi cần thiết còn ngồi ra trẻ vẫn

thường xuyên sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, dẫn đến tình trạng cơ

và trò khơng hiểu nhau dẫn đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ khơng thể đạt

được kết quả như mong muốn. Vì vậy việc cung cấp Tiếng việt cho trẻ dân tộc

thiểu số là hoạt động cần thiết nhằm giúp học sinh chưa biết hoặc biết ít Tiếng

5



Việt có thể học tập và sử dụng Tiếng Việt là ngơn ngữ chính thức một cách đơn

giản hơn.

II. Thực trạng vấn đề:

Trong những năm gần đây được sự quan tâm của sở giáo dục và đào tạo, sự

chỉ đạo sát sao của bậc học Mầm non. Hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp cho

trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ dân tộc thiểu số nói riêng đã dần được đưa vào

một chuyên đề quan trọng.

Được sự chỉ đạo sát sao của cán bộ chuyên môn phòng Giáo dục và Đào

tạo sự quan tâm của chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể sự ủng

hộ nhiệt tình của quý phụ huynh và Ban Giám Hiệu nhà trường thường xuyên

quan tâm, hỗ trợ kinh phí, đồ dùng học tập chuyên môn nhà trường thường

xuyên phân công dạy mẫu, thao giảng để bản thân cũng như các đồng nghiệp

học hỏi đúc rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng giảng dạy cũng như năng

lực chuyên môn.

Phần lớn trẻ dân tộc thiểu số trước khi tới trường đều sống hồn tồn trong

mơi trường tiếng mẹ đẻ, khơng có vốn Tiếng việt ban đầu nên việc giáo dục kỹ

năng giao tiếp Tiếng việt còn khó khăn, do điều kiện kinh tế khó khăn đa số phụ

huynh ở đây khơng biết chữ, phần lớn gia đình đều làm nơng nhận thức của bố

mẹ còn hạn chế vì thế con em của họ khơng có điều kiện thuận lợi như những

đứa trẻ ở thành thị.

Đối với trẻ dân tộc thiểu số môi trường học tập ở trường học còn mới mẻ.

Đa số trẻ chưa biết nói Tiếng việt mà trẻ chỉ giao tiếp với nhau bằng tiếng địa

phương. Cộng với sự bất đồng ngơn ngữ giữa cơ và trẻ. Chính vì thế giáo dục kỹ

năng giao tiếp ở trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cần có sự kết hợp giữa gia đình,

nhà trường và xã hội để trẻ có được nền tảng và nhân cách tốt cho sau này.

6



Giáo dục mầm non có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nhân cách

gốc cho trẻ mầm non, đặt cơ sở nền tảng đẻ trẻ phát triển bền vững sau này. Mục

tiêu của giáo dục mầm non hướng vào việc trang bị cho trẻ những kỹ năng giao

tiếp chiếm vị trí, vai trò quan trọng nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và

hiệu quả của giáo dục mầm non. Bởi mọi hoạt động trong trường, lớp đều được

thực hiện thông qua giao tiếp. Giao tiếp ở trường mầm non được tiến hành trong

mối quan hệ giữa cô – trẻ; giữa trẻ - trẻ; trẻ - với những người xung quanh. Để

giao tiếp thành cơng, hiệu quả đòi hỏi giáo viên phải hiểu được ngôn ngữ của

trẻ. Việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ chưa đạt kết quả cao là do những

nguyên nhân các yếu tố như:

Giáo viên chủ nhiệm không phải là người đồng bào tại chổ nên việc xử

lý các tình huống, cách trao đổi, giao tiếp với trẻ có lúc còn gặp khó khăn và

hạn chế.

Một mặt chịu sự tác động của các bậc phụ huynh. Một số phụ huynh chưa

nhận thức được tầm quan trọng của việc học. Đặc biệt họ có lối sống biệt lập

giữa dân tộc này với dân tộc khác nên ít có điều kiện giao tiếp bằng Tiếng Việt,

họ không muốn cho con em đi học với mục đích ở nhà đỡ tốn tiền đi học.

Đối với trẻ thì khơng muốn đi học vì nếu đi học đến lớp sẽ bị gò bó trong

khn khổ, trẻ thích theo bố mẹ lên rẫy chăn bò, bắn chim....Trẻ còn ngại ngùng

còn nhút nhát trong giao tiếp, ngại tiếp xúc với người lạ. Thêm vào đó sự bất

đồng ngơn ngữ giữa cơ và trẻ đã khơng ít gây nhiều khó khăn trong việc tiếp thu

kiến thức kỹ năng, khiến trẻ khơng thích đi học.

Được phân cơng giảng dạy tại lớp lá 5, nơi có 100% trẻ là người dân tộc

thiểu số, đa số trẻ có bản tính là nhút nhát mơi trường sống chỉ bó hẹp trong

phạm vi gia đình và chòm xóm, thiếu mơi trường giao tiếp dẫn đến thiếu kỹ

năng, trong các giờ học giáo viên lại thiếu quan tâm đến việc rèn luyện kỹ năng

7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. Cơ sở lí luận của vấn đề:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×