Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên về giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ.

Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên về giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ.

Tải bản đầy đủ - 0trang

trường mầm non còn mới mẻ và rất nhiều giáo viên còn chưa hiểu rõ được tầm

quan trọng của vấn đề hoặc thiếu kỹ năng giảng dạy để có thể truyền đạt cho trẻ

hiểu và hình thành cho trẻ những kỹ năng giao tiếp cần thiết cho trẻ. Vì vậy ngay

từ đầu năm học nhà trường đã tiến hành họp chuyên môn và nêu nhiệm vụ trọng

tâm của trong năm học, trong đó nhấn mạnh đến việc đưa các kỹ năng dạy trẻ

tập làm một số công việc tự phục vụ, chú ý yếu tố cá nhân của trẻ.

Muốn nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh, trước

tiên giáo viên phải có nhận thức về những nội dung dạy trẻ. Để giúp giáo viên

có vốn kinh nghiệm nhận thức sâu sắc về việc dạy kỹ năng sống cho trẻ thì cần

xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cho giáo viên bao gồm những nội dung cụ thể sau:

- Cung cấp tài liệu cho giáo viên tham khảo về những hoạt động dạy trẻ kỹ

năng sống. Cho giáo viên tham khảo một số giáo án hay, những kinh nghiệm dạy

trẻ có nội dung về giáo dục kỹ năng giao tiếp của các giáo viên giỏi và trên các

tạp chí.

- Tập trung bồi dưỡng cho giáo viên về lý thuyết những nội dung mà trẻ

còn yếu để giáo viên có kiến thức dạy trẻ. Bồi dưỡng cho giáo viên hiểu rõ thế

nào là dạy kỹ năng giao tiếp. Dạy kỹ năng giao tiếp là dạy cho trẻ những kỹ

năng gì. Dạy kỹ năng giao tiếp cho trẻ vào thời điểm nào là hiệu quả nhất. Đặc

biệt nhấn mạnh đến những kỹ năng: Hợp tác, chia sẻ; lễ giáo; khám phá, học

hỏi; mạnh dạn tự tin.

Trẻ cần biết thể hiện bản thân và diễn đạt ý tưởng của mình cho người khác

hiểu. Trẻ cần cảm nhận được vị trí, kiến thức của mình trong thế giới xung

quanh. Đây là một kỹ năng cơ bản và khá quan trọng đối với trẻ, nó có vị trí khá

chính yếu so với tất cả các kỹ năng khác như: Đọc, viết...Nếu trẻ cảm thấy thoải

mái khi nói về một ý tưởng hay một chính kiến nào đó, trẻ sẽ dễ dàng học và sẵn

sàng tiếp nhận những suy nghĩ mới. Đây chính là yếu tố cần thiết để giúp trẻ sẵn

sàng học mọi thứ.

10



+ Kỹ năng sống tự tin: Ngay từ khi đến lớp giáo viên nên khuyến khích

động viên trẻ giới thiệu tên của mình với các bạn trong lớp. Nghĩa là giúp trẻ

cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với những

người khác. Kỹ năng này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin trong mọi tình huống ở

mọi nơi, mọi lúc. Thể hiện khả năng, năng khiếu của bản thân trước tập thể như:

Biết tự giới thiệu về bản thân, tham gia các chương trình văn nghệ, biểu diễn

thời trang… Ví dụ: Trẻ tự tin đứng trước mọi người giới thiệu tên của mình và

hát 1 bài hát u thích.

+ Kỹ năng lao động tự phục vụ: Trẻ ở lứa tuổi MN còn rất vụng về, khi để

trẻ tự xúc ăn có thể bố, mẹ hoặc cô giáo thấy trẻ lúng túng thì lại đút cho trẻ ăn

để tránh rơi vãi, hoặc là khi đến lớp bố mẹ không để cho con cất giầy dép, cởi

bớt áo khốc, cất ba lơ mà lại làm giúp cho con. Nhưng giáo viên phải xác định

rằng đó là cách trẻ học làm người lớn, để cho trẻ tự cần thìa xúc cơm ăn, lúc đầu

có thể chưa quen nhưng sau đó dần dần trẻ sẽ thành thục trong việc tự phục vụ

cho mình trong ăn uống. VD: Tự đi giày dép, uống nước, tự lấy nệm, lấy gối cho

mình (trẻ lớp mầm)…tự mặc quần áo, cùng với cô và các bạn kê dọn bàn ăn, tự

đánh răng sau khi ăn, tự rửa mặt …

+ Kỹ năng sống hợp tác: Khi dạy trẻ kỹ năng hợp tác cần giúp trẻ hiểu có

những cơng việc một mình sẽ không thể làm được. VD Trong giờ hoạt động góc

trẻ hợp tác cùng bạn xây dựng ngơi nhà, khu vui chơi… Chính vì vậy phải có sự

hợp tác của các thành viên trong nhóm.

+ Kỹ năng ham học hỏi, khả năng thấu hiểu: Đây là một trong những kỹ

năng quan trọng nhất cần có ở trẻ vào giai đoạn này. Giáo viên cần sử dụng

nhiều tư liệu và ý tưởng khác nhau để khêu gợi tính tò mò tự nhiên của trẻ.

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, các câu chuyện hoặc các hoạt động và tư

liệu mang tính chất khác lạ thường khêu gợi trí não nhiều hơn là những thứ có

thể đốn trước được. VD: Trong giờ Khám phá khoa học “ Một số con vật

nuôi trong gia đình” trẻ được quan sát các con vật, từ đó tìm hiểu xem con

11



vật đó lơng của nó như thế nào hay vì sao con gà lại dùng chân bới xuống đất

để làm gì….

+ Dạy trẻ biết nói lời cảm ơn, xin lỗi: Ngay từ khi còn bé, nếu trẻ hiểu

được nên dùng những lời cảm ơn và xin lỗi trong hồn cảnh phù hợp thì sẽ rất

có lợi cho việc hình thành nhân cách của trẻ sau này. Cho nên giáo viên cần phải

biết dạy trẻ sử dụng các lời nói đó vào những hồn cảnh cụ thể. Ví dụ khi có

người lớn cho quà trẻ phải biết nhận bằng hai tay và nói lời “cảm ơn”, hoặc khi

khơng may lỡ làm bạn ngã thì phải biết dùng lời “xin lỗi” đối với bạn.

- Bồi dưỡng về thực hành cho giáo viên:

Muốn giáo viên dạy được trẻ các kỹ năng giao tiếp thì đòi hỏi thao tác của

giáo viên phải chuẩn mực và có sự thống nhất, những kỹ năng này phải được các

cô giáo hướng dẫn giống nhau khơng có sự lệch lạc mỗi lớp hướng dẫn một kiểu

thì sẽ rất khó cho việc kế thừa từ lớp nhỏ đến lớp lớn. Hướng dẫn cho giáo viên

cách xây dựng các tiết học theo chủ đề, cách lồng ghép nội dung giáo dục kỹ

năng sống trong các hoạt động chung, nhất là cách tạo ra các tình huống để trẻ

giải quyết.

Hàng tháng tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn nhằm trao đổi về

chuyên môn, về cách lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Từ

đó tìm ra những mặt tích cực và khắc phục những mặt còn tồn tại.

Ban giám hiệu thường xuyên dự giờ dạy và các hoạt động của giáo viên có

lồng ghép nội dung này, từ đó đánh giá được đúng mức trình độ của từng giáo

viên để có kế hoạch bồi dưỡng, góp ý. Với những giáo viên khá, giỏi cần hướng

cho giáo viên cách tổ chức các tiết dạy và các hoạt động có lồng ghép nội dung

giáo dục kỹ năng giao tiếp với nhiều hình thức sáng tạo, hấp dẫn. Cách làm đồ

dùng, đồ chơi, sáng tác thơ ca, truyện kể có nội dung về giáo dục kỹ năng giao

tiếp. Với những giáo viên mới và có chuyên mơn trung bình, Ban giám hiệu đã

tập trung bồi dưỡng về chuyên môn, tác phong sư phạm khi lên lớp, cách tổ

12



chức các giờ dạy theo chủ đề, cách lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng sống

cho trẻ sao cho phù hợp và có hiệu quả. Với việc tổ chức các hoạt động mẫu và

dự giờ giáo viên thường xuyên, bổ sung góp ý cho giáo viên theo đúng khả

năng, chất lượng của giáo viên trong trường đã được nâng lên một cách rõ rệt.

Việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ cũng được thực hiện

thường xuyên hơn ở trong tất cả các hoạt động.

Biện pháp 2: Tổ chức hoạt động tăng cường Tiếng Việt trong việc giáo dục

kỹ năng giao tiếp cho trẻ .

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người trong xã

hội. Ngơn ngữ chính là q trình con người sử dụng tiếng nói để giao tiếp với

nhau. Trong quá trình giao tiếp, con người biểu hiện ý nghĩ và cảm xúc nhờ

tiếng nói, do đó để hiểu nhau cùng tiến hành các hoạt động. Thế nhưng đối với

trẻ dân tộc thiểu số ở đây mà nói môi trường giao lưu hạn chế, trẻ thường sử

dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp với nhau, trẻ học Tiếng việt với tư cách là ngôn

ngữ thứ hai trẻ thường phát âm khơng chuẩn và có thói quen sử dụng tiếng mẹ

đẻ trong giao tiếp và vui chơi kể cả khi ở trong lớp. Bên cạnh đó hiểu biết về

cuộc sống và kỹ năng tiếng mẹ đẻ của trẻ kém ảnh hưởng đến việc tiếp nhận

Tiếng Việt của trẻ.Một trong những nhu cầu quan trọng nhất đối với nhóm trẻ ở

đây là phát triển ngơn ngữ nói chung và tăng cường tiếng việt. Điều này đã được

chứng minh trong báo cáo EDI nă 2012 và 2014 (Bộ giáo dục và đào tạo ) và kết

quả phát triển của trẻ em vùng dân tộc thiểu số ở các lĩnh vực khác nhau. Kết

quả báo cáo trên cho chúng ta thấy cần tập trung vào lĩnh vực phát triển ngôn

ngữ và giao tiếp trong quá trình giáo dục trẻ dân tộc thiểu số.

Nắm rõ được tầm quan trọng của việc tăng cường tiếng việt đối với trẻ dân

tộc thiểu số dựa vào kế hoạch của năm học, bản thân đã đưa hoạt động “Tăng

cường tiếng việt” vào xây dựng kế hoạch của mình theo từng tháng, tuần và

ngày phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ và được chuyên môn xét duyệt.

13



Qua đó bản thân được trang bị đầy đủ về nội dung, phương pháp và cách thức tổ

chức tại lớp về tăng cường tiếng việt cho trẻ em dân tộc thiểu số.

Bản thân nhận thấy rằng khi bắt đầu học tiếng việt mục tiêu đầu tiên là hiểu

được nghĩa: Tạo giao tiếp tốt với trẻ bằng ánh mắt, mỉm cười thể hiện niềm vui

khi nói chuyện với trẻ tránh chất vấn trẻ và trò chuyện một cách tự nhiên với trẻ

cần cho trẻ thời gian để phản ứng sử dụng đồ vật và tranh ảnh khi dạy từ mới

cho trẻ cung cấp từ khi trẻ cần và mở rộng câu nói phù hợp với trẻ.Trong đó trẻ

được lắng nghe, được khuyến khích trò chuyện một cách tự nhiên, giáo viên là

người tạo cơ hội cho trẻ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ.

Kể chuyện là phương pháp hỗ trợ tiếng việt cho trẻ. Trong hoạt động kể

chuyện bản thân đã chỉnh sửa câu chuyện cho phù hợp với trẻ dân tộc thiểu số

và kết hợp tăng cường tiếng việt cho trẻ

- Khi kể chuyện giới thiệu câu chuyện và các nhân vật trước khi đọc

chuyện.

- Kể lại câu chuyện và sử dụng các đạo cụ minh họa.

- giới thiệu các từ chính thong qua hành động và tiếng địa phương.

- Kể lại câu chuyện thơng qua hoạt động đóng kịch

- Khuyến khích trẻ kể lại câu chuyện

- mời trẻ có khả năng Tiếng Việt tốt lên kể lại câu chuyện, cho trẻ kể từng

đoạn hoặc nhắc lại lời thoại.

- Ví dụ: Trong câu chuyện “ Chú dê đen”

14



+ Bản thân đã sử dụng con rối để giới thiệu từng nhân vật (dáng đi, tiếng

kêu)tính đặc điểm bề ngồi của nhân vật.

+ Cho trẻ xem tranh và giới thiệu các từ và cho trẻ phát âm nhiều lần.

+ Khuyến khích trẻ các cụm từ chính vào hoạt động kể chuyện.

+ Đặt câu hỏi trước, trong và sau khi kể chuyện? Đây là con gì? Nó là con

vật sống ở đâu?

Thường xun cho trẻ hát những bài hát, đồng giao thể hiện nền văn hóa

của địa phương.

Hỗ trợ chăm sóc vệ sinh, hỗ trợ dinh dưỡng hằng ngày cho trẻ như: Cho trẻ

gọi tên món ăn, những loại thực phẩm mà trẻ được ăn hằng ngày.

Phương pháp đưa hoạt động “Tăng cường Tiếng Việt” cho trẻ mọi lúc mọi

nơi bản thân nhận thấy ngôn ngữ của trẻ phát triển đáng kể. Trẻ tự tin mạnh dạn

hơn, không rụt rè, nhút nhát. Trẻ có thể sử dụng thành thạo Tiếng Việt mà ít nói

tiếng mẹ đẻ hơn.Từ đó trẻ mạnh dạn giao tiếp với cơ giáo với bạn bè hơn.



15



Hình 3: Tạo mơi trường tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số mọi

lúc mọi nơi.

Biện pháp 3: Tăng cường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu

số thông qua các góc hoạt động.

Lớp học, trường học là mơi trường thuận lợi trong việc phát triển tri thức tư

duy và ngôn ngữ giao tiếp; lớp học và trường học như một xã hội thu nhỏ, ở đó

các em được học tập, vui chơi khám phá và tìm tòi. Trẻ sẽ được hòa mình vào

những mối quan hệ giao tiếp rộng hơn.

Đối với trẻ mầm non chơi mà học, học bằng chơi, hoạt động vui chơi chiếm

vai trò chủ đạo trong hoạt động của trẻ lúc ở trường. thông qua giờ chơi trẻ đóng

vai khác nhau trong xã hội, đóng vai và tái hiện lại những gì trẻ đã thấy trong

giao tiếp hằng ngày. Tất cả những kiến thức và kinh nghiệm cuộc sống mà trẻ có

sẽ được thể hiện qua hoạt động vui chơi. Chính vì vậy tơi rất chú trọng đến việc

tạo tình huống khi trẻ đóng vai để trẻ tìm cách giải quyết, cũng như quan sát

những điều trẻ thể hiện được những kiến thức mà trẻ có.



16



Hằng ngày khi đến lớp được tham gia vào góc hoạt động qua đó kỹ năng

giao tiếp càng được cải thiện như:

Đối với góc sách thư viện trẻ được lắng nghe cô và bạn, trẻ bắt chước

những từ hoặc câu nói trong chuyện, trẻ tự kể, trả lời câu hởi và những từ mới.

Ví dụ: Trong câu chuyện “Chú dê đen” trẻ có thể xem tranh câu chuyện qua

đó trẻ có thể kể lại câu chuyện và bắt chước giọng nói hung tợn của nhân vật Dê

đen “Dê kia, mày đi đâu?) bắt chước trạng thái và giọng nói run sợ của Dê

Trắng “ Tơi đi tìm lá non để ăn và nước mát để uống”

- Khi tham gia chơi ở góc phân vai: trẻ có thể chơi giả bộ, đóng vai trẻ biết

điều chỉnh giọng nói, ngữ điệu của mình cho phù hợp với vai chơi. Hầu hết các

trẻ đều thích chơi ở góc phân vai vì ở đây trẻ tìm được sự lien kết giữa gia đình

và lớp học. Chúng được tự do suy nghĩ và tưởng tượng khi đóng các vai như:

Giáo viên, bác sĩ, bố mẹ, em bé, ơng bà…Trẻ khám phá, tìm hiểu các vai mà

chúng đóng. Bản thân cũng đã xây dựng và thiết kế khu chơi đóng vai thể hiện

nét văn hóa cộng đồng và gia đình của trẻ.

Ví dụ: Ở trò chơi khám bệnh, trẻ xưng hô: Tôi – Bác, Tôi – bạn…

Bệnh nhân: Á tôi đau bụng quá bác sĩ ơi

Bác sĩ: Để tôi khám cho bác nhé, tôi sẽ lấy thuốc cho bác bác hãy mau

uống thuốc đi…

Bệnh nhân: Cảm ơn bác sĩ

Những câu nói trên của trẻ đã thể hiện sắc thái trang trọng phù hợp với

nghề nghiệp. Trẻ đã biết sử dụng các đại từ nhân xưng thích hợp, có sắc thái thể

17



hiện với vai mình đóng. Qua vai chơi trẻ biết điều chỉnh cách nói chuyện thân

thiện và xa lạ. Qua đó trẻ học được kỹ năng đó là: Nói chuyện trong khi chơi với

bạn, lắng nghe bạn nói, bắt chước bạn học được những từ mới, nói về cảm xúc

của bản thân; trẻ được trao đổi, thỏa thuận, chào hỏi….

- Khi tham gia ở góc tạo hình:

+ Tạo hình là hoạt động nghệ thuật ln được trẻ ưa thích, tạo cơ hội cho

trẻ được thử nghiệm, sáng tạo, khám phá mới, thích thú và trẻ được tiếp nhận

cảm xúc.

Qua hoạt động này trẻ được trò chuyện trao đổi với nhau khi vẽ; được miêu

tả , kể mình vẽ cái gì?

- Đối với góc xây dựng, lắp ghép: Trẻ được cung cấp nhiều cơ hội để

phát triển óc tưởng tượng, sang tạo, giúp phát triển kỹ năng giao tiếp, ở đây

trẻ được lắng nghe, trao đổi thảo luận với bạn, lắng nghe ý kiến của bạn, đề

nghị bạn giúp đỡ, chia sẽ đồ chơi, hợp tác giúp đỡ bạn, được miêu tả những gì

mình đã xây dựng.

- Đối với góc âm nhạc: Trẻ được lắng nghe giai điệu, nhịp điệu âm thanh

nhận ra những âm thanh từ những nhạc cụ khác nhau.

Trong mỗi giờ lên lớp, trong mỗi hoạt động bản thân đều khuyến khích trẻ

chủ động trong giờ học không những tăng cường mối quan hệ giữa cơ và trẻ mà

còn giúp trẻ có cơ hội được thể hiện ;được trải nghiệm thực tế và kỹ năng của

mình khắc phục tính nhút nhát và thiếu tự tin trong giao tiếp. Chính vì thế trẻ

cảm thấy lúc ở bên cơ sẽ được an tồn, trẻ chủ động mạnh dạn khi giao tiếp với

bạn bè và cô giáo. Trẻ hạn chế nói trống rỗng, nói tục mà biết sử dụng những

18



ngôn ngữ giao tiếp đơn giản, biết thể hiện sắc thái phù hợp hơn nâng cao chất

lượng giáo dục hơn so với đầu năm học.

Biện pháp 4: Sử dụng phương pháp nêu gương trong các hoạt động hằng ngày.

Phương pháp nêu gương là giáo viên dùng những tấm gương sáng của cá

nhân hoặc của tập thể về thực hành kỹ năng giao tiếp để kích thích trẻ học tập và

làm theo, bên cạnh đó giáo viên cũng có thể sử dụng những hành vi không tốt,

phản diện để giúp đỡ trẻ phân tích, đánh giá và tránh những hành vi tương tự.

Phương pháp nêu gương có vai trò rất quan trọng trong công tác giáo dục

kỹ năng giao tiếp, giúp trẻ phát triển được năng lực phê phán và năng lực

đánh giá hành vi của mình, hành vi của người khác từ đó rút ra những kết

luận thiết thực đối với bản thân trong quá trình học tập cũng như rèn luyện kỹ

năng giao tiếp.

Như vậy, thông qua phương pháp nêu gương, giáo viên giúp trẻ học và làm

theo những tấm gương tốt, tránh những gương xấu. Đồng thời giúp trẻ hình

thành được niềm tin về các chuẩn mực xã hội nói chung, chuẩn mực đạo đức nói

riêng và những kỹ năng giao tiếp phù hợp.

Biện pháp 5: Thường xuyên phối hợp với gia đình, nhà trường và xã hội

trong việc thực hiện giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ.

Tổ chức các lực lượng hổ trợ tương tác với nhau trong hoạt động giáo dục

kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số nhằm hướng tới xây dựng môi trường

giáo dục kỹ năng giao tiếp rộng, thống nhất, có sự phối hợp giữa các lực lượng

trong nhà trường, ở gia đình và xã hội. Từ đó phát huy được sức mạnh tổng hợp

của các lực lượng trong quá trình giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ và nâng cao

được hiệu quả của hoạt động giáo dục.

19



Hiệu quả của công tác giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số

phụ thuộc vào nhiều cơ chế phối hợp hỗ trợ giữa gia đình nhà trường và xã hội,

tuy lực lượng giáo dục khác nhau nhưng đều có chung một mục đích hướng tới

giáo dục hoàn thiện nhân cách cho con người. Để tổ chức các lực lượng hỗ trợ,

tương tác với nhau trong việc thực hiện giáo dục kỹ năng giao tiếp, các lực

lượng này phải có sự thống nhất về nội dung và phương pháp giáo dục. Trong đó

cần quy định rõ trách nhiệm của các lực lượng giáo dục và cơ chế trong tổ chức

hoạt động giao tiếp.

Giáo viên đã cố gắng học hỏi, tìm cơ hội để giao tiếp với phụ huynh, tìm

hiểu về phong tục tập quán và lối sống của họ dần dần bản thân đã tự học được

một số tiếng địa phương của trẻ, sự bất đồng ngôn ngữ giữa cô và trẻ dần dần

được cải thiện.

Kết hợp tổ chức các buổi nói chuyện thảo luận với phụ huynh như: Tổ chức

các cuộc họp phụ huynh đầu năm, giữa kì và cuối kỳ, tổ chức lễ khai giảng, tổng

kết năm học. Qua đó kết hợp lồng ghép tích cực các chuẩn mực đạo đức phù hợp

đối với trẻ. Trao đổi với phụ huynh để họ quan tâm sát sao hơn nữa, quan tâm

đến những hành vi của trẻ, kịp thời thông báo đến cô và nhà trường những hành

vi khơng đúng của trẻ khi ở nhà. Nói cho phụ huynh biết giáo dục chính là yếu

tố quyết định về nhân cách con người sau này. Chính vì thế phụ huynh cần hình

thành cho trẻ kỹ năng giao tiếp ngay từ đầu như: Trẻ biết chào hỏi, biết nói lời

cảm ơn, biết thành thật nói lời xin lỗi người lớn hay bạn bè khi làm sai, biết lắng

nghe người khác nói, biết giải quyết những vấn đề đơn giản …dần dần sẽ tạo

thành thói quen.



20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên về giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×