Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.9: Đánh giá của người sử dụng về chất lượng thông tin trên BCTC của DNNVV

Bảng 2.9: Đánh giá của người sử dụng về chất lượng thông tin trên BCTC của DNNVV

Tải bản đầy đủ - 0trang

94



Trung bình

Độ lệch chuẩn



3.02



3.05



3.11



3.95



3.14



3.21



1.339



1.372



1.403



1.142



1.342



1.402



(Nguồn: tác giả xử lý dữ liệu từ phần mềm SPSS 22)

Từ kết quả trên, có thể thấy các đối tượng khảo sát nhìn chung đồng ý một

phần với các nhận định đưa ra (do mức điểm bình quân theo thang đo Likert hơn 3,

trong khoảng từ 3 đến 4), trong đó, mức đồng ý cao hơn dành cho ý kiến DNNVV

cung cấp thông tin “Đúng kỳ” và DNNVV cung cấp thơng tin “Có thể so sánh”;

mức đồng ý thấp nhất đối với ý kiến cho rằng thơng tin trên BCTC của DNNVV

được “trình bày trung thực” và “khách quan” với mức điểm trung bình do người sử

dụng đánh giá tương ứng là 3.02 và 3.05. Điều này cũng phản ánh đúng thực trạng

hiện nay dường như BCTC của DNNVV chưa được coi là kênh thông tin chính, là

cơ sở đáng tin cậy để ra các quyết định kinh tế.



2.3. Thực trạng hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Việt Nam

2.3.1. Quy định pháp lý về Báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Việt Nam

2.3.1.1. Quy định pháp lý hiện hành về báo cáo tài chính của doanh nghiệp

nhỏ và vừa Việt Nam

Do đặc điểm lịch sử nên hệ thống kế toán Việt Nam chịu ảnh hưởng của

trường phái Châu Âu lục địa nói chung và kế tốn Pháp nói riêng. Ở Việt Nam, cơ

quan Nhà nước, cụ thể là Bộ Tài chính là tổ chức lập quy, chịu trách nhiệm ban

hành các văn bản pháp lý về kế toán. Khung pháp lý điều tiết hoạt động kế toán

DNNVV hiện nay bao gồm: Luật Kế toán và Nghị định hướng dẫn thi hành luật; Hệ

thống chuẩn mực kế toán và các thông tư hướng dẫn chuẩn mực; cùng với Chế độ

kế tốn hướng dẫn thực hành cơng tác kế tốn.

Luật Kế tốn là văn bản về kế tốn có giá trị pháp lý cao nhất, được Quốc

hội ban hành. Luật kế toán mới nhất được Quốc hội ban hành là Luật kế tốn 2015

ngày 20/11/2015 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017 nhằm thay thế cho Luật kế

toán 2003. Theo đó, Luật kế tốn 2015 quy định một số điểm mới và bổ sung về



95



đánh giá, ghi nhận giá trị hợp lý, báo cáo tài chính nhà nước, thời gian kiểm tra kế

tốn… Luật Kế tốn chi phối đến tồn bộ hoạt động kế toán và nội dung tổ chức,

thực hiện cơng tác kế tốn của các đơn vị kế toán trong nền kinh tế. Cùng với các

văn bản pháp lý khác, Luật Kế toán đã tạo lập được nền tảng pháp lý cho hoạt động

kế toán, giúp các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp tổ chức cơng tác kế

tốn, lập BCTC đảm bảo u cầu quản lý của nhà nước, của đơn vị và yêu cầu của xã

hội trong suốt thời gian qua. Trong nội dung Luật đã bổ sung một số điều về hoạt động

kinh doanh dịch vụ kế tốn - một loại hình dịch vụ có ý nghĩa to lớn hỗ trợ cơng tác kế

toán cho các DNNVV ở nước ta. Sau khi Luật kế tốn 2015 ra đời, ngày 30/12/2016,

Chính phủ đã ban hành Nghị định 174/2016/NĐ-CP nhằm hướng dẫn thi hành luật kế

toán mới. Đồng thời Nghị định 105/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính

trong lĩnh vực kế tốn, kiểm tốn độc lập vẫn tiếp tục có hiệu lực. Nghị định này quy

định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế tốn, kiểm tốn độc lập

với hình thức xử phạt, mức phạt khá nghiêm khắc, ngồi ra nghị định còn có các biện

pháp khắc phục hậu quả và thẩm quyền xử phạt.

Theo sau Luật Kế toán, Chuẩn mực kế toán Việt Nam là những quy định và

hướng dẫn các nguyên tắc, nội dung, phương pháp và thủ tục kế toán cơ bản, chung

nhất, làm cơ sở ghi chép kế toán và lập BCTC nhằm đạt được sự đánh giá trung thực,

hợp lý, khách quan về thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Bằng 05 quyết định Bộ Tài chính ban hành 26 Chuẩn mực kế toán đầu tiên của Việt

Nam, sự kiện này đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng của hệ thống kế toán Việt

Nam trong con đường hội nhập, tiến tới tạo dựng một khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực

kế tốn, tạo ra mơi trường kinh tế bình đẳng. Làm lành mạnh hóa các quan hệ và các

hoạt động tài chính, tạo ra sự cơng nhận quốc tế đối với Việt Nam trong quá trình hội

nhập với kinh tế quốc tế và khu vực.

Với các DNNVV, do có những đặc trưng riêng nên chỉ áp dụng đầy đủ 7 chuẩn mực kế

tốn thơng dụng, áp dụng khơng đầy đủ 12 chuẩn mực kế tốn và khơng áp dụng 7

chuẩn mực kế tốn do khơng phát sinh ở DNNVV hoặc do quá phức tạp không phù

hợp với DNNVV.



96



26 chuẩn mực kế toán Việt Nam VASs



DNNVV áp dụng

toàn bộ nội dung của

các chuẩn mực: VAS

01, VAS 05, VAS 14,

VAS 16, VAS 18,

VAS 23, VAS 26



DNNVV áp dụng

không đầy đủ: VAS

02, VAS 03, VAS 04,

VAS 06, VAS 07,

VAS 08, VAS 10,

VAS 15, VAS 17,

VAS 21, VAS 24,

VAS 29



DNNVV không áp

dụng: VAS 11, VAS

19, VAS 22, VAS 25,

VAS 27, VAS 28,

VAS 30



Chế độ kế toán DNNVV cũng được Bộ Tài chính xây dựng dựa trên việc áp

dụng và khơng áp dụng các chuẩn mực trên. Trong những năm qua, chế độ kế toán

DNNVV được ban hành, sửa đổi, bổ sung và hồn thiện khơng ngừng. Từ năm

1996, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Chế độ kế tốn doanh nghiệp vừa và nhỏ

theo quyết định 1177/TC/QĐ/CĐKT ngày 23/12/1996. Sau đó là Quyết định số

144/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001 quy định sửa đổi bổ sung chế độ kế toán

doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Quyết định 1177/TC/QĐ/CĐKT. Ngày 14/9/2006,

với Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC, Bộ Tài chính ban hành Chế độ kế toán

DNNVV thay thế Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ được ban hành theo

Quyết định 1177/TC/QĐ/CĐKT ngày 23/12/1996 và Quyết định số 144/2001/QĐBTC ngày 21/12/2001 của Bộ Tài chính.

Sau 10 năm thực hiện, Ngày 26/8/2016, Bộ Tài chính ban hành Thơng tư

133/2016/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế tốn DNNVV thay thế Quyết định

48/2006/QĐ-BTC ngày 30/9/2006 và có hiệu lực thi hành từ 1/1/2017. Theo đó,

Thơng tư 133/2016/TT-BTC có nhiều điểm mới đáng chú ý về chế độ kế toán áp

dụng cho DNNVV như đổi mới cách tiếp cận chính sách, đề cao tính khả thi áp

dụng trong thực tế doanh nghiệp, tách biệt kế toán và thuế, hướng đến phục vụ nhu

cầu quản trị, điều hành doanh nghiệp đồng thời cũng tiếp cận gần hơn thông lệ và



97



Chuẩn mực quốc tế. Nhìn chung chế độ kế tốn mới này mang tính cởi mở, linh

hoạt cao, đưa ra nhiều lựa chọn cho doanh nghiệp.

Chế độ kế toán DNNVV ban hành theo Thơng tư 133/2016/TT-BTC, ngồi

phần quy định chung bao gồm 05 chương:

- Chương II: Tài khoản kế toán: liệt kê các tài khoản kế tốn sử dụng, giải

thích nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép các tài khoản kế tốn;

- Chương III: Báo cáo tài chính, gồm: Quy định chung, danh mục báo cáo tài

chính và giải thích nội dung, kết cấu, phương pháp lập các chỉ tiêu trên báo cáo tài

chính doanh nghiệp;

- Chương IV: Chứng từ kế tốn

- Chương V: Sổ kế tốn và hình thức kế toán

- Chương VI: Tổ chức thực hiện

Hệ thống quy định pháp lý áp dụng cho DNNVV Việt Nam được trình bày chi

tiết trong phụ lục 2.11

Tóm lại, quy định pháp lý điều tiết hoạt động kế toán ở DNNVV được thiết

kế theo hướng dựa trên quy định pháp lý về kế tốn cho doanh nghiệp nói chung, có

giảm bớt các nguyên tắc cần tuân thủ, giảm bớt yêu cầu trình bày thơng tin, cắt bỏ

những quy định về những vấn đề không liên quan hoặc hiếm khi xảy ra ở DNNVV.

Tuy nhiên việc thu hẹp và rút gọn này còn mang nặng yếu tố cảm tính, chưa được

nghiên cứu một cách bài bản, khoa học.



2.3.1.2. Quy định pháp lý áp dụng tại DNNVV để lập và trình bày

báo cáo tài chính

Với câu hỏi “Khi lập BCTC, DNNVV dựa theo quy định pháp lý nào?” thì

7/7 kế tốn trưởng trả lời là doanh nghiệp mình lập BCTC dựa trên hướng dẫn của

chế độ kế toán. Một số chế độ kế tốn được nhắc đến như Thơng tư 133 (trước đây

là quyết định 48) hay thông tư 200. Trả lời cho câu hỏi “DNNVV khi lập BCTC có

tham chiếu thêm quy định trong chuẩn mực kế tốn khơng? Vì sao?” thì hơn 70%

khẳng định là khơng. Giải thích lý do của việc khơng tham chiếu thêm chuẩn mực

kế tốn, những người được phỏng vấn cho rằng



98



“Phạm vi của chuẩn mực rộng mà hoạt động kinh doanh và nhu cầu

thông tin của doanh nghiệp chúng tơi còn hạn chế nên việc tham chiếu chuẩn

mực kế tốn là khơng cần thiết. Ngồi ra khi đọc chuẩn mực, tôi thấy nhiều

thuật ngữ không rõ nghĩa, hướng dẫn chung chung, không được chi tiết cụ thể

như trong hướng dẫn của chế độ. Chế độ cũng được cập nhật một cách thường

xuyên nên việc vận dụng chế độ để lập BCTC sẽ đảm bảo yêu cầu tuân thủ pháp

luật của doanh nghiệp”.

Liên quan đến chế độ kế toán, theo quy định hiện hành, những BCTC của

DNNVV lập cho năm tài chính từ 2017 trở đi sẽ áp dụng theo Thông tư

133/2016/TT-BTC thay thế Quyết định 48. Thơng tư này được đánh giá chung là

mang tính cởi mở, linh hoạt cao, đề cao tính khả thi bằng cách đưa ra nhiều lựa

chọn cho doanh nghiệp như được lựa chọn biểu mẫu BCTC theo tính thanh khoản

giảm dần hoặc phân biệt ngắn hạn, dài hạn theo truyền thống. Chế độ kế toán này

cũng tách biệt kế toán và thuế, hướng đến phục vụ nhu cầu quản trị, điều hành

doanh nghiệp, tiếp cận gần hơn với thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, kết

quả phỏng vấn cho thấy 3/7 DNNVV không áp dụng thông tư 133 mà áp dụng ln

Thơng tư 200/2014/TT-BTC nên khơng có ý định chuyển sang Thông tư 133. Theo

những doanh nghiệp này, việc phát triển trong tương lai của doanh nghiệp là điều tất

yếu, doanh nghiệp sẽ không nhỏ và vừa mãi mà trong tương lai có thể trở thành

doanh nghiệp lớn. Vậy nên việc áp dụng trước Thông tư 200 chủ yếu dành cho

doanh nghiệp lớn sẽ tạo nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc minh bạch hóa

thơng tin và phát triển trong tương lai. Ngồi ra, 02 kế tốn trưởng cho rằng Thông

tư 200 dựa trên Quyết định 15 hướng dẫn quy định nhiều mục chi tiết hơn Quyết

định 48 hay Thơng tư 133, từ đó kế tốn viên dễ dàng áp dụng hơn. Một lý do nữa

cũng được người trả lời phỏng vấn nhắc đến là tại trường đại học, họ được đào tạo

về Quyết định 15 hay Thông tư 200 nên khi ra trường, việc lựa chọn áp dụng những

gì đã được học cho doanh nghiệp của mình là điều dễ hiểu.

Việc khảo sát bằng bảng hỏi trên diện rộng cũng cho thấy kết quả tương tự.

Tỷ lệ các DNNVV tuân theo hướng dẫn của Thông tư 133/ Quyết định 48 và Thông



99



tư 200 là tương đương. Tỷ lệ các DNNVV lập BCTC có tham chiếu thêm chuẩn

mực kế toán Việt Nam khá thấp, chỉ chiếm 11.5%.

Bảng 2.10: Quy định pháp lý áp dụng tại đơn vị

Quydinh

Số lượng

Tỷ lệ

Thong tu 133/ Quyet dinh 48

204

42.6

Thong tu 200/2014/TT-BTC

220

45.9

Tham chieu them Chuan muc ke toan Viet Nam

55

11.5

Khác

0

0

Tổng

479

100.0

(Nguồn: tác giả xử lý dữ liệu từ phần mềm SPSS 22)

Mặc dù trong phần tuyên bố về Chuẩn mực và chế độ kế toán áp dụng trên

Thuyết minh BCTC, các doanh nghiệp đều khẳng định “Công ty đã áp dụng các

Chuẩn mực kế toán Việt Nam và các văn bản hướng dẫn chuẩn mực do Nhà nước

ban hành” (Phụ lục 2.18. Báo cáo tài chính năm 2016 của Cơng ty cổ phần nội thất

Trần Gia) nhưng trên thực tế sự hiểu biết của kế tốn viên về Chuẩn mực kế tốn

còn hạn chế.

Bảng 2.11. Đánh giá về Chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện nay

Đánh giá về Chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện nay

Nội dung CM



CMKT khó



Ngơn ngữ trong Có nhiều điểm chưa tương



quá phức tạp với áp dụng hơn



CM quá hàn



thích giữa CMKT, CĐKT



Trung



DNNVV

3.85



Chế độ KT

4.13



lâm, khó hiểu

3.68



và thơng tư hướng dẫn

3.56



bình

Độ lệch



1.253



1.188



1.269



1.220



chuẩn

(Nguồn: tác giả xử lý dữ liệu từ phần mềm SPSS 22)

Đa số các kế toán viên cho rằng Chuẩn mực kế tốn khó áp dụng hơn chế độ

kế tốn với mức điểm trung bình lên đến 4.13. Các kế toán tại DNNVV chủ yếu quan

tâm đến việc ghi chép sổ kế toán và cung cấp BCTC cho đối tượng chính là cơ quan

thuế nên hầu như kế tốn làm theo chế độ kế toán và các văn bản pháp luật về thuế.

Kế toán ghi sổ và lập BCTC theo từng hướng dẫn chi tiết của chế độ, tuân thủ theo



100



chế độ chứ ít khi dùng xét đốn cá nhân trong q trình lập BCTC. Từ đó cho thấy

chuẩn mực kế toán vẫn chưa phổ biến và chưa thực sự có ích đối với DNNVV, nên

việc tn thủ và vận dụng chuẩn mực kế tốn vào thực tế còn hạn chế.



2.3.2. Thực trạng hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Việt Nam

2.3.2.1. Khảo sát về tầm quan trọng của từng báo cáo tài chính từ phía doanh

nghiệp nhỏ và vừa và so sánh với mức độ quan tâm từ phía người sử dụng

Khi được hỏi về “tầm quan trọng của từng BCTC trong hệ thống BCTC của

DNNVV” thì 5/7 kế tốn trưởng trả lời phỏng vấn đều khẳng định vai trò của

BCTHTC và BCKQHĐKD vì 2 báo cáo này thể hiện chi tiết tình hình tài sản,

nguồn vốn và kết quả hoạt động trong kỳ của doanh nghiệp. BCLCTT và Thuyết

minh BCTC chưa được đánh giá cao và kế tốn cũng khơng chú trọng lập. Từ các ý

kiến trả lời của người được phỏng vấn, tác giả tổng hợp thành 3 lý do chính giải

thích vai trò của BCLCTT và Thuyết minh BCTC khơng cao như sau:

Một là, chế độ kế tốn khơng u cầu mà chỉ khuyến khích DNNVV lập

BCLCTT (thơng tư 133/2016/TT-BTC) nên doanh nghiệp thấy việc lập BCLCTT là

không cần thiết, tốn kém thời gian, công sức và tiền bạc.

Hai là, nhu cầu sử dụng thông tin trên BCLCTT và Thuyết minh BCTC của

nhà quản trị chưa cao, dẫn đến chưa tạo áp lực cung cấp thông tin chất lượng cao

trên 2 báo cáo này. “Đa số nhà quản trị của DNNVV chỉ quan tâm đến kết quả kinh

doanh, tài sản, số tiền trong két và công nợ. Họ cho rằng chức năng chính của kế

tốn là kế tốn tài chính, và chưa nhận thức được vai trò tư vấn quản trị phục vụ cho

việc lập kế hoạch, đưa ra quyết định và kiểm sốt doanh nghiệp”.

Ba là, giới hạn về trình độ kế toán cũng là trở ngại lớn để doanh nghiệp lập

và trình bày BCLCTT cũng như Thuyết minh BCTC. “Nhiều DNNVV khơng dùng

phần mềm kế tốn hoặc dùng các phần mềm rẻ tiền, không tự động lập BCLCTT.

Ngay cả khi BCLCTT được tự động lập từ phần mềm theo phương pháp gián tiếp

thì vẫn còn khá nhiều sai sót so với tình hình thực tế. Tuy nhiên, các kế tốn viên

của DNNVV cũng khó có thể nhận ra và điều chỉnh những sai sót này”. Việc tự lập



101



BCLCTT dù theo phương pháp trực tiếp hay gián tiếp và Thuyết minh BCTC

dường như là khá khó khăn với kế tốn DNNVV. “Trước đây khi được đào tạo ở

trường đại học, chúng tơi cũng chủ yếu lập BCĐKT (BCTHTC), BCKQHĐKD, ít

khi được thực hành lập BCLCTT và Thuyết minh BCTC thì lại càng không, cho nên

đã sẵn tâm lý e ngại khi phải lập 2 báo cáo này”.

Kết quả khảo sát bằng bảng hỏi trên diện rộng cũng cho kết quả tương tự.

Bảng 2.12: Đánh giá về tầm quan trọng của từng BCTC từ phía DNNVV

C4.1

C4.2

C4.3

C4.4

Valid

323

323

323

323

N

Missing

0

0

0

0

Mean

3.65

3.82

2.92

3.04

Std. Deviation

1.091 1.154 1.236 1.045

(Nguồn: tác giả xử lý dữ liệu từ phần mềm SPSS 22)

Từ bảng tổng hơp này có thể thấy rằng, BCLCTT và Thuyết minh BCTC

không được đánh giá cao, với mức điểm trung bình tương ứng theo thang đo Likert

1-5 chỉ đạt ở mức 2.92 và 3.04, trong đó mức điểm trung bình của BCLCTT thấp

hơn Thuyết minh BCTC có thể do tính khơng bắt buộc lập báo cáo theo quy định

pháp lý hiện hành.

Như vậy, có thể thấy rằng vai trò của BCLCTT và Thuyết minh BCTC chưa

được các DNNVV đánh giá cao và cũng chưa chú trọng trong việc lập và trình bày

thơng tin bởi những lý do chủ quan xuất phát từ chính nội tại doanh nghiệp cũng

như những lý do khách quan bên ngoài.

So với mức độ quan tâm của người sử dụng thông tin về từng BCTC, có thể

thấy một số điểm tương đồng cũng như khác biệt.

Bảng 2.13: So sánh tầm quan trọng của từng BCTC giữa người sử dụng và

người cung cấp thông tin

BCTHTC BCKQHĐKD BCLCTT TMBCTC

Người sử dụng 3.55

Người cung cấp 3.65



3.78

3.82



3.32

2.92



3.49

3.04

Nguồn: tác giả tổng hợp



102



Từ kết quả so sánh ở trên, có thể thấy rằng BCKQHĐKD được người sử

dụng, cũng như doanh nghiệp quan tâm nhất, với mức điểm trung bình đánh giá về

tầm quan trọng tương ứng là 3.78 và 3.82. BCTHTC được người sử dụng thông tin

đánh giá ở tầm quan trọng thứ 2 (mức điểm trung bình là 3.55) trong bộ BCTC của

DNNVV Việt Nam. Đối chiếu với bên cung cấp thơng tin, có thể thấy rằng báo cáo

này được doanh nghiệp khá chú trọng trong việc lập và trình bày.

Thuyết minh BCTC ngày càng được người sử dụng quan tâm bởi tác dụng

làm rõ những con số tổng hợp được trình bày trên từng BCTC. Người sử dụng đánh

giá tầm quan trọng của báo cáo này với mức điểm trung bình là 3.49, gần tương

đương với BCTHTC (3.55). Tuy nhiên, kế toán doanh nghiệp chỉ đánh giá tầm quan

trọng của báo cáo này ở mức trung bình 3.04. Chính do chưa nhận thức được tầm

quan trọng của Thuyết minh BCTC nên nhiều DNNVV Việt Nam lập báo cáo này

với mục đích đối phó với quy định và chế độ, khơng nhằm mục đích cung cấp thơng

tin hữu ích cho người sử dụng.

Mặc dù đối với người sử dụng thông tin vai trò của BCLCTT ngày càng

quan trọng (mức điểm trung bình 3.32), nhưng xét từ phía DNNVV thì báo cáo này

lại chỉ được đánh giá ở dưới mức điểm dưới trung bình là 2.92. Chính từ nhận thức

vai trò kém quan trọng của BCLCTT nên thực tế tính tuân thủ khi lập BCLCTT của

DNNVV Việt Nam chưa thực sự cao, ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên

BCTC cung cấp cho người sử dụng.



2.3.2.2. Thực trạng vận dụng quy định pháp lý về lập và trình bày Báo cáo tài

chính doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

a. Về số lượng BCTC

Hệ thống BCTC theo quy định các DNNVV Việt Nam phải lập và nộp là:

- Báo cáo tình hình tài chính;

- Bảng cân đối tài khoản;

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh;

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (tự nguyện)



103



- Thuyết minh báo cáo tài chính.

Theo khảo sát mẫu điển hình gồm 10 doanh nghiệp vừa và 10 doanh nghiệp

nhỏ, thì kết quả cho thấy 20/20 doanh nghiệp đều lập BCTHTC, BCKQHĐKD và

TMBCTC theo đúng quy định của chế độ hiện hành.

Trong tổng số 20 bộ BCTC DNNVV Việt Nam mà tác giả khảo sát, ngoài 6

doanh nghiệp vừa niêm yết trên thị trường chứng khoán bắt buộc phải lập BCLCTT

theo quy định, thì có 6 DNNVV tự nguyện lựa chọn áp dụng Thông tư

200/2014/TT-BTC. Đây được coi là chế độ kế tốn tạo ra những thơng tin trên

BCTC đầy đủ và minh bạch hơn so với chế độ kế tốn dành riêng cho DNNVV, từ

đó những doanh nghiệp này phải lập thêm BCLCTT như một BCTC bắt buộc. Bên

cạnh đó, có 2 doanh nghiệp tự nguyện lập BCLCTT mặc dù đang áp dụng chế độ kế

toán dành cho DNNVV. Như vậy, ngoài 6 doanh nghiệp vừa niêm yết, có 8/14

DNNVV tự nguyện (trực tiếp hoặc gián tiếp) lập BCLCTT (tỷ lệ trên 50%). Điều

này chứng tỏ DNNVV đã ý thức được những lợi ích của việc tự nguyện công bố

thêm thông tin cho các đối tượng sử dụng bên ngoài doanh nghiệp. Thuyết minh

BCTC là 1 trong số những BCTC bắt buộc mà DNNVV phải lập. Tuy nhiên, trong

mẫu khảo sát thu thập được thì mức độ chi tiết của loại báo cáo này ở các doanh

nghiệp khác nhau là rất khác nhau. Ví dụ Thuyết minh BCTC của Công ty cổ phần

nội thất Trần Gia sơ sài hơn rất nhiều so với Thuyết minh BCTC của Công ty cổ

phần sơn Đồng Nai

Phụ lục 2.18. BCTC năm 2016 của Công ty CP nội thất Trần Gia

Phụ lục 2.19. BCTC năm 2017 của Công ty CP sơn Đồng Nai

b.Về trình bày BCTC

Đối với BCTHTC, qua khảo sát thực tế các bộ BCTC của DNNVV Việt Nam

cho thấy, các doanh nghiệp đều liệt kê tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu tại một thời

điểm. Các khoản mục tài sản, nợ phải trả được phân loại thành ngắn hạn nếu được thu

hồi hoặc thanh tốn trong vòng 12 tháng tới (hoặc 1 chu kỳ kinh doanh) kể từ ngày

kết thúc kỳ kế toán năm và ngược lại sẽ được phân loại thành dài hạn. Kết cấu của

BCTHTC được xây dựng theo kiểu bên trên bên dưới và cũng được sắp xếp theo mức



104



độ linh hoạt của tài sản hoặc tính thanh khoản của nguồn vốn.

Phụ lục 2.16. BCTHTC năm 2016 của Công ty Cổ phần xây dựng và trang

trí Nội thất Viễn Đơng

BCKQHĐKD của các DNNVV phản ánh tình hình kết quả kinh doanh trong

một thời kỳ. Kết quả này đều được trình bày theo kết cấu dọc dạng bảng chi tiết 3

loại hoạt động như sau: Hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài

chính và hoạt động khác.

Đối với cách trình bày BCLCTT, hầu hết các DN đều tuân thủ trình bày lưu

chuyển tiền theo ba hoạt động, gồm: Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh; Lưu

chuyển tiền từ hoạt động đầu tư và Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính. Dù tách

ra làm ba hoạt động rõ ràng khi thể hiện lưu chuyển dòng tiền thuần, nhưng quan

trọng nhất vẫn là dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, nó nói lên việc doanh nghiệp

hoạt động thực sự như thế nào. Còn hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính là thứ

yếu, một số doanh nghiệp khơng có dòng tiền lưu chuyển thuần từ hoạt động tài

chính hoặc hoạt động đầu tư; hoặc nếu có thì chỉ phát sinh ở một số chỉ tiêu chủ yếu

như Tiền lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận được chia (hoạt động đầu tư), Tiền thu từ

đi vay, Tiền trả nợ gốc vay (hoạt động tài chính). Điều này là hồn tồn phù hợp đối

với DNNVV khi quy mô chưa lớn và mức độ phức tạp của các hoạt động chưa cao.

Ví dụ BCLCTT năm 2016 của Công ty Cổ phần xây dựng và trang trí Nội thất Viễn

Đơng trình bày ở Phụ lục 2.16.

Phụ lục 2.16. BCLCTT năm 2016 của Công ty Cổ phần xây dựng và trang trí

Nội thất Viễn Đông

Thuyết minh BCTC của các DNNVV trong mẫu khảo sát đều được trình

bày thành 4 phần chính bao gồm:

- Thơng tin chung về doanh nghiệp

- Thơng tin về chính sách kế toán áp dụng: trong phần này doanh nghiệp

tổng hợp các chính sách kế tốn trọng yếu được áp dụng ví dụ như cơ sở (hoặc các

cơ sở) đo lường được sử dụng khi soạn thảo các BCTC; các chính sách kế tốn khác

được sử dụng mà có ý nghĩa trong việc hiểu được các BCTC

- Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong BCTHTC,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.9: Đánh giá của người sử dụng về chất lượng thông tin trên BCTC của DNNVV

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x