Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a. Thúc đẩy cơ cấu cây trồng vật nuôi và đa dạng hóa trong sản xuất nông nghiệp

a. Thúc đẩy cơ cấu cây trồng vật nuôi và đa dạng hóa trong sản xuất nông nghiệp

Tải bản đầy đủ - 0trang

55



Hình 3.2. Diện tích trồng rau màu và thủy sản giai đoạn 2012 - 2017

Sau khi dồn điền đổi thửa, hộ gia đình chuyển sang hƣớng chun canh, bên

cạnh đó đầu tƣ mở rộng trang trại mơ hình thủy sản, diện tích tăng đáng kể từ năm

2012 đến năm 2017, điển hình là tăng vọt từ năm 2015 diện tích trồng rau màu, các

loại cây hạt từ 167,2ha lên đến 230,3 ha ( năm 2017). Bên cạnh đó hình thức ni

thủy sản, thủy cẩm cũng phát triển, diện tích các trang trại của hộ gia đình tăng từ

356,7ha( năm 2015) lên đến 680,3ha ( năm 2017). Đây là bƣớc phát triển mang lại

hiệu quả kinh tế tốt cho ngƣời dân sau dồn điền đổi thửa.

- Mơ hình trang trại chăn nuôi tập chung đang dần mở rộng mang lại hiệu quả

cao cho ngƣời dân trong huyện.

Đặc biệt mơ hình phát triển trang trại chăn ni bò sữa đã tập trung 200 thửa

đất của 87 hộ nằm trên địa bàn 03 xã Thanh Lƣu, Liêm Thuận, Thanh Hà với hình

thức cho thuê đất dài hạn. Dự án này đã ổn định việc làm cho gần 200 lao động địa

phƣơng với thu nhập từ 4 – 6 triệu đồng/tháng.

b. Hiệu quả về kinh tế

Hiệu quả kinh tế của huyện Thanh Liêm từ công tác dồn điền đổi thửa đất

nông nghiệp đƣợc thể hiện qua các yếu tố sau:

- Tăng diện tích gieo trồng, hình thành các vùng chuyên canh đƣa cơ giới hóa,

khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng năng suất, nâng cao chất lƣợng sản phẩm: Dồn

điền, đổi thửa đã giảm đƣợc số thửa từ bình quân 5,4 thửa/ hộ xuống còn 1,5



56

thửa/hộ, tăng quy mơ diện tích cánh tác cho từng thửa đất(bình quân chung 564,97

m2/thửa lên tới 1.178,06m2/thửa). Cùng với giảm số thửa là việc phá bỏ bỏ bờ

ngăn của hàng ngàn ơ, thửa nhỏ cũng góp phân làm tăng thêm diện tích cánh tác

cho các xã. DĐĐT đất nông nghiệp không những tạo ra các thửa đất cánh tác có quy

mơ diện tích lớn hơn mà còn làm tăng diện tích canh tác gieo trồng, do số lƣợng bờ

thửa giảm đi. Việc tập trung ruộng đất, tạo điều kiện cho công tác quy hoạch lại

đồng ruộng, hệ thống thủy nông, hệ thống giao thông nội đồng, giao thơng nơng

thơn( đã có 186,06km giao thơng và 273,18km thủy lợi nội đồng đƣợc mở rộng và

làm mới), đã thúc đẩy đƣa cơ giới hóa, chuyển giao khoa học, kỹ thuật, cơng nghệ

vào sản xuất; khun khích những ngƣời có tiềm lực, kiến thức và kinh nghiệm

nhận đất, đấu thầu đất, tổ chức sản xuất, hình thành những mơ hình sản xuất mới,

phát triển kinh tế trang trại, sản xuất những nơng sản có chất lƣợng, giá trị kinh tế

cao đáp ứng nhu cầu thị trƣờng trong và ngoài nƣớc.

- Thúc đẩy quy hoạch lại đồng ruộng, xây dựng nông thôn mới: Thực hiện

DĐĐT đất nông nghiệp, đỏi hỏi phải quy hoạch lại hệ thống tƣới tiêu, thủy lợi, quy

hoạch lại giao thông nội đồng đề mọi ô, thửa ruộng sau DĐĐT đều tiếp giáp với

đƣờng giao thông nội đồng, hệ thống tƣới tiêu, thuận lợi cho việc đƣa máy móc, áp

dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Điều này đã thúc đẩy việc quy hoạch lại đồng

ruộng. Chính yêu cầu quy hoạch đồng ruộng, hình thành vùng sản xuất, tập trung

chun mơn hóa lại đòi hỏi phải quy hoạch lại nông thôn từng làng, xã và rộng hơn

là quy hoạch hoạch phát triển kinh tế xã hội toàn huyện. Nhƣ vậy, mơ hình chung

DĐĐT là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất không chỉ đến mở rộng diện tích các thửa

đất mà còn thúc đẩy, tác động mạnh đến quy hoạch lại đồng ruông, thủy lợi, giao

thông và quy hoạch tổng thể cho phát triển kinh tế xã hội của huyện.

- Thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật ni, hình thành các mơ hình sản

xuất hàng hóa đa dạng, hiệu quả trong nơng nghiệp: Sau DĐĐT quy mơ diện tích

mỗi thửa tăng, quy mơ diện tích đất canh tác của hộ (do dồn, ghép, chuyển đổi..)

cũng tăng lên; hệ thống tƣới tiêu, thủy lợi, giao thông nội đồng, giao thông nông

thôn đƣợc quy hoạch đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc cơ giới hóa, đƣa tiến bộ

khoa học công nghệ vào sản xuất, đầu tƣ thâm canh tăng vụ chuyển đổi cơ cấu cây

trồng vật ni theo hƣớng sản xuất hàng hóa. Những vùng đất trũng cấy lúa chỉ



57

đƣợc một vụ hoặc hai vụ bấp bênh đƣợc chuyển đổi sang đào ao nuôi cá, thủy đặc

sản khác có giá trị kinh tế cao.

- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cơ cấu kinh tế huyện:

DĐĐT đất nông nghiệp đã tạo ra các ơ thửa có quy mơ diện tích lớn giúp nơng dân

dễ dàng lựa chọn hình thức sản xuất phù hợp, sao cho đạt hiệu quả cao. Cùng với

việc tăng năng suất cây trồng và đất đai đƣợc sử dụng triệt để, hiệu quả đã làm cho

sản lƣợng lƣơng thực ngày một tăng, thu nhập của nông dân đƣợc cải thiện. Sau

DĐĐT các trang trại đã và đang đƣợc hình thành và phát triển mạnh tạo sự cân đối

mới trong phát triển ngành nông nghiệp, việc này đồng nghĩa với giảm tỷ trọng

ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản làm thay đổi

cơ cấu ngành nông nghiệp theo hƣớng giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn

nuôi đây là xu hƣớng tiến bộ. Sản xuất nơng sản hàng hóa phát triển nhanh sẽ thúc

đẩy thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm phát triển, kéo theo sự phát triển thị trƣờng cung

cấp đầu vào cho nông nghiệp nhƣ: thị trƣờng vốn, thị trƣờng vật tƣ, phân bón, thiết

bị, máy nơng nghiệp, dịch vụ vận chuyển... Sự phát triển của ngành nơng nghiệp

đến lƣợt nó lại thức đẩy các ngành công nghiệp chế biến, cung cấp đầu vào, khoa

học công nghệ cho nông nghiệp và tất yếu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa

bàn huyện.

Nhƣ vậy, có thể nói DĐĐT đất nơng nghiệp là một cuộc cách mạng trong

nông nghiệp, phá bỏ cái cũ (lề thói làm ăn nhỏ, lẻ, tự cung tự cấp) tạo ra bƣớc phát

triển mới trong sản xuất nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị

trƣờng, nhờ vậy đã tạo ra sự tăng trƣởng của ngành nông nghiệp, góp phần thúc đẩy

tăng trƣởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của huyện.

c. Thay đổi về diện tích:

Cơng tác dồn điền đổi thửa đã mang lại sự chuyển biến thay đổi lớn về mặt diện

tích của các thửa đất trên địa bàn huyện. Diện tích trung bình của từng thửa đƣợc

tăng lên thuận lợi hơn cho quản lý và canh tác.



58



Hình 3.3. Biểu đồ tổng diện tích đất nông nghiệp tham gia dồn đổi ruộng đất

Sau khi dồn điền đổi thửa, Các xã có diện tích đất nông nghiệp tham gia dồn

đổi ruộng đất do các hộ gia đình quản lý cao nhất là xã Thanh Hƣơng (504,93 ha)

và xã Liêm Sơn (507,83 ha) và thấp nhất là xã Thanh Hà với 60,38 ha.



59



Hình 3.4. Biểu đồ thể hiện sự thay đổi diện tích trung bình của một thửa trƣớc

và sau dồn điền đổi thửa

Biểu đồ trên cho thấy diện tích trung bình của các thửa sau dồn điền đổi thửa đƣợc tăng

lên rõ rệt. Xã càng có nhiều hộ tham gia dồn điền đổi thửa thì xã đó sự tăng về diện tích trung

bình trên 1 thửa càng lớn. Đặc biệt là các xã Liêm Sơn, Thanh Nguyên và Thanh Hƣơng có

mức đọ chênh lệch về diện tích trung bình trên thửa lớn nhất. Trên địa toàn địa bàn huyện cũng

cho thấy sự thay đổi rõ rệt về diện tích trung bình trên 1 thửa trƣớc và sau khi dồn điền cụ thể

là tăng từ 682,288m2/thửa lên 1163,195 m2/thửa sau khi dồn điền đổi thửa.

d. Hiệu quả xã hội



- Dồn điền đổi thửa không những tạo nên sự thay đổi lớn bộ mặt kinh tế nông

thôn mà nó còn có những tác động khơng nhỏ tới mọi mặt của đời sống xã hội ở

nơng thơn đóng góp vào cơng cuộc CNH - HĐH nơng nghiệp và nông thôn mà

Đảng và Nhà nƣớc ta đã đề ra. Cụ thể là:

- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao đông, phát triển ngành nghề: Trƣớc

DĐĐT, lao động của các hộ gia đình chủ yếu tham gia vào hoạt động sản xuất nông

nghiệp; sau ĐĐĐT ruộng đất đƣợc tập trung, quy mô các ô thửa lớn hơn, đồng

ruộng, hệ thống tƣới tiêu, thủy lợi, giao thông nội đồng, nông thôn đƣợc quy hoạch

làm mới, thuận tiện cho việc cơ giới hóa các khâu làm đất, chăm sóc, thu hoạch, vận

chuyển..., đã giảm lao động nông nghiệp, chuyển lao động dôi dƣ sang các hoạt

động phi nông nghiệp khác, điều này đã thúc đầy chuyển dịch cơ cấu lao động nông



60

thôn theo hƣớng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp sang phát triển ngành nghề

phi nông nghiệp - nhƣ chăn nuôi, tham gia lao động ở các khu công nghiệp, phát

triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, đa dạng hóa nghành nghề nơng thơn

- tạo việc làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho ngƣời dân. Sự chuyển dịch lao

động thể hiện rõ nhất ở nhóm hộ thuần nông. Trƣớc DĐĐT, đa số lao động trong

các hộ thuần nông chủ yếu làm nông nghiệp, sau DĐĐT lao động thuần nơng chỉ

còn hơn nửa, phần lớn các lao động chỉ tham gia hoạt động nông nghiệp khi mùa

vụ, thời gian nơng nhàn họ tìm việc trong các khu, cụm cơng nghiệp và các nghề

khác. Trong nhóm hộ kiêm ngành nghề và nhóm hộ nơng nghiệp dịch vụ, số lao

động thuần nông không đáng kể. Các nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển rộng

khắp, nhƣ: nghề mộc ở xã Thanh Tâm, xã Liêm Tiết...; nghề xây dựng ở xã Thanh

Tân, nghề cơ khí, sữa chữa ơ tơ, xe máy ở xã Thanh Hƣơng, xã Thanh Nguyên,...

Sự phát triển các làng nghề đã tạo việc làm và thu hút nhiều lao động dôi dƣ và lao

động nông nhàn trên địa bàn huyện.

- Giải quyết vấn đề việc làm: Công tác DĐĐT đã tạo điều kiện cho sự hình

thành các trang trại, các mơ hình sản xuất với quy mơ lớn và thâm canh tăng vụ trên

địa bàn, đã tận dụng triệt để nguồn lực lao động ở địa phƣơng.

- Sau DĐĐT đƣợc sự hỗ trợ trong sản xuất của các cấp, các ngành về vốn, về

cơ sở hạ tầng... thì các hộ nơng dân có điều kiện đầu tƣ cho sản xuất với quy mô lớn

hơn. Điều này đã làm tăng thu nhập cho các hộ nơng dân, do đó đã giảm tỷ lệ hộ đói

nghèo so với trƣớc.

- Dồn điền đổi thửa đã tạo nên sự thay đổi trong kinh tế hộ nông dân, thu nhập

của hộ nông dân tăng lên đáng kể, mức tiêu dùng của hộ nông dân tăng lên, nông

nghiệp dịch vụ phát triển. Đời sống đƣợc nâng lên, việc đầu tƣ cho giáo dục cũng

đƣợc chú trọng hơn, con em đủ tuổi đủ tuổi đều đƣợc đến trƣờng, chiếm 100%. Mặt

khác khi đƣa cơ giới hoá vào sản xuất đã giải phóng phần nào sức lao động.

- Tạo phong trào cách mạng sôi nổi ở nông thôn: DĐĐT đất nông nghiệp tác

động trực tiếp tới lợi lợi ích thiết thực của ngƣời dân - là xóa bỏ tình trạng

mạnh mún, nhỏ lẻ của các ơ thửa nhỏ, phân tán, hình thành những ơ thửa có diện

tích lớn tập trung, thuận tiện cho canh tác, sản xuất kinh doanh của ngƣời dân - vì



61

vậy đã đƣợc ngƣời dân đồng tình sơi nổi, hồ hởi, nhiệt tình, tham gia, tình cảm

làng xóm, quan hệ hợp tác, tƣơng trợ giúp đỡ lẫn nhau thêm gắn bó. DĐĐT thực

sự tao ra khí thế mới mang tính cách mạng của quần chúng nhân dân, góp phần

đổi mới tƣ duy, cách nghĩ, cách làm của ngƣời nông dân. DĐĐT cũng là dịp thể

hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp bộ Đảng, của chính quyền và của các đồn

thể xã hội; nói cách khác là sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị đối với nơng

dân và sự nghiệp phát triển nông nghiệp, kinh tế - xã hội nông thôn, đã tác động

sâu sắc tới những vấn đề chính trị, xã hội ở nông thôn. DĐĐT đã không gây sáo

trộn, bất ổn chính trị, xã hội ở nơng thơn, trái lại đã tạo đƣợc sự đồng thuận, đồn

kết, gắn bó tình làng nghĩa xóm, cùng nhau xây dựng cuộc sồng ngày càng tốt

đẹp ở nơng thơn. Trên địa bàn tồn huyện, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây

dựng đời sống văn hóa”

- Cùng với các chủ trƣơng chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, DĐĐT thực sự

là cuộc cách mạng lớn về ruộng đất, thay đổi tƣ duy của ngƣời dân trong sản xuất

nơng nghiệp, nó đã tác động đến quyết định sản xuất của các hộ dân chuyển dần

nền nông nghiệp sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất theo hƣớng hàng hố.

3.3.ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÍCH TỤ ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN

THANH LIÊM

3.3.1. Chủ trương, chính sách và một số kết quả đạt được về tích tụ tập

trung đất nông nghiệp tại huyện Thanh Liêm

Thực hiện công tác giao ruộng ổn định, lâu dài theo Nghị quyết 10- NQ/TW

của Bộ chính trị (khóa VI) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, công tác giao

đất nông nghiệp lâu dài ở huyện Thanh Liêm đã phải phân chia nhỏ các thửa ruộng

cho từng hộ gia đình, cá nhân để đảm bảo tính “cơng bằng xã hội”, làm sao hộ nào

cũng có ruộng tốt - ruộng xấu; có ruộng xa - ruộng gần dẫn tới việc đất nông nghiệp

ở đây khá manh mún, nhỏ lẻ.

Năm 2013, luật Đất đai đƣợc ban hành cùng với các Nghị định, Thông tƣ, các

văn bản hƣớng dẫn thi hành Luật, các văn bản triển khai nhiệm vụ của UBND tỉnh

Hà Nam, Sở Tài nguyên và Môi trƣờng, trong những năm qua huyện Thanh Liêm

đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hƣớng dẫn các phòng, ban, ngành của huyện và



62

các xã thực hiện nhiệm vụ về quản lý Nhà nƣớc về đất đai tại địa phƣơng, góp phần

ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Cụ thể:

- Chƣơng trình số 02/CT-HU, ngày 12/12/2011 của Huyện ủy Thanh Liêm; Kế

hoạch số: 61/KH-UBND, ngày 11/04/2012 của UBND huyện về triển khai thực

hiện chƣơng trình phát triển nơng nghiệp nơng thôn mới từng bƣớc nâng cao đời

sống nông dân giai đoạn 2011-2015.

- Nghị quyết số 19-NQ/HU, ngày 25/6/2012 của ban chấp hành Huyện ủy

Thanh Liêm về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cơng tác tích tụ đất nơng nghiệp gắn

với xây dựng nông thôn mới đến năm 2015 và những năm tiếp theo.

- Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐND, ngày 29/06/2012 của HĐND huyện

Thanh Liêm phê chuẩn đề án tích tụ đất nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn

mới giai đoạn 2012-2016.

- Đề án số 113/ĐA-UBND, ngày 06/07/2012 của UBND huyện Thanh Liêm

về việc tích tụ đất nơng nghiệp đất sản xuất nông nghiệp gắn với xây dựng nông

thôn mới trên địa bàn huyện Thanh Liêm giai đoạn 2012-2016.

- Kế Hoạch số 117/KH-UBND, ngày 12/07/2015 của UBND huyện Thanh

Liêm về thực hiện tích tụ đất nơng nghiệp năm 2015 và những năm tiếp theo.

- Quyết định số: 319/QĐ-UBND ngày 10/04/2013 của UBND huyện Thanh

Liêm về việc kiện toàn Ban chỉ đạo cơng tác tích tụ đất nơng nghiệp và cấp lại giấy

chứng nhận QSDĐ sau dồn điền.

- Quyết định số: 281/QĐ-UBND, ngày 03/04/2016 của UBND huyện Thanh

Liêm về phân công nhiệm vụ các thành viên Ba chỉ đạo tích tụ đất nông nghiệp sản

xuất nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thanh Liêm

- Các văn bản hƣớng dẫn của các phòng ban ngành UBND huyện.

Nhờ các chủ trƣơng, chính sách phù hợp, cơng tác tích tụ, tập trung đất nông

nghiệp tại huyện Thanh Liêm đã đạt đƣợc một số thành tựu:

- Tính đến thời điểm 31/01/2014, 17 xã, thị trấn đã thực hiện cơ bản xong

nhiệm vụ trong quy trình dồn đổi ruộng đất nơng nghiệp theo kế hoạch của UBND

huyện.



63

- Công tác đo đạc hiện trạng đất nơng nghiệp đã hồn thành 100% và đã tìm ra

khoảng 161 ha đất nơng nghiệp từ khi giao ruộng đến nay chƣa quản lý đƣợc.

- Đất công ích do UBND xã, thị trấn quản lý đã cơ bản đƣợc quy hoạch vào

gọn vùng gọn thửa để cho thuê theo quy định của Luật đất đai.

- Công tác rà soát, cập nhật, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch xây dựng nông

thôn mới đã đƣợc triển khai, tổ chức thực hiện theo đúng quy trình quy phạm. Đặc

biệt quy hoạch giao thông, thuỷ lợi nội đồng đã đƣợc rà soát kỹ, sát với yêu cầu từ

thực tiễn sản xuất hiện nay. Đồng thời đầu tƣ xây dựng, hoàn chỉnh giai đoạn 1 hệ

thống giao thông thủy lợi nội đồng theo đúng quy hoạch đã thực hiện đƣợc đúng

yêu cầu đặt ra là DĐRĐ gắn với quy hoạch kiến thiết lại đồng ruộng.

- Từng bƣớc lập Kế hoạch triển khai DĐRĐ NN, tổ chức rà soát, cập nhật điều

chỉnh bổ sung quy hoạch xây dựng nông thôn mới, đo đạc hiện trạng đất nông nghiệp

và thực hiện các bƣớc công việc theo quy trình kế hoạch đã có sự phối hợp chặt chẽ

giữa các ngành TN&MT, Công thƣơng, NN&PTNN với UBND các xã, thị trấn.

3.3.2. Chuyển nhượng đất nông nghiệp ở hộ gia đình

Cải cách đất đai của Việt Nam kể từ năm 1986 đến nay đã góp nhần rất lớn

vào tăng trƣởng nông nghiệp. Nghị quyết 10 của Ban chấp hành trung ƣơng Đảng

cơng sản Việt nam khóa Vi năm 1988 đã tạo ra một bƣớc đột phá trong cải cách đất

đai. Lần đầu tiên, hộ nông dân đƣợc thừa nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ, có

quyền bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trƣớc pháp luật. Đất đai đƣợc giao

ổn định và lâu dài. Cùng với quá trình cải cách, Luật đất đai ra đời năm 1993 đã

đánh dấu một bƣớc thể chế hóa các giao dịch về đất. Sau các lần sửa đổi và bổ sung

năm 1998 và 2003, các hộ gia đình đã đƣợc quyền chuyển nhƣợng, trao đổi và thừa

kế, cho thuê và thế chấp đất. Tuy nhiên, toàn bộ đất đai ở Việt Nam vẫn thuộc sở

hữu toàn dân và do Nhà nƣớc thống nhất quản lý theo Luật đất đai.

Theo thống kê của Phòng nơng nghiệp của UBND huyện Thanh Liêm, tổng số

vụ chuyển nhƣợng ở huyện Thanh Liêm là 125 vụ vào giai đoạn 2003 – 2011 và

tăng dần lên 156 vụ vào giai đoạn 2012 – 2017. Một hộ có thể chuyển nhƣợng 1

hoặc nhiều lần, có thể mua rồi bán lại nhiều lần trong năm. Thống kê số hộ nhận

chuyển nhƣợng (có thể nhận một hoặc nhiều lần) có ở địa bàn điều tra cho thấy, tính



64

trung bình các thời điểm nghiên cứu có 10,5% số hộ đã từng nhận chuyển nhƣợng

đất giai đoạn 2012 – 2017, cao hơn giai đoạn 2003 – 2011 là 5,76%. Nhƣ vậy, trong

nông nghiệp, tỷ lệ % các hộ đã nhận chuyển nhƣợng đất nơng nghiệp khơng nhiều

vì những ngun nhân khác nhau. Chính điều đó làm thị trƣờng quyền sử dụng đất

nông nghiệp kém sôi động, cản trở q trình tích tụ đất nơng nghiệp, hình thành các

vùng sản xuất hàng hóa tập trung.

Bảng 3.6. Số hộ nhận chuyển nhƣợng theo giai đoạn

Đơn vị: hộ gia đình

STT



Nhóm hộ nhận chuyển

nhƣợng



1



Nhóm hộ quy mơ nhỏ



2



Nhóm hộ quy mơ trung bình



3



Nhóm hộ quy mơ lớn



Diện tích

< 2ha

2ha –

5ha

>5ha



Năm



Năm



Năm



2013



2015



2017



675



892



1562



190



278



412



5



8



14



Nguồn: Cục thống kê tỉnh Hà Nam

Nhƣ vậy, thấy rõ đƣợc số hộ nhận chuyển nhƣợng đất đai phục vụ tích tụ trên

địa bàn huyện có xu hƣớng tăng nhanh theo giai đoạn, cụ thể: với quy mô nhỏ (

<2ha), từ năm 2013 đến năm 2015, số hộ nhận chuyển nhƣợng tăng 217 hộ nhƣng

đến giai đoạn năm 2015 đến 2017 đã tăng lên 670, gấp hơn 3 lần so với giai đoạn

2013 – 2015. Với quy mơ trung bình, số hộ nhận chuyển nhƣợng tăng gấp 1,5 lần,

giai đoạn 2013 – 2015 tăng 88 hộ, giai đoạn 2015 – 2017 tăng 134 hộ. Với quy mô

lớn, giai đoạn 2015 – 2017 gấp 2 lần so với giai đoạn 2013 – 2015.

Các thửa đất nơng nghiệp tại huyện còn khá nhỏ và manh mún, diện tích mỗi

thửa chỉ khoảng từ 200 m2 – 400m2, dẫn đến diện tích đất nơng nghiệp trung bình

của mỗi vụ nhận chuyển nhƣợng ở mỗi xã khá nhỏ.



65

Bảng 3.7 Diện tích đất nơng nghiệp trung bình của mỗi vụ nhận chuyển nhượng

Đơn vị: m2



STT



Xã/thị trấn



Diện tích nhận chuyển nhƣợng trung bình



1



Thanh Bình



278



2



Thanh Lƣu



237



3



Liêm Thuận



297



4



Thanh Thủy



218



5



Thanh Phong



248



6



Thanh Hà



206



7



Thanh Hải



290



8



Thanh Hƣơng



275



9



Thanh Nghị



234



10



Thanh Tâm



249



11



Thanh Tân



285



12



Liêm Sơn



279



13



Thanh Nguyên



260



14



Liêm Túc



270



15



Liêm Phong



282



16



Liêm Cần



227



17



Thị Trấn Kiện Khê



285



Chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất theo cơ chế thị trƣởng, thuận mua vừa bán,

thỏa thuận giá cả giữa hai bên, Nhà nƣớc chỉ đóng vai trò theo dõi và quản lỷ biến

động đất đai theo quy định.

Theo quy định, tất cả các trƣờng hợp chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất phải

làm thủ tục sang tên, chuyển quyền sử dụng đất từ ngƣời này sang ngƣời khác và

nộp đầy đủ phí, lệ phí theo quy định. Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều trƣờng hợp

chuyển nhƣợng đất cho nhau chỉ viết giấy trao tay hoặc có làm chứng của một

ngƣời khác nhƣng hiện tại, hình thức này đang giảm nhanh do nhận thức của ngƣời

dân tăng, hình thức qua công chứng và đến cơ quan quản lý ngày càng tăng và



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. Thúc đẩy cơ cấu cây trồng vật nuôi và đa dạng hóa trong sản xuất nông nghiệp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×