Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1 . TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1 . TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

4

Tập trung đất nông nghiệp là việc tự nguyện dồn, góp một số mảnh đất từ

một hay nhiều ngƣời để cùng hợp tác,liên kết sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế

cao hơn nhƣng khơng có chuyển đổi về quyền sử dụng đất.

1.1.3. Vai trò tích tụ, tập trung đất đai đối với phát triển nông nghiệp và

kinh tế xã hội.

Chính sách tích tụ, tập trung đất đai đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta đặc biệt

quan tâm, nhằm tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, phát triển nông nghiệp quy mô

lớn, ứng dụng khoa học công nghệ cao nhằm tạo ra khối lƣợng sản xuất hàng hóa

nơng nghiệp đạt yêu cầu về cả chất lƣợng lẫn số lƣợng.

Trong đó, nhằm triển khai chính sách tích tụ, tập trung đất đai một cách

hiệu quả, việc nghiên cứu và đƣa ra góc nhìn tổng qt về hệ thống pháp luật liên

quan đến tích tụ, tập trung đất đai, từ đó bình luận các quy định pháp luật và đề

xuất giải pháp khắc phục là vơ cùng cấp bách. Qua đó, góp phần điều hòa lợi ích

và bảo vệ quyền lợi của ngƣời có quyền sử dụng đất và các nhà đầu tƣ/doanh

nghiệp trong đầu tƣ, khai thác sử dụng quyền sử dụng đất, đồng thời tìm ra các

giải pháp hiệu quả trong việc thi hành chính sách tích tụ, tập trung đất đai trên

thực tế. Vì vậy, cần nghiên cứu từ góc độ liên ngành, trên cơ sở đƣờng lối, quan

điểm của Đảng và Nhà nƣớc và chính sách phát triển kinh tế trong đó có phát

triển kinh tế nơng nghiệp, gắn với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của từng địa

phƣơng xuyên suốt qua các thời kỳ lịch sử [7].

1.1.4. Tích tụ, tập trung đất nơng nghiệp.

1.1.4.1. Khái niệm đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp

a. Đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp đƣợc định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích sản xuất,

nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm

muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nơng nghiệp bao gồm đất sản xuất

nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông

nghiệp khác.

Phân loại đất nông nghiệp: Theo điều 10 Luật Đất Đai năm 2013 căn cứ vào

mục đích sử dụng đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau:



5

- Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm

khác; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng

đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối.

- Đất nông nghiệp khác bao gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các

loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không

trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại

động vật khác đƣợc pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy

sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ƣơm tạo cây giống, con

giống và đất trồng hoa, cây cảnh.

Đất nơng nghiệp có sự khác biệt rõ rệt với các loại đất khác, nó có vai trò

quan trọng trong sự phát triển ngành nông nghiệp, là tƣ liệu sản xuất đặc biệt, là

thành phần quan trọng của môi trƣờng sống [5], là nơi tạo ra giá trị sản xuất và

thu nhập của các hộ dân. Nếu con ngƣời biết cách sử dụng các công thức luân

canh cây trồng phù hợp với từng loại đất sẽ đảm bảo đƣợc năng suất cho cây

cũng nhƣ đảm bảo đƣợc tính bền vững trong q trình sử dụng đất

nơng nghiệp.

a. Sử dụng đất nông nghiệp

Sử dụng đất nông nghiệp là hành vi lấy đất kết hợp với sức lao động, vốn để

sản xuất nơng nghiệp tạo ra lợi ích.

Sử dụng đất nơng nghiệp chính là những tác động tích cực, đơi khi có cả tác

động tiêu cực của các hộ sản xuất nông nghiệp trên thửa đất mà hộ đƣợc giao

quyền sử dụng đất. Ngày nay, khi xã hội phát triển, sử dụng đất nông nghiệp

không chỉ đơn thuần trồng cây, nuôi vật nuôi trên đất mà phải thiết kế đồng

ruộng, với cách quản lý phù hợp, quy mô sử dụng đất hợp lý nhằm đáp ứng nhu

cầu của ngƣời tiêu dùng, cải thiện thu nhập cho hộ dân trong quá trình hội nhập

kinh tế thế giới [5]. Đặc biệt, trong thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nƣớc cần phải có những cách thức sản xuất hiện đại, áp dụng các loại máy móc,

cơ giới hóa và tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm hƣớng tới một nền sản xuất hàng

hóa tập trung.

1.1.4.2. Sự cần thiết phải tích tụ đất nơng nghiệp

Tích tụ ruộng đất là q trình tập trung ruộng đất từ nhiều thửa nhỏ thành



6

thửa lớn, từ nhiều chủ sử dụng đất (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) vào một số chủ

sử dụng đất có khả năng vốn, lao động, kinh nghiệm quản lý để sản xuất hàng

hóa. Từ thực tiễn ở Việt Nam cho thấy sự cần thiết của tích tụ đất nơng nghiệp để

hƣớng tới sản xuất hàng hóa bởi:

- Việc giao đất cho các hộ dân theo tinh thần cho các hộ gia đình, cá nhân

đã gặp một số khó khăn;

- Kết quả của việc giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình là tình trạng đất

đai manh mún, nhỏ lẻ cụ thể: cả nƣớc có 75 triệu thửa đất, bình qn mỗi hộ có

6-8 thửa với khoảng 0,3 – 0,5 ha/hộ. Đồng bằng sơng Hồng là khu vực có quy

mơ sản xuất nông nghiệp của các hộ dân dƣới 0,5 ha là nhiều nhất (chiếm

94,46%), Đông Nam Bộ là khu vực có quy mơ sản xuất nơng nghiệp của các hộ

dân trên 3 ha là nhiều nhất (chiếm 12,16%). Tình trạng này sẽ gây khó khăn

trong q trình sản xuất đặc biệt là việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, áp dụng cơ

giới hóa, tăng chi phí sản xuất .

- Phong tục và thói quen sản xuất nơng nghiệp manh mún và nhỏ lẻ của

ngƣời dân hiện nay là một trong số các nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của

sản xuất nơng nghiệp. Ngồi ra, hiện nay quỹ đất nơng nghiệp bị thu hẹp do phải

chuyển sang các mục đích khác nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.

Do vậy, tổ chức quản lý và sử dụng quỹ đất trong điều kiện quy mô nhỏ, lại

manh mún là vấn đề rất khó khăn, khơng thể sản xuất tập trung, khơng thể sản

xuất hiệu quả cao. Chính vì vậy, cần phải có phƣơng thức mới làm thay đổi thói

quen sản xuất nhỏ lẻ, manh mún đó là tích tụ đất nơng nghiệp sản xuất theo

hƣớng hàng hóa.

Hiện nay, tích tụ đất nơng nghiệp đang diễn ra tại các địa phƣơng nhằm

khắc phục tình trạng manh mún đất nơng nghiệp cũng nhƣ hƣớng tới nền sản

xuất nông nghiệp hàng hóa nhƣ điển hình một số tỉnh: Bắc Ninh, Thái Bình,

Nghệ An, Nam Định, Hà Nam, Bắc Giang. Thực tế, có nhiều mơ hình thực hiện

thành cơng với việc hình thành các trang trại quy mơ lớn đạt tiêu chí mới và thủ

tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại.

1.1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ, tập trung đất nơng nghiệp

a. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước:

Yếu tố này có vai trò quan trọng trong việc tích tụ, tập trung đất đai, nó là

yếu tố thúc đẩy hoặc ngƣợc lại là yếu tố cản trở q trình tập trung tích tụ đất



7

nơng nghiệp. Khi chính sách nhà nƣớc chƣa cho phép chuyển nhƣợng (mua bán)

đất đai thì khơng có thị trƣờng đất đai hợp pháp. Có chăng chỉ có thị trƣờng

ngầm, các hoạt động mua bán là bất hợp pháp, trái pháp luật, do vậy, nếu có giao

dịch sẽ là bất hợp pháp và mang nhiều rủi ro.

Có thể nói, các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc là một trong

những yếu tố quan trọng nhất ảnh hƣởng tới tích tụ, tập trung đất nông nghiệp

hiện nay ở nƣớc ta. Yếu tố này sẽ thúc đẩy, hay kìm hãm q trình tích tụ tập

trung đất đai trong thời gian tới.

b. Yếu tố thị trường

Yếu tố thị trƣờng là yếu tố khá quan trọng của q trình tích tụ đất đai. Khi

nền kinh tế là nền kinh tế tập trung bao cấp thì khi đó mọi nguồn lực, nhất là đất

đai đƣợc tập trung hóa cao độ ở các HTX, khi đó đất đai đƣợc tập trung vào kinh

tế tập thể, khơng có chỗ cho tích tụ đất đai [6].

Chỉ khi cơ chế tập trung bao cấp khơng còn phù hợp, các HTX khơng còn

vai trò, đất đai đƣợc chia cho nơng dân, nơng dân đƣợc giao quyền sử dụng đất,

trong đó có quyền chuyển nhƣợng, quyền thuê mƣớn, quyền góp đất ... là điều

kiện để nơng dân có thể tham gia thị trƣờng quyền sử dụng đất, tham gia các q

trình tích tụ tập trung đất đai.

Nền kinh tế chuyển dần từ bao cấp sang kinh tế thị trƣờng xã hội chủ nghĩa,

và đang ngày càng hòa nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới; khi đó yêu cấp

thiết là phải chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc, sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất tập

trung, sản xuất hàng hóa, có quy mơ lớn.

Thị trƣờng đòi hỏi phải có nơng sản hàng hóa tập trung, có chất lƣợng cao

và đồng đều thì đất đai nhỏ lẻ phân tán khơng còn phù hợp nữa. Muốn có sản

xuất hàng hóa tập trung thì buộc phải tích tụ đất đai thành các tranh trại, hoặc là

tập trung đất đai trong các liên kết trong sản xuất.

Nhƣ vậy nhu cầu của nền sản xuất hàng hóa tập trung đã đòi hỏi phải có

tích tụ tập trung đất nông nghiệp, đây là yếu tố thúc đẩy q trình tích tụ, tập

trung đất nơng nghiệp.



8

c. Các yếu tố về kinh tế -xã hội

- Sự phát triển của các ngành phi nông nghiệp (công nghiệp, dịch vụ ...)

không chỉ chiếm đất nông nghiệp, mà quan trọng hơn, tạo thêm nhiều việc làm,

tăng thu nhập, thu hút lao động từ nơng nghiệp, làm cho nhiều hộ có quyền sử

dụng đất nhƣng khơng có lao động để làm sản xuất, là điều kiện cần thiết để các

hộ này chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất cho ngƣời khác.

- Sản xuất phát triển, kinh tế tăng trƣởng, thu nhập của nông dân ngày càng

cao là điều kiện quan trọng, không chỉ nâng cao về nhận thức mà còn giúp họ có

tiền vốn để mua đất, thu đất cho tích tụ tập trung đất nông nghiệp.

- Hiệu quả sản xuất nông nghiệp là yếu tố quan trọng, những ngƣời có

nguồn vốn họ chỉ đầu tƣ khi có lãi, trong trƣờng hợp này, họ bỏ vốn mua đất,

thuê đất sản xuất nông nghiệp phải có lãi, nghĩa là sản xuất nơng nghiệp phải

mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với gửi lãi suất ngân hàng.

- Yếu tố về lao động, vốn sản xuất và cơ sở hạ tầng: Ngƣời lao động phải có

trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật về

kinh nghiệm sản xuất tiên tiến. Trong sản xuất phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật

mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học vào sản xuất nhằm đem lại lợi nhuận

cao. Trình độ học vấn và trình độ chun mơn, cũng nhƣ kinh nghiệm sản xuất

của ngƣời chủ hộ có vị trí quan trọng, ảnh hƣởng trực tiếp đến sự thành cơng và

thất bại trong sản xuất hàng hố của hộ nông dân.

- Vốn là điều kiện không thể thiếu trong q trình sản xuất kinh doanh. Nó

là một yếu tố cơ bản của q trình sản xuất và lƣu thơng hàng hoá. Hiện nay với

kỹ thuật canh tác tiên tiến, công cụ sản xuất nông nghiệp đã không ngừng đƣợc

cải tiến và đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho các hộ nông dân đã đƣa năng suất

cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng lên, chất lƣợng sản phẩm đƣợc đảm bảo tốt

hơn. Do đó nó ảnh hƣởng rất lớn đến kết quả sản xuất hàng hoá của hộ nông dân.

- Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm: đƣờng giao

thông nông thôn, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống điện, trang thiết bị trong nơng

nghiệp... Đây là yếu tố quan trọng trong q trình phát triển sản xuất nơng nghiệp

hàng hố quy mơ lớn. Thực tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển nơi đó

sản xuất phát triển, thu nhập tăng, đời sống của các hộ nông dân đƣợc cải thiện.



9

- Cách nghĩ, quan niệm của ngƣời nông dân về đất đai: Khi nông dân nghĩ

quyền sử dụng đất nông nghiệp là một tài sản để dành cho bản thân và các thế hệ

sau của họ thì họ sẽ tìm mọi cách giữ lại mà không muốn chuyển nhƣợng cho

ngƣời khác mặc dù họ khơng có nhu cầu sử dụng. Nếu ngƣời nông dân quan

niệm quyền sử dụng đất nông nghiệp là tƣ liệu sản xuất, là một hàng hóa có giá

trị trên thị trƣờng, thì họ sẵn sàng bán đi khi khơng có khơng sử dụng và ngƣợc

lại sẽ mua về khi có nhu cầu.

d. Các nhân tố về khoa học kỹ thuật công nghệ

- Yếu tố kỹ thuật canh tác: Do điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi

vùng có khác nhau, với yêu cầu giống cây, con khác nhau đòi hỏi phải có kỹ

thuật canh tác khác nhau. Trong nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của

từng vùng, từng địa phƣơng có ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông

nghiệp và phát triển kinh tế hộ nơng dân sản xuất hàng hố.

- Yếu tố ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ: Việc ứng dụng tiến bộ

khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất hàng hố phát triển, thậm chí những tiến bộ

kỹ thuật có thể làm thay đổi hẳn trình độ sản xuất hàng hoá của một vùng.

- Yếu tố về hợp tác trong sản xuất kinh doanh: Trong nền kinh tế hàng hố

nhiều thành phần, để cạnh tranh có hiệu quả các hộ nơng dân càng cần có sự hợp

tác, liên doanh liên kết để có thêm nguồn vốn, nguồn nhân lực cũng nhƣ kinh

nghiệm sản xuất để sản xuất nơng nghiệp có hiệu quả cao hơn.

e. Yếu tố điều kiện tự nhiên

Nông nghiệp là một ngành kinh tế đặc thù với những đặc điểm riêng biệt, vì

vậy sản xuất nơng nghiệp cũng có những nét đặc trƣng riêng, khơng giống bất cứ

một ngành sản xuất nào trong nền kinh tế. Kết quả của sản xuất nông nghiệp chịu

nhiều ảnh hƣởng của điều kiện tự nhiên nhƣ: vị trí địa lý, điều kiện thời tiết khí

hậu, chế độ thổ nhƣỡng và nền địa hình. Đặc biệt, khi tích tụ đất nơng nghiệp để

sản xuất quy mơ lớn thì điều kiện tiên quyết phải có những nghiên cứu, phân tích,

đánh giá rất sâu sắc về các yếu tố điều kiện tự nhiên của vùng, chất lƣợng đất cũng

nhƣ các đặc điểm của đất, địa hình của từng vùng miền. Chất lƣợng đất tốt hay xấu

ảnh hƣởng rất lớn tới quá trình thực hiện đầu tƣ và thành quả thu đƣợc.



10

Vị trí địa lý: Vị trí địa lý có ảnh hƣởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp

và đến sự phát triển sản xuất hàng hóa quy mơ lớn. Những vị trí thuận lợi nhƣ

gần đƣờng giao thông, gần cơ sở chế biến nông sản, gần thị trƣờng tiêu thụ sản

phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn... sẽ là những điều kiện tốt

cho phát triển sản xuất hàng hố [8].

Địa hình: Địa hình có ảnh hƣởng rất lớn đến tích tụ đất nơng nghiệp cho

sản xuất hàng hóa quy mơ lớn, nếu địa hình bằng phẳng thì có thể đầu tƣ nhiều

loại cây trồng, vật ni thích hợp cho vùng đồng bằng nhƣ trồng cây lƣơng thực,

nuôi trồng thủy sản, đỡ tốn công san lấp và thuận lợi về giao thông do vậy vận

chuyển các nông sản mang ra thị trƣờng nhanh, đảm bảo tƣơi sống và sản xuất

đƣợc trên quy mơ lớn. Ngƣợc lại, địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh, đất đai

manh mún phù hợp cho sản xuất nhỏ lẻ. Ở đây manh mún đất đai không phải là

điều bất lợi do điều kiện tự nhiên ở vùng núi mà ở đó số mảnh ruộng nhiều phản

ánh các loại đất và lựa chọn cây trồng khác nhau. Khi đầu tƣ dựa vào điều kiện

của địa hình để có những chính sách đầu tƣ phù hợp nhất.

Khí hậu và mơi trường sinh thái: Khí hậu thời tiết có ảnh hƣởng trực tiếp

đến sản xuất nơng nghiệp. Điều kiện thời tiết, khí hậu có lƣợng mƣa, độ ẩm,

nhiệt độ, ánh sáng... có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các

loại đất. Những nơi có điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi, đƣợc thiên nhiên ƣu

đãi sẽ hạn chế đƣợc những bất lợi, những rủi ro do thiên nhiên gây ra và có cơ

hội để phát triển nơng nghiệp, tăng cƣờng nơng sản hàng hố của các hộ nơng

dân. Mơi trƣờng sinh thái cũng ảnh hƣởng đến phát triển kinh tế hộ nơng dân,

nhất là nguồn nƣớc, khơng khí. Bởi vì, những cây trồng và con gia súc tồn tại và

phát triển theo quy luật sinh học. Nếu môi trƣờng sinh thái thuận lợi thì cây

trồng, con gia súc phát triển tốt, cho năng suất sản phẩm cao. Nếu môi trƣờng

sinh thái không phù hợp dẫn đến cây trồng, con gia súc phát triển, năng suất, chất

lƣợng sản phẩm giảm, từ đó sản xuất hiệu quả của hộ nông dân thấp.

Do vậy, khi đầu tƣ vào nông nghiệp các nhà đầu tƣ phải nghiên cứu rất kĩ đặc

điểm tự nhiên của từng vùng để có thể có những cơng cuộc đầu tƣ mang hiệu quả

cao hoặc có những biện pháp phòng tránh ảnh hƣởng xấu của tự nhiên hữu hiệu



11

1.1.4.4. Vai trò, ý nghĩa của tích tụ, tập trung đất nơng nghiệp

a. Tích tụ, tập trung đất với các hình thức tổ chức sản xuất

Hiện nay, việc sản xuất nông nghiệp tại các địa phƣơng đƣợc tổ chức sản

xuất với nhiều hình thức khác nhau nhƣ: hộ gia đình, hợp tác xã, trang trại, doanh

nghiệp…

Sản xuất, kinh doanh theo kiểu trang trại, gia trại có đặc điểm ruộng đất một

phần là của hộ gia đình (chủ trang trại), phần còn lại có thể do hộ gia đình nhận

chuyển nhƣợng, thuê lại, nhận góp ruộng đất từ ngƣời khác; còn tiền vốn cho q

trình sản xuất, kinh doanh nơng nghiệp có thể do hộ gia đình tự có hoặc huy động

từ các nguồn vốn vay, huy động... và sức lao động có thể thuê mƣớn và chủ yếu

là sử dụng sức lao động trong hộ gia đình, hơn nữa, lợi ích của tất cả các thành

viên trong hộ gia đình phụ thuộc trực tiếp vào năng suất, chất lƣợng của cây

trồng, vật nuôi. Vì vậy, xét trong ngắn hạn, trang trại gia đình quy mơ nhỏ có thể

khơng đạt hiệu quả cao trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên hạn chế của

cộng đồng cũng nhƣ phải gánh chịu những rủi ro lớn hơn. Nhƣng trong dài hạn,

những trang trại gia đình quy mô nhỏ lại đạt đƣợc sự ổn định cao hơn và hiệu

suất sản xuất lớn hơn trên mỗi đơn vị diện tích đất canh tác so với các trang trại

quy mô lớn hoạt động trong điều kiện tƣơng tự.

Cả nƣớc có khoảng 17.900 hợp tác xã, trong đó có khoảng 8.553 hợp tác xã

nông nghiệp chiếm 47%, tiếp đến là hợp tác xã công nghiệp và xây dựng (16%),

hợp tác xã điện nƣớc (15%)và các loại hình hợp tác xã khác (Liên minh hợp tác

xã Việt Nam). Các HTX hoạt động chủ yếu tập trung ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ

chiếm 47,1% số HTX nông nghiệp trong cả nƣớc, tiếp đến là Bắc Trung bộ

chiếm 21,1%, Tây Bắc 1,8%, Tây Nguyên 1,9%, Đông Nam bộ 2,7%. Riêng

vùng Đồng bằng sông Cửu Long nơi sản xuất nơng nghiệp hàng hố lớn nhất cả

nƣớc cũng chỉ có 496 hợp tác xã nơng nghiệp .

Nhìn chung, mơ hình HTX hiện nay chƣa phát huy đƣợc đúng vai trò và

tiềm năng phát triển của loại hình kinh tế tập thể này. Đối với các HTX kiểu cũ

đã chuyển đổi sang mơ hình HTX mới theo luật HTX, song còn rất nhiều bất cập

trong tổ chức và hoạt động và đã ảnh hƣởng không nhỏ đến kết quả hoạt động

của HTX. Đặc điểm chung của những hợp tác xã kiểu mới hiện nay là: Về tổ



12

chức, quản lý: xã viên tham gia HTX chủ yếu là đại diện hộ gia đình, việc

chuyển xã viên ở HTX cũ sang HTX mới còn mang tính hình thức, vốn góp xã

viên đƣợc phân bổ từ giá trị tài sản, vốn của HTX cũ chuyển sang, xã viên khơng

góp thêm vốn. Do đó xã viên khơng có ý thức trách nhiệm xây dựng HTX.

Các HTX thành lập mới xuất phát từ nhu cầu của xã viên và phát huy đƣợc

tính tự nguyện, dân chủ trong HTX, song do năng lực quản lý yếu kém, vốn tài

sản nhỏ bé do đó hoạt động cầm chừng hiệu quả chƣa cao. Phần lớn các HTX

mới đƣợc thành lập trong những năm gần đây trên cơ sở tập đoàn, liên tập đoàn,

tổ hợp tác, tổ, nhóm nơng dân… Trong lĩnh vực nơng nghiệp: Quy mơ nhiều

HTX còn nhỏ, chƣa đƣợc sắp xếp lại. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản

xuất kinh doanh còn thiếu. Tỷ lệ lãi trên doanh thu đạt thấp, đặc biệt là các HTX

dịch vụ thủy nông, bảo vệ thực vật, cung ứng vật tƣ và làm đất. Hình thức HTX

hiện nay khả năng thu hút lao động và giải quyết việc làm cho ngƣời lao động ở

khu vực nơng thơn thấp. Trình độ cán bộ quản lý của nhiều HTX còn yếu, phần

lớn chƣa qua đào tạo nghiệp vụ chun mơn.

Do vậy, mục đích của chính sách tích tụ đất nơng nghiệp ở nƣớc ta là nhằm

tạo điều kiện để hộ gia đình, cá nhân phát huy lợi thế quy mô trong nông nghiệp.

Tuy nhiên, chúng ta cần phải chọn ra đƣợc các hình thức tích tụ và quy mơ diện

tích đất đai phù hợp cho các hộ gia đình, cá nhân để vừa đạt đƣợc mục trên

nhƣng đồng thời cũng vừa giúp họ ngăn ngừa đƣợc những rủi ro do đầu tƣ quá

mức gây ra.

Việc pháp luật quy định các quyền chuyển nhƣợng, cho thuê, góp vốn bằng

giá trị QSDĐ đối với hộ gia đình, cá nhân đã tạo điều kiện để hộ gia đình, cá

nhân trực tiếp sản xuất nơng nghiệp có năng lực về vốn, lao động và quản lý tổ

chức sản xuất tốt mở rộng quy mô đất canh tác nông nghiệp tận dụng đƣợc lợi

thế kinh tế theo qui mô để phát triển kinh tế hộ. Đây cũng chính là quá trình đƣa

hộ gia đình và các thành viên trong hộ từ địa vị làm thuê trong các doanh nghiệp

nông nghiệp qui mơ lớn, có nhiều cấp quản lý trung gian, trở thành ngƣời chủ

trang trại gia đình thực thụ; đƣa kinh tế hộ gia đình trở thành đơn vị kinh tế tự

chủ trong nền nông nghiệp sản xuất lớn XHCN. Tuy nhiên, mức tích tụ hiện nay

theo quy định của pháp luật đã phù hợp với điều kiện cụ thể ở nƣớc ta hay chƣa.



13

Đây là một vấn đề không dễ và rất khó đƣợc sự đồng thuận cao trong nghiên cứu

cũng nhƣ trong xã hội.

Thực tiễn trong hơn một thế kỷ qua cho thấy, các lý thuyết kinh tế chủ đạo

ở cả các nƣớc tƣ bản lẫn các nƣớc XHCN đều tin tƣởng và sốt sắng dự báo cho

sự thất bại của mơ hình trang trại gia đình quy mô nhỏ. Các nhà kinh tế luôn cho

rằng trang trại nhỏ là “khơng sinh lợi” và “khơng có hiệu quả”; rằng năng suất

đất đai của các trang trại lớn cao hơn của các trang trại nhỏ, vì thế cần phải hợp

nhất đất đai của các trang trại nhỏ lại để phát huy lợi thế của sản xuất quy mơ lớn

có hiệu quả hơn, hơn nữa họ còn dự báo trang trại nhỏ khó có thể tồn tại trong

điều kiện nền kinh tế tự do cạnh tranh. Sở dĩ có tình trạng này là vì các trang trại

nhỏ có xu hƣớng đi vào sản xuất các loại nông sản quy mô nhỏ nhƣng giá trị cao

và kinh doanh tổng hợp. Họ kết hợp hoặc quay vòng cây trồng và vật ni, với

việc sử dụng nhiều lao động và các yếu tố đầu vào hơn cho một đơn vị diện tích

và sử dụng đa dạng hơn các hệ thống canh tác. Vì vậy, mặc dù năng suất trên một

đơn vị diện tích gieo trồng trong trang trại nhỏ có thể thấp hơn so với trang trại

lớn chuyên canh, nhƣng giá trị tổng sản lƣợng trên một đơn vị diện tích canh tác

đƣợc xác định thông qua nhiều loại sản phẩm khác nhau có thể có sự khác biệt

rất lớn và thƣờng cao hơn so với trang trại có quy mơ lớn [12].

Những lợi thế của trang trại quy mơ lớn đƣợc tìm thấy bởi một số phân tích

trƣớc đây đã biến mất, đó là bằng chứng của tính phi hiệu quả khi quy mô trang

trại tăng lên. Hơn nữa các nghiên cứu cũng cho thấy: Các trang trại quy mô rất

nhỏ thƣờng hoạt động khơng hiệu quả bởi vì chúng khơng có khả năng sử dụng

hết cơng suất các máy móc thiết bị đắt tiền, trong khi đó các trang trại quy mơ rất

lớn cũng khơng hiệu quả vì những vấn đề quản lý và lao động cố hữu trong

những hoạt động lớn. Hiệu quả có vẻ tập trung ở các trang trại ở nhóm giữa,

thƣờng có từ 01 đến 02 lao động làm th.

Tóm lại, chính sách tích tụ đất nơng nghiệp áp dụng đối với hộ gia đình, cá

nhân khơng chỉ tác động trực tiếp tới sự phát triển của riêng ngành nơng nghiệp khu vực có trên 10 triệu hộ gia đình nơng dân, với gần 80% dân số cả nƣớc có

thu nhập chính từ nơng nghiệp - mà còn tác động chung tới cơ cấu của tồn bộ

nền kinh tế đất nƣớc. Một chính sách tích tụ đất nông nghiệp đúng đắn sẽ tạo đà



14

cho tăng trƣởng kinh tế mạnh và ngƣợc lại sẽ đẩy đất nƣớc vào tình trạng trì trệ,

kém phát triển. Tuy nhiên, Nhà nƣớc thơng qua việc tổng kết thực tiễn cũng cần

có các điều tiết, hƣớng dẫn hoặc khuyến cáo việc tích tụ đất nơng nghiệp của

nơng dân theo một lộ trình nhất định, phù hợp với xu thế phát triển chung của

nền kinh tế thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, để nông dân tránh những tổn

thất, mất mát do sự thái quá trong đầu tƣ mở rộng quy mô sản xuất gây ra [3].

b. Tích tụ tập trung đất với chuyển dịch dân cƣ, cơ cấu lao động

Trong tiến trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc các hộ gia đình sẽ

đƣợc tiếp thu cơ giới hóa, điện khí hóa và tin học hóa, chuyển dần từ tiểu nơng tự

cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa trên cơ sở tích tụ đất đai, tiến tới kinh tế trang

trại hộ gia đình. Tích tụ đất nơng nghiệp sẽ là phƣơng án khả thi khi chúng ta giải

quyết tốt vấn đề chuyển bớt lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp, tham gia vào

khu vực kinh tế phi nông nghiệp. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động chƣa qua đào tạo ở

khu vực nơng thơn chiếm tỷ trọng vẫn còn khá lớn [8]. Do vậy, Việt Nam đang

phải giải quyết một nghịch lý đã và đang diễn ra trong thời gian qua với công

nghiệp tăng trƣởng trên hai con số, một diện tích đất sản xuất nơng nghiệp khơng

nhỏ bị chuyển sang phát triển cơng nghiệp và mục đích phi nơng nghiệp khác

trong khi điều kiện chƣa có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp dẫn đến lao

động nông nghiệp thiếu việc làm, dịch chuyển lao động tự do từ các vùng nông

thôn ra các tỉnh lớn ảnh hƣởng trực tiếp đến đời sống xã hội hiện nay. Một hiện

tƣợng đáng chú ý hiện nay là mối liên kết giữa thị trƣờng đất đai và thị trƣờng

lao động còn chƣa tốt.

Vấn đề hiện nay chúng ta chƣa quan tâm nhiều đến sự chuyển dịch cơ cấu

lao động trong nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ thƣơng mại nên sự mất cân

đối về lao động đƣợc bộc lộ rõ nhất trong khi cơng nghiệp khơng đủ nguồn lao

động có chất lƣợng, tay nghề đã qua đào tạo thì lao động nông nghiệp chiếm đa

số nhƣng là lao động thủ công. Đây là một xu thế tất yếu và phù hợp với quy luật

khách quan, tuy nhiên, Nhà nƣớc cần đầu tƣ cho đào tạo nghề để ngƣời lao động

đáp ứng trƣớc yêu cầu dịch chuyển đó.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 . TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×