Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỨNG KHOÁN

2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỨNG KHOÁN

Tải bản đầy đủ - 0trang

15



- Xây dựng sự phối hợp giữa các tổ chức, các cá nhân là thành viên tham gia TTCK

để tạo được sự thống nhất trong mọi hoạt động của TTCK.

-Điều chỉnh, xử lý các hành vi sai phạm trên TTCK như mua bán gian lận, đầu

cơ,…Mặt khác, tạo các điều kiện thuận lợi, khuyến khích những hoạt động tiêu cực

trên thị trường.

- Thực hiện công tác kiểm tra định kỳ, bất thường nhằm phát hiện các hành vi vi

phạm pháp luật, thực hiện tổng kết thống kê nhằm tổng hợp hoạt động của thị

trường.

1.2.2 Quản lý niêm yết tại SGDCK

Dù theo mơ hình nào thì hoạt động quản lý niêm yết tại một SGDCK bao gồm hai

cơng tác chính là:

-



Thẩm định niêm yết: là việc xét duyệt hồ sơ (gồm thẩm định niêm yết lần đầu,



niêm yết bổ sung, thay đổi niêm yết và niêm yết lại) để các chứng khốn có đủ điều

kiện sẽ được niêm yết trên SGDCK.

-



Hoạt động quản lý chứng khoán sau niêm yết.



Đối với nhiều quốc gia, SGDCK là nơi niêm yết của tất cả các loại chứng khoán từ

cổ phiếu, trái phiếu, đến cả chứng khoán phái sinh (chứng quyền, trái quyền, quyền

chọn mua, bán…) trong khi một số nước lại có những sàn giao dịch riêng cho từng

loại chứng khốn. Cơng tác quản niêm yết hiện nay được thực hiện theo hai mơ

hình chính:

Thứ nhất, Luật chứng khốn quy định tiêu chuẩn niêm yết và UBCK (hoặc Ủy ban

giám sát Tài chính hay một tổ chức có trách nhiệm và quyền hạn tương tự UBCK)

giữ thẩm quyền cấp phép niêm yết, SGDCK thực hiện quản lý chứng khoán sau

niêm yết trên sàn giao dịch do mình vận hành như Trung Quốc…



16



Thứ hai, SGDCK quy định tiêu chuẩn niêm yết và thực hiện việc thẩm định cấp

phép niêm yết, UBCK chỉ thực hiện vai trò giám sát và quản lý nhà nước đối với

hoạt động của thị trường chứng khốn như Hồn Quốc, Thái Lan, Singapore…

1.2.3 Nội dung hoạt động của công tác quản lý chứng khoán sau niêm yết tại

SGDCK

Sau khi được chấp thuận niêm yết qua công tác thẩm định niêm yết, các chứng

khoán niêm yết được quản lý tại SGDCK được gọi là cơng tác quản lý chứng khốn

sau niêm yết hay quản lý chứng khoán niêm yết.

Quản lý chứng khoán sau niêm yết là SGDCK quản lý hoạt động của các CTNY

dựa trên nguyên tắc đảm bảo hoạt động của các CTNY phù hợp với các quy định về

chứng khoán và thị trường chứng khoán, đồng thời đảm bảo các CTNY phải duy trì

được các tiêu chuẩn cơ bản về mặt quản trị cơng ty, duy trì tiêu chuẩn niêm yết và

thực hiện nghĩa vụ CBTT.

Công tác quản lý chứng khoán niêm yết tại SGDCK bao gồm các hoạt động chính

sau:

1.2.3.1 Giám sát tình hình quản trị cơng ty





Mục tiêu giám sát



SGDCK các nước thường kiểm soát các CTNY về vấn đề QTCT theo hướng áp

dụng các thông lệ, chuẩn mực quốc tế về QTCT tốt, đảm bảo việc điều hành công ty

một cách hiệu quả, ổn định, tối thiểu hóa các mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa các cổ

đông, giữa cổ đông với HĐQT, Ban Giám Đốc và thành viên chủ chốt của công ty

nhằm mục tiêu thiết lập một môi trường đầu tư thuận lợi và minh bạch.

 Nội dung giám sát

- Cơ cấu, quyền lợi và trách nhiệm của HĐQT công ty: là việc giám sát sự tham

gia của các cổ đơng bên ngồi cơng ty trong HĐQT (thành viên HĐQT độc lập)

theo một tỷ lệ nhất định. Các khoản vay, cho vay giữa HĐQT và Công ty phải được

ĐHCĐ phê duyệt, công khai các khoản nợ, …



17



- Quyền lợi cổ đông: SGDCK bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông thiểu số dựa các

quy định pháp luật như quyền tham dự cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, quyền biểu

quyết, quyền nhận cổ tức, quyền bầu đồn phiếu, gom nhóm cổ đơng để bầu cử và

ứng cử. CTNY phải thực hinệ CBTT đối với các giaio dịch mua bán, giao dịch các

bên liên quản trong nội bộ công ty.

- Bộ phận phụ trách thông tin: Nhằm tạo thuận lợi cho các CTNY trong việc

CBTT và đảm bảo thơng tin được cơng bố là chính xác, kịp thời, SGDCK các nước

thường yêu cầu các CTNY phải thành lập bộ phận chuyên trách về CBTT và bộ

phận này phải có ít nhất một thành viên nằm trong HĐQT của công ty.

- Các vấn đề liên quan đến việc kiểm soát: Nhằm kiểm soát các mâu thuẫn về mặt

lợi ích và phát hiện kịp thời các sai phạm của HĐQT giúp các CTNY hoạt động

hiệu quả hơn, SGDCK các nước yêu cầu các CTNY phải có một Ban kiểm sốt.

Thành viên BKS bao gồm các cổ đơng bên trong hoặc ngồi cơng ty nhưng phải có

trình độ hiểu biết nhất định về các lĩnh vực tài chính, quản trị…Các thành viên

BKS cũng phải CBTT khi giao dịch cổ phiếu.

- Các vấn đề liên quan đến ĐHCĐ: Việc tổ chức ĐHCĐ thường niên hay bất

thường đều phải CBTT theo quy định. SGDCK kiểm soát các CTNY về vấn đề liên

quan đến việc tham gia ứng cử, bầu cử và CBTT tại ĐHCĐ dựa trên các quy định

của pháp luật như:

+ Tất cả các cổ đơng phổ thơng đều có quyền tham dự và biểu quyết các vấn đề

thuộc thẩm quyền của ĐHCĐ

+ Các cổ đơng lớn, hoặc nhóm cổ đơng nắm giữ một tỷ lệ nhất định có quyền tham

gia đề cử, ứng cử hoặc yêu cầu triệu tập ĐHCĐ.

+ Các vấn đề liên quan đến tính minh bạch của tình hình hoạt động của CTNY…

1.2.3.2 Giám sát việc duy trì các điều kiện niêm yết của các tổ chức niêm yết





Mục tiêu giám sát



Luôn đảm bảo chất lượng của các chứng khoán đã được niêm yết.SGDCK chịu

trách nhiệm trước công chúng đầu tư về việc này.



18







Nội dung giám sát



- Tính thanh khoản của chứng khốn được niêm yết: SGDCK kiểm sốt tính thanh

khoản của cổ phiếu thơng qua khối lượng giao dịch, tín hiệu cảnh báo, kiểm sốt và

tạm ngừng giao dịch.

- Tính liên tục của hoạt động kinh doanh: SGDCK giám sát hoạt động này thông

qua các BCTC kiểm toán, ý kiến kiểm toán viên trên BCTC kiểm toán, chỉ số lợi

nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu, tài sản ròng bị âm, các khoản nợ phải trả lớn

hơn tài sản, tổ chức niêm yết bị thu hồi giấy phép kinh doanh, phá sản hay giải

thể…

- Số lượng cơng chúng và cổ đơng nước ngồi: CTNY phải ln duy trì tỷ lệ tối

thiểu vốn cổ phần cho các cổ đơng bên ngồi cơng ty năm giữ mà không phải là cổ

đông lớn. Đối với các thị trường mới nổi, việc giám sát tỷ lệ sở hữu cổ đơng nước

ngồi và hạn chế một tỷ lệ hợp lý sẽ ngăn chặn và hạn chế tình trạng thao túng trên

thị trường.

- Câu trúc tài chính: Cấu trúc tài chính thể hiện mức độ rủi ro về tài chính của

công ty. SGDCK sẽ thực hiện việc giám sát dựa trên một cấu trúc tài chính phù hợp

với mơi trường kinh tế, ngành nghề, mùa vụ và khu vực.

1.2.3.3 Giám sát việc thực hiện quy định về CBTT





Mục tiêu giám sát



CBTT là việc thơng báo ra thị trường tình hình hoạt động của CTNY. Chế độ CBTT

thường phải được thực hiện theo các chuẩn mực, tiêu chuẩn chung dựa trên ngun

tắc đảm bảo tính cơng bằng, kịp thời, nhất qn, đầy đủ, chính xác và trung thực…



-



Nội dung giám sát

Về Công bố thông tin, báo cáo dành cho việc quản lý các chứng khốn niêm yết:



CTNY có nghĩa vụ CBTT định kỳ (quý, bán niên, năm); thông tin bất thường

(24giờ, 72 giờ) và theo yêu cầu khi xảy ra các sự kiện gây ảnh hưởng nghiêm trọng

đến giá chứng khoán, các vấn đề tác động không đáng kể đến giá chứng khoán



19



nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến việc ra quyết định đầu tư hay các thông tin về phát

hành thêm, trả cổ tức, mua, bán cổ phiếu quỹ…

-



Các nghĩa vụ về báo cáo trong quy định niêm yết:



Các cuộc họp của HĐQT, ĐHĐCĐ, thay đổi cơ cấu cổ phần, chính sách cổ tức,

phát hành cổ phiếu mới… SGDCK có nghĩa vụ kiểm tra các thơng tin về tính nhất

qn, độ tin cậy, tính chính xác và đảm bảo về điều kiện thời gian rồi CBTT ra thị

trường thông qua trang web của SGDCK. Các thơng tin khơng chính xác hay có lỗi

được trả lại CTNY yêu cầu chỉnh sửa hoặc giải trình.

1.2.3.4 Phát hiện và kiến nghị xử lý các trường hợp vi phạm

Tùy theo mức độ vi phạm về duy trì điều kiện niêm yết mà SGDCK sẽ đưa chứng

khốn đó vào các điện theo dõi đặc biệt hoặc hủy niêm yết. Thông thường, các vi

phạm về niêm yết chứng khốn cụ thể gồm: Khơng chấp hành các quy định về thời

gian, nội dung CBTT, CBTT sai lệch, CBTT không đầy đủ về các nội dung phát

sinh, thay đổi chế độ kế tốn khơng báo cáo, CTNY khơng duy trì đầy đủ các quy

định về điều kiện niêm yết…Các hình thức xử lý vi phạm được thực hiện từ thấp

đến cao: từ nhắc nhở, cảnh báo, kiểm soát, tạm ngừng giao dịch, hủy niêm yết.

SGDCK cũng có thể đề nghị UBCK xử phạt hành chính đối với các trường hợp vi

phạm về CBTT.

1.2.3.5 Nghiên cứu xây dựng, ban hành các quy chế, quy định liên quan đến

niêm yết

Công tác quản lý niêm yết tại mỗi SGDCK các nước đều chịu sự điều chỉnh của hệ

thống pháp luât về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, với chức

năng của mình, SGD được phép ban hành các quy định liên quan đến hoạt động của

CTNY nhằm đảm bảo một thị trường niêm yết công bằng minh bạch, tạo niềm tin

cho công chúng đầu tư. Các SGDCK cũng thực hiện việc rà soát, đề xuất sửa đổi,

bổ sung các quy chế, quy định này phù hợp với tình hình thị trường; tham gia góp ý

các văn bản pháp luật liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán.



20



1.2.4 Các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến công tác quản lý chứng khốn

niêm yết

1.2.4.1 Mơi trường bên ngồi

Đối với hoạt động của một tổ chức, ảnh hưởng của môi bên ngồi bao gồm mơi

trường kinh tế, chính trị - pháp lý, văn hóa xã hội, điều kiện tự nhiên, trình độ khoa

hoc kỹ thật cơng nghệ…Tuy nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến cơng tác quản lý chứng

khốn sau niêm yết bao sẽ gồm các yếu tố như: Khung pháp lý, CTNY, các tổ chức

tư vấn, định giá, trình độ khoa học công nghệ.

Khung pháp lý (môi trường pháp luật)

Hoạt động quản lý chứng khoán niêm yết trên chịu sự tác động và điều chỉnh của

các quy định pháp luật nói chung và về chứng khốn và thị trường chứng khốn nói

riêng. Ngồi ra, mỗi doanh nghiệp niêm yết đặc thù lại chịu sự chi phối của các quy

định riêng của ngành, của đơn vị chủ quản.

Hệ thống văn bản pháp luật đóng vai trò quan trọng trong cơng tác quản lý chứng

khoán niêm yết. Quy định pháp lý đưa ra những quy định được phép hoặc không

được phép, hoặc đưa ra các ràng buộc đòi hỏi các CTNY phải tuân theo. Môi trường

pháp lý sẽ tạo ra những cơ hội hay nguy cơ đối với công tác quản lý chứng khốn

niêm yết.

Cơng ty niêm yết

- Thời gian niêm yết, hiệu quả hoạt động, quy mô, cơ cấu cổ đông của CTNY

Tùy thuộc vào quy mô doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của

CTNY mà việc quản lý chứng khoán niêm yết đơn giản hay phức tạp, phát sinh

nhiều nghiệp vụ, vụ việc hay chỉ ổn định ở những nghiệp vụ quản lý niêm yết đơn

giản.

- Nhận thức của các CTNY trong việc thực hiện nghĩa vụ của một CTNY

Nhận thức của các CTNY trong việc tuân thủ các quy định pháp luật về chứng

khoán và thị trường chứng khoán là yếu tố rất quan trọng trong cơng tác quản lý



21



chứng khốn niêm yết tại SGDCK TPHCM. Việc quản lý chứng khốn niêm yết có

đạt hiệu quả cao hay không phụ thuộc nhiều vào nhận thức phải thực hiện nghĩa vụ

của các CTNY.

Các tổ chức tư vấn, định giá

Hoạt động niêm yết của CTNY không thể thiếu các tổ chức tư vấn, định giá.Họ là

các công ty chứng khốn, các bộ phận tư vân doanh nghiệp, cơng ty kiểm toán,

ngân hàng chỉ định thanh toán và các cơng ty định giá.Trình độ chun mơn, nghiệp

vụ và đạo đức nghề nghiệp của các tổ chức này góp phần khơng nhỏ trong cơng tác

quản lý chứng khốn niêm yết của SGDCK hiệu quả.

Trình độ kỹ thuật cơng nghệ

Đây là yếu tố ảnh hưởng mạnh đến mỗi doanh nghiệp cũng như công tác quản lý.

Các yếu tố công nghệ thường biểu hiện qua phương pháp quản lý mới, kỹ thuật

mới, thiết bị hiện đại, tiện nghi, các bí quyết, phát minh, phần mềm ứng dụng…Khi

công nghệ phát triển, xã hội có điều kiện ứng dụng các thành tựu cơng nghệ để tạo

ra sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao hơn nhằm phát triển và nâng cao năng lực

cạnh tranh. Tuy vậy, nó cũng sẽ mang lại nguy cơ tụt hậu, giảm năng lực cạnh tranh

nếu không đổi mới công nghệ kịp thời.

1.2.4.2 Môi trường bên trong

Môi trường bên trong mỗi tổ chức chính là là nguồn nhân lực của tổ chức, tình hình

tài chính, văn hóa doanh nghiệp, cơ sở vật chất trang thiết bị… Tuy nhiên, các nhân

tố mơi trường như nguồn nhân lực, trình độ chun mơn, trình độ quản lý tổ chức

bộ máy, các quy định về tiêu chuẩn giám sát quản lý, cơ sở hạ tầng kỹ thuật hay khả

năng nghiên cứu phát triển sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cơng tác quản lý chứng

khốn sau niêm yết.

Nguồn nhân lực

Hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, lượng hàng hóa trên SGCK tăng

đáng kể so với trước đây, các nghiệp vụ quản lý chứng khoán niêm yết phát sinh



22



ngày một nhiều, nguồn nhân lực hoạt động trong công tác này cần phải đủ đáp ứng

để đảm bảo khơng bỏ sót nghiệp vụ, kịp thời xử lý các vụ việc, đảm bảo về thời

gian xử lý…

Trình độ chun mơn, trình độ quản lý, tổ chức bộ máy

Thị trường chứng khoán càng phát triển, các nghiệp vụ phát sinh càng phức tạp đòi

hỏi trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của các chuyên viên càng cao đáp ứng

được u cầu cơng việc.

Trình độ quản lý thể hiện ở công tác hoạch định các mục tiêu chất lượng cần hoàn

thành.Việc hoạch định các mục tiêu phải gắn liền với thực tiễn điều kiện nội bộ,

không xa vời khó thực hiện.

Cơng tác quản lý chứng khốn niêm yết tại SGDCK liên quan đến nhiều bộ phận

phòng ban tại SGDCK, việc phối hợp tốt hay không tốt ảnh hưởng trực tiếp tới cơng

tác quản lý chứng khốn niêm yết.

Các quy định về tiêu chuẩn quản lý, giám sát chứng khoán sau niêm yết của

SGDCK

Việc xây dưng, cụ thể hóa các tiêu chuẩn quản lý và giám sát chứng khoán niêm yết

càng rõ ràng, chi tiết, đầy đủ, công việc quản lý càng hiệu quả.

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật

Cơ sở vật chất có đáp ứng được các nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch đặt ra của

SGDCK hay không? Các nhà quản lý cần quan tâm và cân nhắc yếu tố này trong

cơng tác quản lý của mình.

Khả năng nghiên cứu và phát triển

Thị trường chứng khoán thế giới ngày càng phát triển và hàng hóa trên thị trường

ngày càng phong phú đòi hỏi cơng tác quản lý chứng khốn niêm yết cơng tác

nghiên cứu phát triển đóng vai trò quan trọng trong quản lý. Khả năng này được thể



23



hiện chủ yếu qua các mặt sau: Khả năng phát triển sản phẩm mới, dịch vụ mới, khả

năng cải tiến kỹ thuật, khả năng ứng dụng công nghệ mới…

1.3 KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ CHỨNG KHOÁN TẠI MỘT SỐ QUỐC

GIA

1.3.1 Mơ hình quản lý niêm yết ở một số nước

 Tại Mỹ

UBCK và giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) đã quyết định giảm bớt quy định

về công bố thơng tin cho các cơng ty nhỏ, có hiệu lực từ ngày 4/2/2008. Thuật ngữ

“tổ chức phát hành quy mô nhỏ” (small business issuers) đã được thay thế bằng

thuật ngữ mới rộng hơn là “công ty CBTT quy mô nhỏ” (Smaller reporting

companies). Các công ty CBTT quy mô nhỏ là các cơng ty có giá trị cổ phiếu lưu

hành trong công chúng (public equity float) dưới 75 triệu USD hoặc cơng ty có mức

doanh thu hàng năm dưới 50 triệu USD trong năm tài khóa gần nhất (nếu khơng xác

định theo giá trị cổ phiếu lưu hành trong công chúng). Ngưỡng 75-50 triệu USD này

sẽ được đánh giá lại 5 năm một lần tùy theo điều kiện lạm phát. Những công ty đại

chúng quy mô lớn (larger public company) là cơng ty có giá trị cổ phiếu lưu hành

trong cơng chúng vượt quá 75 triệu USD tính tại thời điểm cuối quý II năm tài khóa

hoặc doanh thu hàng năm vượt quá 50 triệu USD trong bất cứ năm tài khóa nào.

Những cơng ty đại chúng quy mơ lớn khơng thể chuyển sang công ty CBTT quy mô

nhỏ cho tới khi giá trị cổ phiếu lưu hành trong công chúng xuống dưới mức 50 triệu

USD cuối quý II năm tài khóa gần nhất hoặc doanh thu hàng năm xuống dưới mức

40 triệu USD trong năm tài khóa gần nhất.

Hệ thống CBTT theo quy mơ:

- Quy định mới xóa bỏ các quy định S-B (Regulation S-B) và chuyển các yêu cầu

về báo cáo và CBTT trong các quy định S-B sang các điều khoản tương ứng tại Quy

định S-K và yêu cầu báo cáo và CBTT tài chính tại Quy định S-B được đưa vào một

Điều mới (Điều 8) của Quy định S-X.



24



- Theo quy định mới các công ty quy mơ nhỏ có thể lựa chọn việc tn thủ CBTT

theo quy định S-K cho các công ty CBTT quy mô nhỏ cũng như lựa chọn thực hiện

CBTT áp dụng cho các công ty quy mô lớn. Áp dụng quy định tùy ý này trong mơ

hình CBTT theo quy mơ giúp cho các doanh nghiệp nhỏ có lợi thế trong việc chọn

lọc cách công bố thông tin. Các công ty CBTT quy mô nhỏ không phải báo cáo chi

tiết như các công ty lớn và quy định về số năm báo trong một số nội dung được rút

ngắn lại (ví dụ: CBTT về kế hoạch phát triển hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp trong 3 năm thay vì 5 năm như trước; CBTT về thù lao trong 3 năm (thay vì

5 năm) chi trả cho ban giám đốc điều hành doanh nghiệp…). Bên cạnh đó, đối với

một số ngành nghề cụ thể có hướng dẫn nội dung CBTT riêng (như ga, dầu, bất

động sản).

Như vậy, tại thị trường Mỹ khơng có sự phân biệt về CBTT theo tiêu chí là doanh

nghiệp niêm yết hay không niêm yết mà áp dụng CBTT theo quy mô của công ty.

 Tại Úc

Khung pháp lý đề xuất về việc CBTT chia doanh nghiệp thành 2 nhóm CBTT dựa

trên nhu cầu chuẩn bị Báo cáo tài chính tổng quan (General Purpose financial

statements- GPFS)

- Nhóm 1: SGDCK Úc yêu cầu báo cáo tài chính đầy đủ theo Tiêu chuẩn báo cáo

Tài chính Quốc tế (Full IFRS required)

+ Tất cả các cơng ty đại chúng hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận (all publicly

accountable for-profit entities) như các công ty niêm yết, các ngân hàng, công ty

bảo hiểm và các tổ chức CBTT khác…

+ Doanh nghiệp thuộc khu vực tư hoạt động khơng vì mục tiêu lợi nhuận thuộc diện

CBTT đầy đủ.

+ Các doanh nghiệp thuộc khu vực cơng như các hiệp hội, cơ quan nhà nước, chính

quyền địa phương, trường học… thuộc diện CBTT đầy đủ.

- Nhóm 2: CBTT ở cấp độ thấp hơn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỨNG KHOÁN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×