Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 LÝ THUYẾT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ; VỀ CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT, CÔNG TY NIÊM YẾT, SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

1 LÝ THUYẾT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ; VỀ CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT, CÔNG TY NIÊM YẾT, SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



thể ( đối tượng bị quản lý) trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hố, xã hội …thơng

qua hệ thống pháp luật, các chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các

biện pháp cụ thể nhằm tạo ra mội trường và tạo điều kiện cho sự phát triển của đối

tượng bị quản lý”.

Mỗi người mỗi cách hiểu khác nhau về quản lý, tuy nhiên, có thể hiểu đơn giản

quản lý là hoạt động của một chủ thể theo dõi, giám sát, kiểm tra và đánh giá một

chủ thể khác để thực hiện mục tiêu, kế hoạch, chính sách. Để thực hiện được hoạt

động quản lý, chủ thể quản lý cần lập ra các chính sách, quy định, hướng dẫn liên

quan đến hoạt động quản lý của mình.

Quy mơ của quản lý có thể khác nhau: tồn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn

vị…Quy mơ khác nhau thì tính chất của quản lý cũng khác nhau. Quản lý ở phạm vi

quốc gia được coi là quản lý Nhà nước, quản lý ở một đơn vị kinh doanh được coi

là quản lý kinh doanh.

Với những phân tích trên, lĩnh vực quản lý bao gồm cả hoạt động kinh doanh, nhà

nước và các tổ chức phi lợi nhuận.

 Quản lý nhà nước

Cũng như cơng tác Quản lý nói chung, quản lý nhà nước có thể hiểu một cách cụ

thể như sau: “Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành XH của các cơ quan nhà

nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua

các văn bản quy phạm pháp luật”

Hoạt động quản lý nhà nước của một quốc gia bao gồm nhiều lĩnh vực như: Quản lý

nhà nước về kinh tế, quản lý nhà nước về giáo dục, quản lý nhà nước về mơi

trường, quản lý nhà nước về chứng khốn…

Mọi hoạt động quản lý đều phải do bốn yếu tố cơ bản sau cấu thành:

- Chủ thể quản lý trả lời câu hỏi: Do ai quản lý?

- Khách thể quản lý, trả lời câu hỏi: Quản lý cái gì?



10



- Mục đích quản lý, trả lời câu hỏi: Quản lý vì cái gì?

- Mơi trường và điều kiện tổ chức, trả lời câu hỏi: Quản lý trong hoàn cảnh nào?

1.1.1.2



Chức năng của cơng tác quản lý



Cơng tác quản lý nói chung có bốn chức năng cơ bản sau:

Chức năng hoạch định (lập kế hoạch): là chức năng cơ bản nhất trong các chức

năng của cơng tác quản lý bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành

động cho tương lai, là mục tiêu hành động cho các chức năng khác của quản lý.

Chức năng tổ chức quản lý: là sự liên kết những cá nhân, những quá trình, những

hoạt động trong hệ thống nhằm thực hiện mục đích đề ra của hệ thống dựa trên cơ

sở cá nguyên tắc và quy tắc quản lý của hệ thống; là chức năng hình thành cơ cấu tổ

chức quản lý cùng các mối quan hệ giữa chúng. Đây là nhiệm vụ quan trọng thứ hai

của các nhà quản lý sau chức năng lập kế hoạch. Để hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản

lý cần phải đảm bảo những yêu cầu tính tối ưu, tính linh hoạt, tính tin cậy, tính kinh

tế, và tính bí mật.

Chức năng điều khiển- Phối hợp: đây là quá trình chủ thể điều khiển sử dụng quyền

lực quản lý của mình để tác động lên hành vi của con người một cách có chủ đích

để họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu vì mục tiêu đề ra.

Chức năng giám sát, kiểm tra: là việc theo dõi hoạt động của các cá thể trong việc

tuân thủ các quy định nhằm phát hiện các sai sót các ách tắc của hệ thống để tìm

kiếm biện phát xử lý, khắc phục.

1.1.2 Lý thuyết chung về chứng khoán niêm yết, cơng ty niêm yết, Sở giao dịch

chứng khốn

1.1.3 Chứng khốn niêm yết

Chứng khoán

Theo Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật chứng khoán số 60/2010/QH12

(Luật chứng khoán số 60), tại Mục 3 Điều 1 đã nêu: “Chứng khoán là bằng chứng



11



xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần

vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ,

bút tốn ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:

a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;

b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng

tương lai, nhóm chứng khốn hoặc chỉ số chứng khốn;

c) Hợp đồng góp vốn đầu tư;

d) Các loại chứng khốn khác do Bộ Tài chính quy định.”

Chứng khốn niêm yết

Theo Khoản 7 Điều 6 Luật chứng khoán số 70, Niêm yết chứng khốn là “việc đưa

các chứng khốn có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở Giao dịch chứng khoán hoặc

Trung tâm lưu ký chứng khoán”. Niêm yết chứng khoán là thủ tục cho phép một

chứng khoán nhất định được phép giao dịch trên thị trường giao dịch chứng khoán

tập trung. Cụ thể, đây là quá trình mà SGDCK chấp thuận cho chứng khoán được

phép niêm yết và giao dịch trên SGDCK đó đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về định

lượng cũng như định tính mà SGDCK đề ra.

Các chứng khốn niêm yết ngồi việc đáp ứng các tiêu chuẩn niêm yết theo Luật

chứng khốn còn phải đáp ứng các điều kiện niêm yết được quy định tại quy chế

niêm yết do SGDCK quy định. Thông thường, các điều kiện này được đặt ra nhằm

thỏa mãn hai yêu cầu về duy trì hoạt động liên tục của cơng ty niêm yết và đảm bảo

tính thanh khoản của chứng khốn. Yêu cầu về duy trì hoạt động liên tục của công

ty niêm yết được thực hiện thông qua cơ chế cơng bố thơng tin, đảm bảo cơng

chúng đầu tư có cơ hội ngang nhau trong việc nắm bắt và tiếp cận thơng tin. u

cầu về tính thanh khoản thể hiện qua việc chọn lọc các chứng khốn có số lượng lưu

hành cao do các cơng ty có quy mơ và hoạt động tốt để có thể mua bán dễ dàng trên

thị trường

1.1.2.2 Công ty niêm yết



12



Công ty niêm yết là tổ chức có chứng khốn niêm yết tại SGDCK. Mỗi công ty

niêm yết được quản lý bởi 1 mã ISIN theo tiêu chuẩn quốc tế và được cấp 1 mã

chứng khoán.

Các tổ chức sau khi được cấp quyết định niêm yết sẽ chịu sự quản lý, giám sát việc

tuân thủ các quy định về chứng khoán và thi trường chứng khoán của SGDCK.

Theo luật, các tổ chức phát hành (CTNY) có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực

và kịp thời thông tin liên quan đến công ty của họ, hoạt động của mình và cung cấp,

để giúp các nhà đầu tư có những lựa chọn thích hợp trong đầu tư và giúp các cơ

quan quản lý giám sát và điều tiết hoạt động của thị trường để giảm thiểu các hành

vi tiêu cực trên thị trường.

1.1.2.3 Sở giao dịch chứng khoán

 Khái niệm

Từ xa xưa đến nay khái niệm Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) được hiểu là một

địa điểm họp chợ có tổ chức, tại đó các chứng khoán niêm yết được các thành viên

giao dịch theo các phương thức nhất định về thời gian giao dịch, phương thức thanh

toán…SGDCK là thị trường chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung

gọi là sàn giao dịch (trading floor) hay qua hệ thống máy tính.

Ngày nay, SGDCK được thành lập dưới dạng một tổ chức hay một công ty cung

cấp điều kiện và phương tiện cho các nhà mơi giới, giao dịch cổ phiếu. Ngồi ra,

SGDCK cũng cung cấp các cơng cụ tài chính cũng như các phương tiện phát hành

và đáo hạn chứng khoán và thực hiện các quyền lợi liên quan đến cổ tức, thu nhập.

“SGDCK là một tổ chức pháp nhân được thành lập theo quy định của pháp luật”

Lịch sử hình thành phát triển của SGDCK đã trải qua các hình thức sở hữu sau:

- Hình thức sở hữu thành viên: Do các thành viên là cơng ty chứng khốn sở hữu.

Thị trường chứng khoán Hàn Quốc, Thái Lan, Tokyo, Newyork tổ chức SGDCK

theo hình thức này



13



- Hình thức cơng ty cổ phần: SGDCK được tổ chức dưới dạng công ty cổ phần gồm

các cơng ty chứng khốn, ngân hàng, tổ chức tài chính… tham gia với tư các là cổ

đơng.

- Hình thức sở hữu đại chúng: là hình thức đa dạng hóa sở hữu SGDCK bằng cách

bán cổ phần ra công chúng (demutualization) và niêm yết trực tiếp trên sở này.

- Hình thức sở hữu nhà nước: SGDCK do chính phủ hoặc một cơ quan chính phủ

đứng ra thành lập và quản lý và sở hữu một phần hay toàn bộ vốn của SGDCK. Ưu

điểm của hình thức này là khơng chạy theo mục tiêu lợi nhuận nên bảo vệ được

quyền lợi nhà đầu tư. Trong những trường hợp cần thiết, nhà nước có thể can thiệp

các chính sách vĩ mơ cho thị trường hoạt động ổn địn và lành mạnh. Tuy niên,

nhược điểm của hình thức này là hoạt động thiếu tính độc lập, khơng thực sự linh

hoạt, chi phí lớn và kém hiệu quả.Hiện nay thị trường chứng khoán Việt Nam đang

áp dụng mơ hình SGDCK này.

 Chức năng của SGDCK

SGDCK thực hiện vận hành thị trường thông qua bộ máy tổ chức bao gồm nhiều bộ

phận khác nhau phục vụ các hoạt động trên SGDCK. Ngoài ra, SGDCK cũng ban

hành các quy định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên sở phù hợp

với các quy định của luật pháp và UBCK.

- Thiết lập một thị trường chứng khốn có tổ chức, vận hành liên tục với các chứng

khoán được lựa chọn. Đây là chức năng quan trọng nhất của SGDCK, thơng qua

SGDCK các chứng khốn có thể giao dịch dễ dàng và nhanh chóng, các chứng

khốn có tính thanh khoản, thị trường hoạt động cơng bằng với sự giám sát của cơ

quan quản lý là SGDCK.

- Là nơi tạo ra giá cả chứng khoán trên thị trường thông qua phương thức giao dịch

khớp lệnh hoặc thỏa thuận thơng qua SGDCK, nhờ vậy thị trường chứng khốn có

trật tự, cơng bằng và minh bạch.

- Là nơi cung cấp các thông tin về các tổ chức niêm yết, cơng ty chứng khốn thơng

qua các báo cáo tài chính, tình hình quản trị cơng ty, cơ cấu cổ đơng..



14



- Là nơi huy động các khoản tiết kiệm trong dân chúng.

1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỨNG KHOÁN

1.2.1 Quản lý Nhà nước đối với Thị trường chứng khoán

TTCK là một lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế một quốc gia. Vì vậy:

“Quản lý Nhà nước đối với TTCK của một quốc gia là sự quản lý vĩ mô của Nhà

nước đối với các hoạt động xây dựng, vận hành và phát triển của TTCK”.

Quá trình hình thành và mức độ phát triển phức tạp, đa dạng của TTCK và điều

kiện cụ thể của mỗi nước dẫn đến sự đa dạng trong cơ chế và mức độ quản lý thị

trường. Trong khi hầu hết các TTCK ở các nước phát triển được hình thành từ khu

vực tư nhân nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, do các cá nhân đứng ra tổ

chức, vận hành và tự quản thì ngược lại, ở các nước đang phát triển TTCK thường

do Chính phủ đứng ra thành lập với những mục đích cụ thể như hỗ trợ huy động

vốn, tư nhân hoá hay thực hiện các mục tiêu kinh tế khác của Nhà nước. Do vậy

Chính phủ đóng vai trò chính trong việc tổ chức và quản lý thị trường.

Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với TTCK

Hoạt động quản lý nhà nước đối với TTCK được cụ thể hóa ở một số nhiệm vụ sau:

- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về TTCK; xây dựng chiến lược, chính

sách, kế hoạch hoạt động và phát triển TTCK với từng bước đi cụ thế và thích hợp

với điều kiện văn hố, kinh tế, chính trị, xã hội, dân trí và các điều kiện khác.

- Cấp, gia hạn, đình chỉ, thu hồi các loại giấy phép liên quan đến việc phát hành,

niêm yết, kinh doanh và dịch cụ chứng khốn và thu lện phí cấp giấy phép theo quy

định của pháp luật.

- Tổ chức và quản lý TTGDCK có tổ chức và các tổ chức trung gian, tổ chức phụ

trợ hoạt động trên TTCK.

- Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của TTCK như: cơ quan quản lý Nhà nước,

SGDCK, TTGDCK, TTLKCK, CtyCK, CtyQLQ…



15



- Xây dựng sự phối hợp giữa các tổ chức, các cá nhân là thành viên tham gia TTCK

để tạo được sự thống nhất trong mọi hoạt động của TTCK.

-Điều chỉnh, xử lý các hành vi sai phạm trên TTCK như mua bán gian lận, đầu

cơ,…Mặt khác, tạo các điều kiện thuận lợi, khuyến khích những hoạt động tiêu cực

trên thị trường.

- Thực hiện công tác kiểm tra định kỳ, bất thường nhằm phát hiện các hành vi vi

phạm pháp luật, thực hiện tổng kết thống kê nhằm tổng hợp hoạt động của thị

trường.

1.2.2 Quản lý niêm yết tại SGDCK

Dù theo mơ hình nào thì hoạt động quản lý niêm yết tại một SGDCK bao gồm hai

cơng tác chính là:

-



Thẩm định niêm yết: là việc xét duyệt hồ sơ (gồm thẩm định niêm yết lần đầu,



niêm yết bổ sung, thay đổi niêm yết và niêm yết lại) để các chứng khốn có đủ điều

kiện sẽ được niêm yết trên SGDCK.

-



Hoạt động quản lý chứng khoán sau niêm yết.



Đối với nhiều quốc gia, SGDCK là nơi niêm yết của tất cả các loại chứng khoán từ

cổ phiếu, trái phiếu, đến cả chứng khoán phái sinh (chứng quyền, trái quyền, quyền

chọn mua, bán…) trong khi một số nước lại có những sàn giao dịch riêng cho từng

loại chứng khốn. Cơng tác quản niêm yết hiện nay được thực hiện theo hai mơ

hình chính:

Thứ nhất, Luật chứng khốn quy định tiêu chuẩn niêm yết và UBCK (hoặc Ủy ban

giám sát Tài chính hay một tổ chức có trách nhiệm và quyền hạn tương tự UBCK)

giữ thẩm quyền cấp phép niêm yết, SGDCK thực hiện quản lý chứng khoán sau

niêm yết trên sàn giao dịch do mình vận hành như Trung Quốc…



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 LÝ THUYẾT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ; VỀ CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT, CÔNG TY NIÊM YẾT, SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×