Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Khả năng nghiên cứu và phát triển

Khả năng nghiên cứu và phát triển

Tải bản đầy đủ - 0trang

23



hiện chủ yếu qua các mặt sau: Khả năng phát triển sản phẩm mới, dịch vụ mới, khả

năng cải tiến kỹ thuật, khả năng ứng dụng công nghệ mới…

1.3 KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ CHỨNG KHOÁN TẠI MỘT SỐ QUỐC

GIA

1.3.1 Mơ hình quản lý niêm yết ở một số nước

 Tại Mỹ

UBCK và giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) đã quyết định giảm bớt quy định

về công bố thông tin cho các cơng ty nhỏ, có hiệu lực từ ngày 4/2/2008. Thuật ngữ

“tổ chức phát hành quy mô nhỏ” (small business issuers) đã được thay thế bằng

thuật ngữ mới rộng hơn là “công ty CBTT quy mô nhỏ” (Smaller reporting

companies). Các công ty CBTT quy mô nhỏ là các cơng ty có giá trị cổ phiếu lưu

hành trong cơng chúng (public equity float) dưới 75 triệu USD hoặc công ty có mức

doanh thu hàng năm dưới 50 triệu USD trong năm tài khóa gần nhất (nếu khơng xác

định theo giá trị cổ phiếu lưu hành trong công chúng). Ngưỡng 75-50 triệu USD này

sẽ được đánh giá lại 5 năm một lần tùy theo điều kiện lạm phát. Những công ty đại

chúng quy mô lớn (larger public company) là công ty có giá trị cổ phiếu lưu hành

trong cơng chúng vượt quá 75 triệu USD tính tại thời điểm cuối quý II năm tài khóa

hoặc doanh thu hàng năm vượt quá 50 triệu USD trong bất cứ năm tài khóa nào.

Những công ty đại chúng quy mô lớn không thể chuyển sang công ty CBTT quy mô

nhỏ cho tới khi giá trị cổ phiếu lưu hành trong công chúng xuống dưới mức 50 triệu

USD cuối quý II năm tài khóa gần nhất hoặc doanh thu hàng năm xuống dưới mức

40 triệu USD trong năm tài khóa gần nhất.

Hệ thống CBTT theo quy mơ:

- Quy định mới xóa bỏ các quy định S-B (Regulation S-B) và chuyển các yêu cầu

về báo cáo và CBTT trong các quy định S-B sang các điều khoản tương ứng tại Quy

định S-K và yêu cầu báo cáo và CBTT tài chính tại Quy định S-B được đưa vào một

Điều mới (Điều 8) của Quy định S-X.



24



- Theo quy định mới các công ty quy mô nhỏ có thể lựa chọn việc tuân thủ CBTT

theo quy định S-K cho các công ty CBTT quy mô nhỏ cũng như lựa chọn thực hiện

CBTT áp dụng cho các công ty quy mô lớn. Áp dụng quy định tùy ý này trong mơ

hình CBTT theo quy mơ giúp cho các doanh nghiệp nhỏ có lợi thế trong việc chọn

lọc cách công bố thông tin. Các công ty CBTT quy mô nhỏ không phải báo cáo chi

tiết như các công ty lớn và quy định về số năm báo trong một số nội dung được rút

ngắn lại (ví dụ: CBTT về kế hoạch phát triển hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp trong 3 năm thay vì 5 năm như trước; CBTT về thù lao trong 3 năm (thay vì

5 năm) chi trả cho ban giám đốc điều hành doanh nghiệp…). Bên cạnh đó, đối với

một số ngành nghề cụ thể có hướng dẫn nội dung CBTT riêng (như ga, dầu, bất

động sản).

Như vậy, tại thị trường Mỹ khơng có sự phân biệt về CBTT theo tiêu chí là doanh

nghiệp niêm yết hay không niêm yết mà áp dụng CBTT theo quy mô của công ty.

 Tại Úc

Khung pháp lý đề xuất về việc CBTT chia doanh nghiệp thành 2 nhóm CBTT dựa

trên nhu cầu chuẩn bị Báo cáo tài chính tổng quan (General Purpose financial

statements- GPFS)

- Nhóm 1: SGDCK Úc yêu cầu báo cáo tài chính đầy đủ theo Tiêu chuẩn báo cáo

Tài chính Quốc tế (Full IFRS required)

+ Tất cả các cơng ty đại chúng hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận (all publicly

accountable for-profit entities) như các công ty niêm yết, các ngân hàng, công ty

bảo hiểm và các tổ chức CBTT khác…

+ Doanh nghiệp thuộc khu vực tư hoạt động khơng vì mục tiêu lợi nhuận thuộc diện

CBTT đầy đủ.

+ Các doanh nghiệp thuộc khu vực công như các hiệp hội, cơ quan nhà nước, chính

quyền địa phương, trường học… thuộc diện CBTT đầy đủ.

- Nhóm 2: CBTT ở cấp độ thấp hơn



25



+ Các công ty không thuộc cơng ty đại chúng hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận

+ Các doanh nghiệp thuộc khu vực tư không vì mục tiêu lợi nhuận khơng thuộc đối

tượng phải cơng bố thông tin đầy đủ

+ Các tổ chức thuộc khu vực cơng khơng thuộc nhóm 1.

Như vậy, tại Úc khơng có sự phân biệt về CBTT theo tiêu chí là niêm yết hay không

niêm yết. Quốc gia này phân loại các doanh nghiệp thành 2 nhóm với 2 chế độ cơng

bố thơng tin khác nhau, theo tiêu chí quy mơ, loại hình cơng ty. Tuy nhiên, theo

hướng đề xuất thì việc CBTT ở cấp độ thấp hơn sẽ áp dụng cho các doanh nghiệp

không phải là công ty đại chúng (public accountable entities).

 Tại Nhật bản

Pháp nhân tự giám sát SGDCK Tokyo là một bộ phận quản lý thuộc CTCP Tập

đoàn SGD Nhật Bản, bao gồm Ban niêm yết và Ban tuân thủ luật pháp. Ban niêm

yết gồm có bộ phận thẩm định niêm yết và bộ phận quản lý niêm yết. Như vậy tại

thị trường chứng khoán Nhật bản, công tác thẩm định niêm yết và quản lý niêm yết

được tác bạch bởi 2 bộ phận khác nhau.

Hiện nay, JXP đang thúc đẩy biện pháp quản lý niêm yết dạng phòng ngừa bằng

cách tích cực tun truyền, nâng cao ý thức và nhận thức về trách nhiệm của các

doanh nghiệp niêm yết đối với thị trường.

 Tại Trung Quốc

SGDCK là một pháp nhân hoạt động khơng vì mục tiêu lợi nhuận, cung cấp điểm

giao dịch, việc thành lập, giải thể SGDCK do Quốc Vụ viện quyết đinh. Đối với

việc niêm yết chứng khốn, SGD có thể được Ủy ban Giám quản ủy quyền để tạm

dừng, khôi phục hoặc hủybỏ niêm yết chứng khoán trên SGDCK.

Cơ quan giám quản và SGDCK giám sát việc tuân thủ các quy định đối với cơng ty

niêm yết, bao gồm:



26



+ Duy trì cơng khai thơng tin: Các văn bản về niêm yết chứng khốn và cơng bố

thơng tin phải chân thực, chính xác, hồn chỉnh, khơng được có ghi chép giả dối,

gây hiểu lầm hoặc thiếu sót nghiêm trọng.

+ Duy trì điều kiện niêm yết: Các cơng ty niêm yết phải duy trì được điều kiện niêm

yết theo quy định pháp luật hiện hành. Ủy ban Giám quản sẽ hủy bỏ tư cách niêm

yết của cơng ty nếu cơng ty có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc không

đủ các điều kiện niêm yết và hoặc có nhiều sai phạm về CBTT mà không khắc

phục…

1.3.2 Một số bài học kinh nghiệm

Thứ nhất, đối với các SGDCK mới nổi, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và các

thể chế thị trường để tạo đà phát triển mạnh. Khung pháp lý ổn định sẽ là tiền đề

cho sự phát triển của TTCK cũng như các SGDCK

Thứ hai, tiếp tục tìm kiếm thị trường mới để thu hút niêm yết chéo, mở rộng toàn

cầu.

Đây là kinh nghiệm đối với các SGDCK đã phát triển, bằng cách sáp nhập các

SGDCK nhỏ hơn, yếu hơn nhằm hình thành các tập đoàn SGDCK liên lục địa sẽ

thu hút được nhiều chứng khốn niêm yết trên thị trường, có cơ hội giao dịch mở

rộng, tạo tính thanh khoản hơn cho thị trường

Thứ ba, áp dụng các biện pháp quản lý phòng ngừa.

Bằng cơng tác tun truyền, phổ biến các kiến thức, quy định về thị trường, biện

pháp này có tác dụng nâng cao hiểu biết ý thức trách nhiệm của các thành viên tham

gia thị trường.

Thứ tư, tăng cường sức mạnh về IT để thống lĩnh khu vực có các SGDCK nhỏ

hơn ở các nước lân cận bằng công nghệ.



27



Xu hướng phát triển này đem lại cơ hội cho các SGDCK đang phát triển cơ hội “đi

tắt đón đầu”, có thể bỏ qua giai đoạn phát triển tuần tự hàng trăm năm, tập trung

vào những mục tiêu trọng yếu phù hợp với xu hướng phát triển chung của thời đại,

tiếp cận công nghệ mới, sản phẩm mới thông qua con đường hợp tác, liên kết.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khả năng nghiên cứu và phát triển

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×