Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các giả thuyết nghiên cứu:

Các giả thuyết nghiên cứu:

Tải bản đầy đủ - 0trang

có họ sẽ gặp khó khăn trong việc đi lại, công việc và cuộc sống sẽ không thuận

lợi… họ sẽ có động cơ giải quyết vấn đề mua xe đạp điện.

Khả năng tài chính, các quyết định tiêu dùng trước đó, các đặc điểm của

tuổi tác, gia đình, văn hóa và tầng lớp xã hội, sự phát triển cá nhân, tình trạng

hiện tại, các nỗ lực marketing là các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng ước

muốn và hiện tại của người tiêu dùng.

Từ những lập luận này tác giả đưa ra giả thuyết:

- Thu nhập có ảnh hưởng tới quyết định mua xe đạp điện:

H1: Thu nhập càng cao thì người ta có nhu cầu sử dụng xe đạp điện

càng lớn và ngược lại.

- Thương hiệu có ảnh hưởng tới quyết định mua xe đạp điện:

H2: Thương hiệu xe đạp điện càng cao thì người sử dụng chọn càng

nhiều và ngược lại.

- Theo như nghiên cứu của Philip Kotler, hành vi khách hàng sẽ bị chi

phối bởi rất nhiều nhóm. Con người thường bị ảnh hưởng bởi nhóm tham

khảo mà mình khơng là thành viên. Các thành viên trong gia đình của người

mua có thể tạo nên một ảnh hưởng mạnh mẽ lên hành vi của người mua

đó. Trong trường hợp các sản phẩm đắt tiền, thường là chồng/vợ cùng trao

đổi để đưa ra quyết định chung.. Từ những lập luận trên tác giả đưa ra giả

thuyết: Yếu tố tham khảo có ảnh hưởng tới quyết định mua xe đạp điện.

H3: yếu tố nhóm tham khảo ảnh hưởng đến quyết định mua xe đạp điện

của người tiêu dùng.

- Chất lượng có ảnh hưởng tới quyết định mua xe đạp điện:

H4: Xe đạp điện sạc càng nhanh thì khách hàng càng muốn mua và

ngược lại.

H5: Xe đạp điện di chuyển được càng xa thì càng có nhiều khách hàng

muốn mua và ngược lại.

- Cảm xúc, sự thích thú có ảnh hưởng tới quyết định mua xe đạp điện:

H6: Xe đạp điện càng được nhiều người thích thì càng được khách

hàng ưa chuộng và ngược lại.



Chương 3

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA XE ĐẠP ĐIỆN

CỦA NGƯỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

3.1. Tổng quan về địa bàn thành phố Thái Nguyên

3.1.1. Vị trí địa lý

Thành phố Thái Nguyên là thành phố lớn thứ ba miền Bắc sau Hà Nội

và Hải Phòng, thành phố đơng dân thứ 10 cả nước, trung tâm vùng trung du và

miền núi phía Bắc. Thành phố Thái Nguyên được thành lập vào năm 1962 và

là một thành phố công nghiệp. Thành phố Thái Nguyên nằm bên bờ sơng Cầu.

Diện tích 170,7 km2 và dân số 306.842 người (năm 2015).Thành phố Thái

Nguyên từng là thủ phủ của Khu tự trị Việt Bắc trong suốt thời kỳ tồn tại của

khu tự trị này (1956 - 1965) Ngoài ra, thành phố Thái Nguyên được cả nước

biết đến là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và

thành phố Hồ Chí Minh (Wikipedia, Thành phố Thái Nguyên).

Thành phố Thái Nguyên là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên

(trước kia thuộc tỉnh Bắc Thái), trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo

dục, khoa học - kỹ thuật, y tế, du lịch, dịch vụ của tỉnh Thái Nguyên và vùng

trung du miền núi phía Bắc; trung tâm vùng trung du, miền núi Bắc Bộ, cách

thủ đơ Hà Nội 80 km. Phía bắc giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương,

phía đơng giáp thành phố Sơng Cơng, phía tây giáp huyện Đại Từ, phía Nam

giáp huyện Phổ n và huyện Phú Bình (Wikipedia, Thành phố Thái Nguyên).

3.1.2. Điều kiện tự nhiên

Địa hình không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác,

đây là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát

triển kinh tế xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác.(Cổng

thơng tin điện tử, 2012)

Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa

khô từ tháng 10 đến tháng 5. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000

đến



2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1. Mùa đông được chia

thành 3 vùng rõ rệt: Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai; Vùng

lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía nam huyện Võ Nhai;

Vùng ấm gồm các huyện: Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú

Bình, Phổ Yên và thành phố Sơng Cơng. Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng

nhất (tháng 6: 28,9°C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2°C) là 13,7°C. Tổng

số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương

đối đều cho các tháng trong năm. Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất

đai, Thái Ngun có nhiều khả năng để phát triển nông lâm, công nghiệp, du

lịch và các loại hình dịch vụ khác. Diện tích rừng tự nhiên của tỉnh là

102.190 ha, diện tích rừng trồng khoảng 44.450 ha. Đây là một lợi thế to lớn

cho việc phát triển rừng nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ nhân tạo, chế biến

làm ngun liệu giấy. Diện tích đất nơng nghiệp tồn tỉnh chiếm 23% diện tích

tự nhiên, cây hàng năm chủ yếu là cây chè. Ngoài sản xuất lương thực, tỉnh

còn có diện tích tương đối lớn để quy hoạch các đồng cỏ, phát triển mạnh chăn

nuôi đại gia súc, chăn ni bò sữa.. (Cổng thơng tin điện tử, 2012)

3.1.3. Các yếu tố khác

3.1.3.1. Giao thông

Sau 8 năm được công nhận là đô thị loại I, thành phố Thái Nguyên đang

từng bước khẳng định được vai trò, vị thế “đầu tàu” của một đô thị trung tâm,

tạo tiền đề quan trọng xây dựng, phát triển tỉnh Thái Nguyên là vùng kinh tế

trọng điểm Bắc Thủ đô Hà Nội. Đồng thời, hướng tới mục tiêu xây dựng

thành phố Thái Nguyên phát triển trở thành thành phố xanh, văn minh hiện

đại, công nghiệp thân thiện với môi trường, nông nghiệp công nghệ cao và

nông nghiệp sạch. Là một trong những đô thị phát triển mạnh, một trung tâm

kinh tế - xã hội lớn của khu vực Đông Bắc, Thái Nguyên được biết đến như

thủ phủ của công nghiệp gang thép. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố

Thái Nguyên lần thứ XVII (nhiệm kỳ 2015-2020) đã xác định đầu tư phát

triển kết cấu hạ tầng kỹ



thuật đô thị trên địa bàn theo hướng đồng bộ là nhiệm vụ trọng tâm, tạo bước

đột phá để xây dựng thành phố phát triển văn minh, hiện đại. Để đảm bảo phát

triển đô thị bền vững, công tác lập quy hoạch và quản lý quy hoạch trên địa

bàn luôn được chú trọng. Thành phố chủ động rà soát, đánh giá chất lượng

và sự phù hợp của các đồ án quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết để kịp

thời điều chỉnh, bổ sung; lập quy hoạch tại các khu vực mới phát triển nhằm

bố trí nguồn lực thực hiện. Đồng thời, có cơ chế phù hợp huy động sự

tham gia của các thành phần kinh tế trong xã hội đầu tư vào các cơng trình

giao thơng, thốt nước và xử lý nước thải, rác thải, hệ thống chiếu sáng, cây

xanh công viên... Từ năm 2016, thành phố Thái Nguyên tập trung hoàn thiện

Đồ án điều chỉnh quy hoạch chung Thành phố đến năm 2035 và được Thủ

tướng Chính phủ phê duyệt, ngày 20-12-2016. Theo đó, không gian đô thị

thành phố Thái Nguyên được điều chỉnh, mở rộng về phía Đơng và phía Bắc

sơng Cầu, có thêm 5 xã, thị trấn của các huyện Phú Lương, Đồng Hỷ, Phú

Bình, nâng diện tích tự nhiên của thành phố từ 170,7 km2 lên 223,1 km2

(Kênh thông tin đối ngoại của phòng thương mại và cơng nghiệp Việt Nam)

3.1.3.2. Kinh tế và dân số

Năm qua, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành các

văn bản phân công chỉ đạo, điều hành và thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm,

triển khai đồng bộ, thống nhất trên địa bàn tỉnh; trong đó tập trung xây dựng

kế hoạch triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 19, xây dựng

tám chương trình, 16 đề án, 20 dự án cơng trình trọng điểm. Do vậy, việc triển

khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 và giai đoạn

2016

- 2020 cơ bản được thực hiện đúng theo kế hoạch đề ra.

Cấp ủy đảng và chính quyền các cấp đã tăng cường cơng tác kiểm tra,

nắm bắt tình hình để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, kịp thời triển khai thực

hiện các giải pháp như: Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm;

kiểm sốt giá cả hàng hóa, dịch vụ và tập trung sử dụng hiệu quả các nguồn

vốn; đẩy



mạnh các giải pháp cải cách hành chính, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh

(PCI) và chỉ số hiệu quả, quản trị hành chính cơng cấp tỉnh (PAPI); tăng cường

thu hút đầu tư, tổ chức nhiều hội nghị triển khai các chính sách, cơ chế mới

của Nhà nước, kiểm tra, rà soát có giải pháp cụ thể đối với các dự án chậm

tiến độ, kéo dài trên địa bàn, từng bước tạo điều kiện thuận lợi cho các

doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Nhiều nhà đầu tư lớn đã vào đầu tư trên địa bàn, nhiều dự án lớn được khởi

động. Trong đó có nhiều dự án đã hồn thành, đi vào sản xuất, góp phần

nâng cao năng lực sản xuất, tiếp tục đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế của

tỉnh; nhất là tốc độ gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu

và thu ngân sách. Nông nghiệp cơ bản hồn thành kế hoạch; mặt bằng lãi

suất tín dụng giảm; an sinh và phúc lợi xã hội được thực hiện kịp thời; trật

tự an tồn giao thơng chuyển biến tích cực; tình hình an ninh chính trị, trật tự

an tồn xã hội được bảo đảm, góp phần ổn định xã hội, cải thiện đời sống vật

chất và tinh thần của người dân. Điều đáng mừng là tổng sản phẩm trong tỉnh

(GRDP) năm 2016 tăng 15,2% so với năm 2015; trong đó, khu vực nơng, lâm

nghiệp, thủy sản tăng 5,3%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm vào tốc độ tăng

chung; khu vực cơng nghiệp và xây dựng tăng 21,7%, đóng góp 11,2 điểm

phần trăm; khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm tăng 9,6%, đóng góp 3,2 điểm

phần trăm. Năm 2016, khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ vẫn duy

trì tốc độ tăng trưởng cao; trong đó ngành công nghiệp tăng trưởng 23% so

với cùng kỳ. Bên cạnh ngành cơng nghiệp tăng trưởng cao, lực lượng lao

động có sự chuyển dịch lớn về tỉnh Thái Nguyên trong ba năm gần đây dẫn

đến nhu cầu tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ nhà ở, lưu trú, ăn uống... cũng

tăng lên, góp phần thúc đẩy tăng trưởng ngành dịch vụ năm 2016. Tổng sản

phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân đầu người năm 2016 đã đạt 52 triệu

đồng/người/năm, tăng hơn 6,6 triệu đồng/người/năm so với năm 2015 và vượt

kế hoạch đề ra. Nếu tính theo USD, GRDP bình qn đầu người tỉnh Thái

Nguyên năm 2016 đạt 2.325 USD/người/năm, vượt mức bình quân



chung của cả nước. Nhịp độ sản xuất của các đơn vị sản xuất công nghiệp trên

địa bàn phát triển ổn định. Ngoài những mặt hàng sản xuất đang phát triển

mạnh là điện tử, viễn thơng và chế biến khống sản thì những sản phẩm cơng

nghiệp truyền thống của tỉnh như: Sắt thép, điện sản xuất và điện thương phẩm

cũng đạt khá cao, góp phần đưa chỉ tiêu giá trị sản xuất cơng nghiệp cả năm

hồn thành vượt mức so kế hoạch ở tất cả các khu vực, thành phần kinh tế.

Nhìn tổng quát tình hình kinh tế - xã hội, tỉnh Thái Nguyên đã đạt được

kết quả tích cực: tăng trưởng kinh tế tiếp tục được duy trì ở mức cao, chuyển

dịch cơ cấu kinh tế nhanh theo hướng công nghiệp; thu ngân sách trong cân

đối năm 2016 đạt hơn 9.500 ty đồng, bằng 147,1% dự toán năm, tăng 30,6%

so với năm 2015; thu nhập bình quân đầu người tiếp tục tăng và cao hơn

mức bình quân chung cả nước; sản xuất nông nghiệp cơ bản đáp ứng nhu cầu;

xây dựng nông thôn mới đạt kết quả khá và tiếp tục có 15 xã đạt chuẩn nơng

thơn mới; sản xuất công nghiệp phát triển với quy mô tăng cao, tạo động lực

cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp hóa, kim ngạch

xuất khẩu tuy khơng đạt kế hoạch nhưng vẫn là địa phương có giá trị xuất

khẩu lớn (đứng thứ ba cả nước); thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài cũng như thu hút các nguồn lực của các doanh nghiệp lớn trong nước

đạt cao, nhiều dự án lớn đã và đang triển khai, tạo việc làm cho hơn 26 nghìn

lao động; giá cả thị trường ổn định, cung cầu hàng hóa được bảo đảm, đời

sống dân cư ổn định… Đây là kết quả của sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt của

các cấp ủy đảng, chính quyền cũng như kịp thời chỉ đạo các vấn đề phát sinh

trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ sở, quyết định đầu tư

đúng hướng, trọng tâm, trọng điểm và sự nỗ lực chung của các ngành, doanh

nghiệp, doanh nhân và nhân dân trên địa bàn tỉnh. Và đây cũng là tiền đề, là

nền tảng then chốt đã và đang thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển

trong năm nay và những năm tiếp theo (Vũ Hồng Bắc, 2017).

Về dân số:



Gia tăng dân số: Số dân năm 1997, khi bắt đầu tái lập tỉnh, dân số tỉnh

Thái Nguyên có 1.034.112 người đến năm 2011 dân số đã là 1.139.444 [15]

Năm



2005



2008



2009



2010



2011



Số dân



1.098.490



1.120.310



1.125.368



1.131.278



1.139.444



Gia tăng cơ học và nguyên nhân chủ yếu dẫn tới biến động dân số

Thái Nguyên là tỉnh đã diễn ra hiện tượng gia tăng cơ học dẫn tới biến

động dân số nổi rõ hơn nhiều tỉnh khác. Là một tỉnh trước đây đất rộng người

thưa, có nhiều tài nguyên, nên từ xa xưa đã thu hút nhiều người dân ở các nơi

đến làm ăn sinh sống.

Tác động của gia tăng dân số tới đời sống và sản xuất: Sự gia tăng dân

số tự nhiên và gia tăng cơ học làm cho Thái Nguyên có lực lượng lao động bổ

sung dồi dào, làm tăng cường trình độ văn hố, khoa học kĩ thuật để phát triển

kinh tế- xã hội. Tuy nhiên sự gia tăng nhanh dân số cũng nẩy sinh nhiều vấn

đề phải giải quyết như về lao động và việc làm, giáo dục, y tế, môi trường...

Kết cấu dân số theo giới tính: Ty lệ số dân nam-nữ của tỉnh không biến

động nhiều. Trong những năm gần đây ty lệ số dân là nữ đã giảm đi như sau:

Năm 1999: 50, 2%; Năm 2005: 49,98%; Năm 2010: 50,71%.

Kết cấu theo độ tuổi: Thái Nguyên là tỉnh có dân số trẻ, điều đó làm cho

tỉnh có nguồn lao động bổ sung khá dồi dào. Theo kết quả tổng điều tra dân số

năm 1- 4-2009, độ tuổi của dân số tỉnh Thái Nguyên như sau:

* Dân số có độ tuổi 0-14: 29,6%

* Dân số có độ tuổi 15-59: 63,0%

* Dân số có độ tuổi trên 60: 7,4%

Kết cấu theo lao động: Theo kết quả điều tra về lao động và việc làm

năm 2012. Cơ cấu lao động của tỉnh Thái Nguyên có sự chuyển dịch theo

hướng tăng ty lệ lao động ngành công nghiệp, dịch vụ. nhưng liên quan tới

vấn đề chất



lượng lao động có chun mơn kĩ thuật từ sơ cấp trở lên, tồn tỉnh có ty lệ

bằng 26,37% tổng lao động (cao hơn một chút so với mức bình quân cả nước

25,5%).

Kết cấu theo dân tộc: Theo kết quả tổng điều tra dân số 01-4-2009, ty lệ

kết cấu của các dân tộc tỉnh Thái Nguyên như sau:

Kinh



(75,23%)



Sán Chay (2,79%)



Mường (0,09%)



Tày



(10,15%)



Dao



(2,08%)



Thái



(0,04%)



Nùng



(5,22%)



Mông



(0,46%)



Ngái



(0,04%)



Hoa



(0,24%)



Sán dìu (3,57%)



Ảnh hưởng của kết cấu dân số: Kết cấu độ tuổi và kết cấu lao động cho

thấy tỉnh Thái Nguyên có lực lượng lao động bổ sung dồi dào và phần lớn là

lao động ở nơng thơn, do đó sự chuyển đổi cơ cấu lao động của tỉnh, đòi hỏi

phải đẩy mạnh việc đào tạo nghề cho nguồn lao động bổ sung từ nông thôn để

chuyển sang làm công nghiệp, dịch vụ.

Thái Nguyên là tỉnh có nhiều dân tộc nên đã trở thành nơi hội tụ nền

văn hoá phong phú, đa dạng của nhiều dân tộc. Đặc điểm kết cấu dân tộc

trên đã được quán triệt trong quá trình hoạch định và chỉ đạo kế hoạch phát

triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhằm vừa làm cho miền núi tiến kịp miền xi

và vừa giữ gìn được bản sắc văn hoá của từng dân tộc.

Mật độ dân số: Tỉnh Thái Ngun có mật độ dân số trung bình lớn hơn

so với các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta. Kể từ khi tái lập tỉnh, mật độ trung

bình đã tăng đều hàng năm như sau:

Bảng 3. 1: Bảng thống kê mật độ dân số

Năm



1997



1998



1999



2000



2004



2006



2011



Mật độ



292



296



299



301



310



319



325



Dân cư phân bố không đều, ở các vùng núi mật độ dân cư thấp, trong

khi đó ở vùng đồng bằng, đơ thị mật độ dân cư cao hơn. Năm 2011, mật độ

dân số trung bình tồn tỉnh là 325 người/km2, nơi có mật độ dân số trung

bình cao



nhất là thành phố Thái Nguyên (1.545 ng/km2), thấp nhất là huyện Võ Nhai

(78 người/km2).

Các loại hình cư trú chính: Thái Ngun tồn tại 2 loại hình quần cư đó

là quần cư nơng thơn và quần cư thành thị. Theo kết quả tổng điều tra dân số

1-4-1999, ty lệ dân nông thôn của Thái Nguyên 78,2%, thành thị là 21,8%.

Những năm gần đây, cùng với xu hướng đơ thị hố, ty lệ số dân thành thị cũng

đã tăng cao hơn, năm 2011 ty lệ số dân thành thị đã là 28,3 %, nông thôn là

71,7 %.

Loại hình quần cư nơng thơn xuất hiện từ xa xưa và phân tán theo

không gian. Ở các làng bản vùng núi, dân cư thưa thớt, người dân hoạt

động nông, lâm nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng) là chủ yếu.

Loại hình quần cư thành thị thường tập trung dọc các trục đường, các

đầu mối giao thông lớn, thị trấn, thị xã và thành phố; ở những nơi trên, mật độ

dân cư tập trung cao, hoạt động phi nông nghiệp là chủ yếu (cơng nghiệp,

thương mại, dịch vụ...).

3.2.Tình hình kinh doanh xe đạp điện trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

Xe đạp điện bắt đầu phát triển vào những năm 2014-2015 tại Thái

Nguyên với hàng loạt các cửa hàng kinh doanh cung cấp các mẫu mã đa dạng,

với đối tượng nhắm đến chủ yếu là các bạn học sinh cấp 2 và học sinh cấp 3.

Ngoài ra thành phố Thái Nguyên còn có Đại học Thái Ngun còn là đại học

vùng lớn nhất khu vực trung du và miền núi phía bắc nên có rất nhiều các bạn

sinh viên học tập tại đây, và đây cũng là đối tượng mà các cửa hàng kinh

doanh nhắm đến phục vụ. Hiện nay tại thành phố Thái Nguyên có trên dưới

20 cửa hàng bán xe đạp điện và hàng chục các cửa hàng kinh doanh dịch vụ

cho thuê

xe đạp điện ở nhiều địa điểm trong thành phố.

Thị trường xe đạp điện tại Thành phố Thái Nguyên rất đa dạng về

chủng loại của các hãng xe đạp điện như là Honda, Yamaha, Asama, Giant,

Ninja, HKbike. Các hãng sản xuất liên tục tung ra những dòng xe mới, đặc

biệt là các



loại xe đạp điện với mức giá nằm trong khoảng từ gần 9 triệu đồng đến hơn 13

triệu đồng.

Kênh phân phối xe đạp điện của các hãng xe đạp điện không trực tiếp

bán sản phẩm cho người tiêu dùng mà thông qua trung gian phân phối là các

nhà phân phối, đại lý ủy quyền. Các đại lý phân phối có trách nhiệm phát triển

thị trường trong khu vực phân công và tự chịu về hiệu quả hoạt động kinh

doanh của mình. Các đại lý chỉ kiểm sốt về chất lượng, đảm bảo xe chính

hãng, khơng bị thay thế phụ tùng, còn giá bán là do các cửa hàng bán lẻ quyết

định.

Đây là một trong các nghiên cứu mới trên địa bàn thành phố Thái

Nguyên nên tác giả không thu thập được nhiều các thông tin phản hồi từ số

liệu thứ cấp như về các thống kê, các bài viết, sách báo tạp chí viết về xe đạp

điện trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Tuy nhiên trong khoảng thời gian

trước đây khi tác giả có tham gia vào công tác kinh doanh tại cửa hàng kinh

doanh xe đạp điện đó là Showroom Xe Đạp - Xe Điện Việt Hùng, Số 338,

đường Bắc Cạn, Hoàng Văn Thụ, Thành phố Thái Nguyên thì tác giả đã thu

nhận được rất nhiều các thông tin qua kênh truyền miệng rằng xe đạp điện

hiện tại là một trong các phương tiện được đánh giá rất cao về chất lượng, giá

cả, sự tiện lợi và tính cơ động khi sử dụng. Tuy nhiên các khách hàng khi

mua cũng khơng hài lòng đối với một số những nhược điểm của phương tiện

này như là thời gian sạc pin của xe đạp điện khá lâu, các quãng đường di

chuyển được sau mỗi lần sạc đủ điện chưa được tốt, khả năng chống nước

của xe đạp điện.

Sau đây là danh sách một số cửa hàng kinh doanh xe đạp điện và một số

loại xe đạp điện được kinh doanh chủ yếu tại các cơ sở đại lý trên địa bàn

thành phố Thái Nguyên, mà tác giả đã thu thập được trong quá trình điều tra

số liệu trên địa bàn thành phố Thái Nguyên:

Bảng 3. 2: Bảng thống kê các cửa hàng kinh doanh

xe đạp điện trong khu vực thành phố Thái Nguyên



Stt



Tên cửa hàng



Địa chỉ



Số điện thoại

0932 892 233



1



Thế giới xe điện



Số 235, Hoàng Văn Thụ,

Đồng Quang, thành phố

Thái Nguyên



2



Cửa Hàng Xe Đạp

Điện Slane



Số 291A, Thống Nhất,

phường Tân Lập, Thành 0208 3842 231

Phố Thái Nguyên



3



Cửa Hàng Xe Máy

Xe Đạp Điện Khánh

Dương 2



Số 05, Tân Thịnh, phường

Thịnh Đán, Thành Phố Thái

Nguyên,



0972 267 322



4



Cửa Hàng Xe Đạp

Điện Tuấn Huyền 2



Số 136 Lương Ngọc

Quyến, Hàng Văn Thụ,

Thành phố Thái Ngun



0974 150 759



5



Cơng Ty TNHH Xe

Điện Đức Hòa



Số 26, Tổ 22, phường

Hoàng Văn Thụ, Thành Phố

Thái Nguyên, Tỉnh Thái

Nguyên



0912 454 504



6



Đại Lý Xe Đạp Điện

Nam Lương



Số 931 Dương Tự Minh,

Hoàng Văn Thụ, Thành phố

Thái Nguyên



0983 356 686



7



HKbike Thái Nguyên



Số 963 Dương Tự Minh,

Hàng Văn Thụ, Thành phố

Thái Nguyên



0968 568 300



8



Showroom Xe Đạp Xe Điện Việt Hùng



Số 338, đường Bắc Cạn,

Hàng Văn Thụ, Thành phố 02083 856 962

Thái Nguyên



9



Xe điện Tuấn Tuyến

cơ sở 2



Số 118A, phường Quang

Trung, thành phố Thái

Nguyên



0904 060 199



Đại lý xe điện Đồng

Xuyến



Tổ 1, đường Hoàng Văn

Thụ, phường Phan Đình

Phùng, thành phố Thái

Nguyên.



0984 395 868



10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các giả thuyết nghiên cứu:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×