Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG M&A CỦA CÁC NHTMVN

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG M&A CỦA CÁC NHTMVN

Tải bản đầy đủ - 0trang

23



 Thứ hai: khó đánh giá chính xác chất lượng tín dụng

Tăng trưởng tín dụng nóng, cợng với quản lý tín dụng khơng tốt đã dẫn đến

nợ xấu ln là vấn đề lớn của hệ thống ngân hàng trong thời qua. Mặc dù ý thức

được điều này, NHNN đã yêu cầu các NHTM hạn chế tăng trưởng tín dụng quá cao,

nhưng thực tế tốc đợ tăng trưởng tín dụng ln ở mức trên 20% trong những năm

trước đây.



Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng tín dụng giai đoạn năm 2001-2013

Nguồn: cafeland.vn

Đặc biệt, tốc đợ tăng trưởng tín dụng lên đến 51,4% vào năm 2007, 37,7%

trong năm 2009 và hạ nhiệt xuống còn 7,5% vào tháng 11/2013. Việc khó đánh giá

chính xác nợ xấu có hai lý do:

 Mợt là, do dự khác biệt trong cách phân loại nợ theo tiêu chuẩn Việt Nam

(VAS) và theo tiêu chuẩn quốc tế (IAS)

 Hai là, mợt số ngân hàng biến nghiệp vụ nợ, nó vốn là nghiệp vụ bình

thường của ngân hàng thành mợt hình thức để giảm tỷ lệ nợ xấu do gia

hạn nợ không được xem là nợ xấu.

Cách thức phân loại nợ theo VAS thì việc phân loại nợ dựa vào định lượng

mà thiếu đi phần định tính như tình hình tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh.



24



Điều này dẫn đến việc phân loại nợ không phản ánh thực chất các khoản nợ. Đồng

thời các ngân hàng chỉ xếp phần nợ đến hạn không trả được vào nợ quá hạn, trong

khi phần còn lại của khoản nợ vẫn là nợ đủ tiêu chuẩn. Trong khi theo tiêu chuẩn

IAS nếu phần nợ đến hạn khơng trả được nợ thì tồn bợ khoản nợ phải sếp vào nợ

quá hạn. Cụ thể theo công bố của NHNN tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng đến

tháng 5/2012 ở mức 4,65%, chưa tính đến con số của Vinashin chiếm khoảng 0,7%

tổng dư nợ tồn ngành, theo đánh giá của NHNN thì con số này vẫn trong tầm kiểm

soát. Tuy nhiên, theo đánh giá của tổ chức xếp hạn tín nhiệm Fitch Ratings thì tỷ lệ

nợ xấu của hệ thống là 13%, đây là con số đáng lo ngại.

 Thứ ba: Khả năng thanh khoản yếu kém

Những tháng cuối năm 2010 đến cuối năm 2011 xảy ra cuộc đua lãi suất dài

và khốc liệt, trần lãi suất huy đợng ở mức 14%/năm, song có vẻ như mức này khơng

có ý nghĩa gì khi các ngân hàng đưa lãi suất “leo thang”, có thời điểm 21-22%/năm.

Đồng thời, xảy ra tình trạng chưa từng có tiền lệ trước đây là hiện tượng vay liên

ngân hàng cũng yêu cầu tài sản đảm bảo và cũng có trường hợp ngân hàng đi vay

khơng thanh tốn đúng thời hạn cho ngân hàng cho vay. Điều này chứng tỏ thanh

khoản của nhiều ngân hàng có vấn đề. Nếu tất cả các ngân hàng đều có tính thanh

khoản tốt sẽ khơng có chuyện phải tìm mọi cách để lách quy định, đưa lãi suất leo

từ “đỉnh” này sang “đỉnh” khác.

Sau nhiều biện pháp và nỗ lực của NHNN để giảm lãi suất huy động, giảm

căng thẳng thanh khoản cho thị trường, đến tháng 8/2012 các ngân hàng dư vốn, ế

tín dụng nhưng vẫn chạy tăng lãi suất huy động, nhất là huy động dài hạn. Đối với

lãi suất ngắn hạn, cách làm cũ là nhiều NHTMCP vẫn đang chạy huy động với lãi

suất ngắn hạn vượt trần 9%/năm, ngân hàng huy đợng thấp cũng ở mức 10,3%/năm

và cao thì có thể lên đến 12%/năm cho kỳ hạn 1-3 tháng. Khi đến gửi tiền, trong

hợp đồng ngân hàng vẫn ghi lãi suất 9%/năm, phần chênh lệch lãi suất được trả

bằng tiền mặt ngay khi khách hàng gửi tiền hoặc trả vào cuối kỳ khi rút vốn.

Không chỉ với các kỳ hạn ngắn, ở kỳ hạn dài từ 1 năm trở lên, các ngân hàng

cũng đang đua lãi suất. Từ đầu tháng 8/2012, nhiều ngân hàng đã tăng lãi suất tiền

gửi trung và dài hạn lên mức 10-12%/năm để hút vốn. So với thời gian trước đây,



25



thanh khoản của các ngân hàng tuy đã được cải thiện, nhưng chưa hẳn đã “bình

phục” hồn tồn, hiện tượng tăng lãi suất huy đợng khơng phải để cho khách hàng

vay trong năm 2012 đã nói lên điều này.

 Thứ tư: Cơ cấu thu nhập chưa đa dạng, chủ yếu phụ thuộc vào hoạt động

tín dụng.

Nguồn thu nhập từ hoạt đợng tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu

thu nhập của hầu hết các NHTM trong nước. Năm 2012 tỷ trọng thu nhập từ tín

dụng của 10 ngân hàng hàng đầu Việt Nam là 76,8%. Đối với mợt số ngân hàng có

quy mơ nhỏ hơn, tỷ trọng này thậm chí còn lớn hơn 90% (cụ thể: ngân hàng Liên

Việt 92,2%, Nam Việt 93,1%). Điều này cho thấy cơ cấu thu nhập của hệ thống ngân

hàng Việt Nam chưa có sự đa dạng, phụ tḥc nhiều vào hoạt đợng tín dụng, kéo

theo rủi ro về chất lượng tín dụng. Đồng thời, khi tăng trưởng tín dụng bị hạn chế

như tình hình gần đây, thu nhập của các ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng đáng kể.

2.2.

Phân tích SWOT (Strengths – Weaknesses – Opportunities –

Threats) các NHTM tại Việt Nam.

2.2.1.

Điểm mạnh (Strengths)

 Thứ nhất: Thị trường tiềm năng

Dân số Việt nam đã đạt ở con số 90 triệu người – đứng thứ 14 trên thế giới

và thứ 8 ở Châu Á. Việt Nam đang ở giai đoạn cơ cấu “dân số vàng”, dân số trong

độ tuổi lao động tăng cao. Cơ cấu dân số trẻ dưới 30 tuổi ở mức 57% tại thời điểm

hiện tại với đặc điểm năng đợng, có học vấn cao, thích tiêu dùng, thích thử cái

mới… Mức thu nhập tại thành thị cũng đang gia tăng; theo con số của Tổng cục

thống kê, năm 2012 GDP bình quân đầu người đạt 1.540 USD/người/năm, theo con

số tính tốn của Bợ thương mại năm 2020 sẽ tăng từ 3,3 – 3,6 lần so với năm 2010.

Đó là những thuận lợi để phát triển các dịch vụ ngân hàng.

Theo khảo sát của Công ty nghiên cứu thị trường Nielsen vào tháng 7/2011

thì tỷ lệ người tiêu dùng Việt Nam sử dụng các sản phẩm tiện ích của ngân hàng rất

thấp so với các nước trong khu vực. Thẻ tín dụng chưa phổ biến ở Việt Nam, nhưng

tình hình sử dụng thẻ ở thị trường các nước khác cho thấy sự thơng dụng thẻ này chỉ

còn là vấn đề thời gian. Số người biết về thẻ tín dụng là 42% số người được hỏi,

36% số người được hỏi cho rằng mình khơng có nhu cầu sử dụng thẻ tín dụng,



26



nhưng chỉ có 1% người Việt Nam sử dụng thẻ tín dụng. Trong khi đó ở Indonesia,

quốc gia có mức độ tăng trưởng tương đương Việt Nam, tỷ lệ sử dụng thẻ tín dụng

là 5%, ở HongKong là 60%. Đối với các dịch vụ cơ bản của ngân hàng thì số người

sử dụng là 32% số người được hỏi có duy trì tài khoản giao dịch, 31% sử dụng thẻ

ATM/thẻ ghi nợ, 12% có tài khoản/ tài khoản tiết kiệm, 2% sử dụng dịch vụ cho vay

ngân hàng, 4% sử dụng dịch vụ chuyển/thanh toán tiền. Như vậy, thị phần cho các

dịch vụ của ngân hàng còn rất lớn.

 Thứ hai: Tôc độ tăng trưởng nhanh

Về số lượng ngân hàng: Hệ thống ngân hàng ở nước ta đến thời điểm tháng

06/2013 gồm: 01 ngân hàng chính sách, 05 NHTM Nhà nước, 35 NHTMCP, 50 Chi

nhánh ngân hàng nước ngoài, 05 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 04 ngân hàng

liên doanh. Từ số lượng 78 ngân hàng vào năm 2006 và đã tăng lên con số 100 ngân

hàng trong năm 2013. Theo đánh giá của ngân hàng thế giới thì số lượng ngân hàng

như trên là nhiều đối với nền kinh tế như Việt Nam. Cùng với số lượng các ngân

hàng tăng nhanh thì mạng lưới của các ngân hàng cũng tăng lên nhanh chóng, phát

triển mạnh phủ khắp quận, huyện và hình thành cả trong các trường học, bệnh viện.

Về tổng tài sản ngân hàng: Quy mô của các ngân hàng Việt Nam đã tăng

đáng kể trong thời gian gần đây. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế thì tổng tài sản của ngành

đã tăng hơn gấp đôi trong giai đoạn 2007-2011, từ 1.097 nghìn tỷ đồng (khoảng

52,4 tỷ USD) lên 2.690 nghìn tỷ đồng (khoảng 182,7 tỷ USD). Việt Nam nằm trong

danh sách 10 nước có tốc đợ tăng trưởng tài sản ngành nhanh nhất trên thế giới theo

thống kê của The Banker, đứng vị trí thứ 2 sau Trung Quốc.

Về Tăng trưởng tín dụng và huy động: với đặc trưng của nền kinh tế mới nổi,

tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy đợng của Việt Nam luôn ở mức cao hơn 20%

hàng năm trong suốt giai đoạn 2000-2010, mức tăng trung bình tín dụng và huy

đợng giai đoạn này là 31%/năm và 29%/năm, cá biệt là năm 2007 mức tăng gần

35%/năm và 48%/năm.

Về số lượng máy rút tiền tự động (ATM) và thẻ: cùng với sự phát triển về số

lượng, mạng lưới thì số lượng máy ATM và thẻ phát hành cũng tăng lên đáng kể.



27



Theo số liệu của NHNN số lượng thẻ thanh toán tăng hơn gấp ba từ năm 2008 là

14,7 triệu thẻ lên 52,6 triệu thẻ vào năm 2012, hơn 13.000 máy ATM cùng với

50.000 điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ (POS). Kết quả này đạt được nhờ thu

nhập bình quân mỗi hợ gia đình và nhu cầu đối với dịch vụ ngân hàng bán lẽ ngày

càng gia tăng.

 Thứ ba: Sự quan tâm và hỗ đặc biệt từ phia NHNN

NHNN đóng vai trò là chủ ngân hàng của hệ thống các NHTM, khơng có

NHTM hoặc TCTD nào dám khẳng định rằng trong lịch sử hoạt đợng của mình

chưa hề có lúc kẹt tiền mặt, những đượt rút tiền ồ ạt của nhân dân (vì lãi suất thấp,

có thể những loại đầu tư khác có lợi cao hơn hoặc vì khơng đủ tin tưởng vào ngân

hàng…) sẽ rất dễ làm cho NHTM vỡ nợ do không đủ tiền mặt chi trả cho nhân dân.

Trong trường hợp như thế khi NHTM khơng còn chổ vay mượn nào khác ngoài

NHNN, NHNN cho NHTM vay với phương thức gọi là cho vay chiết khấu, thông

qua phương thức này sẽ giúp các NHTM tránh khỏi sự đổ vỡ.

 Thứ tư: Hiện đại hóa ngân hàng

Các NHTMVN điều đang từng bước hiện đại hóa, ứng dụng những phần

mềm công nghệ hiện đại theo hướng hỗ trợ phát triển các sản phẩm dịch vụ có hàm

lượng cơng nghệ cao, nâng cao khả năng cạnh tranh, tăng tiện ích cho người sử

dụng, cải tiến năng suất lao động, tăng cường khả năng giám sát, kiểm sốt hoạt

đợng nghiệp vụ.

Theo khảo sát mới nhất của Bộ thông tin và truyền thông, thực trạng ứng

dụng công nghệ thông tin trong ngành ngân hàng hiện nay đang tḥc nhóm dẫn

đầu. Tỷ lệ máy tính trên cán bợ tồn ngành đạt trên 92%, mức trung bình các chi

nhánh tham gia kết nối mạng WAN chiếm 98%, có 68 ngân hàng đã triển khai lắp

đặt hệ thống ATM, 96% ngân hàng đã có hệ thống đảm bảo an ninh mạng, 88%

ngân hàng có hệ thống bảo đảm an toàn dữ liệu, 100% ngân hàng có bợ phận

chun trách và lãnh đạo chun trách về CNTT, 92% ngân hàng có chính sách

quản lý rủi ro dựa trên nền tảng CNTT. Thời gian qua rất nhiều ngân hàng công bố

triển khai thành công việc áp dụng hệ thống core-Banking.

2.2.2.

Điểm yếu (Weaknesses)



28



 Thứ nhất: Năng lực quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế so với yêu cầu

của NHTM hiện đại

Vấn đề trình đợ quản lý, đặc biệt trong quản trị danh mục tài sản nợ còn yếu.

Trong danh mục tài sản của ngân hàng, chiếm tỷ trọng lớn vẫn là hoạt đợng tín dụng

trong khi chất lượng tín dụng chưa cao, tỷ lệ nợ xấu lớn, tiềm ẩn rủi ro tín dụng.

Các ngân hàng còn tập trung q nhiều vốn cho hoạt đợng tín dụng và đầu tư dài

hạn, chưa thiết lập được danh mục đầu tư hợp lý, hiệu quả. Bên cạnh đó, các hoạt

đợng huy động vốn chưa đảm bảo nhu cầu thanh khoản và nhu cầu tín dụng của

ngân hàng, dễ dẫn đến rủi ro thanh khoản, việc quản lý kỳ hạn của nguồn vốn huy

đợng còn nhiều bất cập dễ dẫn đến rủi ro tiềm ẩn khi huy động kỳ hạn ngắn nhưng

lại cho vay dài hạn.

 Thứ hai: Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao

Ngành ngân hàng phát triển nhanh trong thời gian qua cùng với việc mở rộng

các chi nhánh, phòng giao dịch nên chất lượng nguồn nhân lực phát triển chưa

tương xứng, chưa kịp thời. Nhiều ngân hàng do thiếu nguồn nhân lực cấp quản lý

nên đã tìm mọi cách để hút nhân sự giỏi từ các ngân hàng khác hoặc đưa những

người có kinh nghiệm làm việc vài năm lên làm quản lý trong khi chưa tích góp đủ

kinh nghiệm cũng như nghiệp vụ. Tuổi đời của cấp quản lý ở ngân hàng ngày càng

trẻ hóa, còn đợi ngũ nhân viên còn thiếu kinh nghiệm, chưa thực sự cung cấp cho

các doanh nghiệp dịch vụ tư vấn một cách hiệu quả.

 Thứ ba: Sản phẩm dịch vụ chưa đa dạng và chưa đáp ứng nhu cầu toàn

diện của khách hàng

Có thể thấy rõ sự đơn điệu về sản phẩm, dịch vụ ngân hàng qua cơ cấu thu

nhập phi lãi/Tổng thu nhập bình quân của ngân hàng chỉ chiếm chưa đến 20%. Điều

này có thể khiến cho các NHTMVN không thể tận dụng được lợi thế về mạng lưới,

khách hàng, kênh phân phối và cơng nghệ hiện có. Trong chiến lược phát triển sản

phẩm dịch vụ khác, nếu có cũng chỉ dừng lại ở dịch vụ thẻ rút tiền. Các hoạt đợng

thanh tốn qua tài khoản, dịch vụ quản lý tài sản cho cá nhân thu nhập cao, quản lý

két sắt, quản lý thấu chi… vốn đã phổ biến trên thế giới lại chưa được sử dụng rộng

rãi ở Việt Nam. Trong khi đó, dịch vụ của các ngân hàng nước ngoài đa dạng và



29



chất lượng hơn hẳn nhờ lợi thế về công nghệ và quản trị cũng như đội ngũ nhân

viên được đào tạo kỹ năng chuyên nghiệp.

 Thứ tư: Quy mô vốn nhỏ và quản trị yếu ảnh hưởng đến chất lượng tín

dụng

Với việc tốc đợ tăng trưởng tín dụng bình qn hơn 30%/năm giai đoạn

2001-2010, trình đợ quản trị yếu. Cho đến nay việc kiểm sốt chất lượng tín dụng

khơng đảm bảo, nợ xấu gia tăng cao. Nợ xấu tăng cao làm tăng nguy cơ làm giảm

vốn chủ của ngân hàng, ảnh hưởng đến tỷ lệ an tồn vốn, từ đó ảnh hưởng đến rủi

ro cho hệ thống ngân hàng.

2.2.3.

Cơ hội (Opportunities)

 Thứ nhất: Phân chia lại miếng bánh thị phần cho ngân hàng lớn

Quá trình tái cơ cấu nền kinh tế bao gồm: tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước,

tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và tái cơ cấu đầu tư công dự kiến sẽ diễn ra mạnh mẽ

trong những năm tới. Quá trình này vừa là thách thức nhưng cũng tạo ra không ít cơ

hợi cho việc thâu tóm tài sản giá rẻ, đa dạng hóa đầu tư của các ngân hàng có tình

hình tài lành mạnh. Thách thức bị mua lại và sáp nhập của ngân hàng yếu kém cũng

chính là cơ hội cho các ngân hàng lớn trong nước tham gia thâu tóm các ngân hàng

khác để thúc đẩy tiềm lực tài chính và nhanh chóng mở rợng mạng lưới hoạt động,

quy mô khách hàng.

 Thứ hai: Cơ hội cho ngân hàng nhỏ phát triển đúng thế mạnh

Quá trình tái cơ cấu cũng có thể là yếu tố tích cực với các ngân hàng nhỏ nếu

xét trên khía cạnh NHNN đưa họ trở về đúng thị trường và lĩnh vực kinh doanh mà

họ vốn đang có lợi thế. Thị trường hiện nay ít có sự phân biệt rõ ràng giữa các ngân

hàng yếu kém và ngân hàng nhỏ. Do đó, khi các ngân hàng nhỏ thực sự phát huy

được thế mạnh trong đúng lĩnh vực kinh doanh của mình thay vì đầu tư dàn trải

chạy đua phát triển những sản phẩm tương tự nhau như trên thị trường, thì đây

chính là cơ hội để khẳng định tên tuổi và trụ vững trong c̣c chiến tái cơ cấu tồn

hệ thống của các ngân hàng này.

 Thứ ba: Hội nhập quốc tế mang lại nhiều cơ hội cho NHTMVN phát triển

Việc các ngân hàng, tập đồn tài chính nước ngồi mở rợng hoạt động tại thị

trường Việt Nam thông qua con đường sở hữu vốn cổ phần trong các NHTMVN

hay hợp tác liên doanh phát triển sản phẩm dịch vụ đem lại nhiều lợi ích trong q



30



trình phát triển của cả hai bên. Về phía ngân hàng nước ngồi, khơng tốn kém nhiều

chi phí để mở chi nhánh mới, có sẵn mạng lưới, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân

lực, số lượng khách hàng dồi dào của các NHTMVN. Về phía NHTMVN, khơng

những nâng cao được năng lực tài chính mà còn hiện đại hóa được cơng nghệ, nâng

cao trình đợ quản lý, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… theo tiêu chuẩn quốc tế

và mở rộng kinh doanh trên thị trường quốc tế.

Hội nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng Việt Nam từng bước mở

rộng hoạt động quốc tế, nâng cao vị thế của các NHTMVN trong các giao dịch tài

chính quốc tế. Mở ra cơ hợi trao đổi, hợp tác quốc tế giữa các NHTM trong hoạt

động kinh doanh tiền tệ, đề ra giải pháp tăng cường giám sát và phòng ngừa rủi ro,

từ đó nâng cao uy tín và vị thế của hệ thống NHTMVN trong các giao dịch quốc tế.

Từ đó, có điều kiện tiếp cận với các nhà đầu tư nước ngoài để hợp tác kinh doanh,

tăng nguồn vốn cũng như doanh thu hoạt đợng.

Chính hợi nhập quốc tế cho phép các ngân hàng nước ngoài tham gia tất cả

các dịch vụ tại Việt Nam ḅc các NHTMVN phải chun mơn hóa sâu hơn về

nghiệp vụ, quản trị ngân hàng, quản trị tài sản nợ, quản trị tài sản có, quản trị rủi ro,

cải thiện chất lượng tín dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn, dịch vụ ngân

hàng và phát triển các dịch vụ ngân hàng mới mà các ngân hàng nước ngoài dự kiến

sẽ áp dụng ở Việt Nam.



31



2.2.4.

Thách thức (Threats)

 Thứ nhất: Cầu tín dụng giảm

Kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2013 được dự báo còn nhiều khó khăn

khiến người dân thắt chặt chi tiêu, cầu tiêu dùng giảm gián tiếp ảnh hưởng đến nhu

cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng. Bên cạnh đó, cầu tiêu dùng giảm cũng khiến doanh

nghiệp tiếp tục thu hẹp sản xuất hoạt đợng cầm chừng.

Như vậy, cầu tín dụng sản xuất và cầu tín dụng tiêu dùng năm 2013 dự kiến

bị thu hẹp, tín dụng phát sinh mới khá hạn chế trong khi ngân hàng đang triệt để thu

hồi nợ xấu, lợi nhuận từ mảng tín dụng của ngân hàng dự kiến sẽ khơng tăng trưởng

mạnh.

 Thứ hai: Bài tốn nợ xấu chưa có lời giải

Theo NHNN, tỷ lệ nợ xấu cảu tồn ngành ngân hàng tính đến tháng 5/2013

là 4,65%. Trong đó, có khoảng ¼ TCTD khai báo tỷ lệ nợ xấu hiện ở mức trên 3%.

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, con số nợ xấu của hệ thống ngân hàng vẫn chưa

được công bố đầy đủ. Nếu áp dụng các quy định theo Thông tư 02/2013 của NHNN

về phân loại và trích lập dự phòng rủi ro thì nợ xấu sẽ cao hơn hiện nay (thông tư

này đã được dời đến tháng 6/2014 mới áp dụng). Mặc dù, Cơng ty quản lý tài sản

của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) vừa mới ra đời vào cuối tháng 7/2013

nhưng với các điều kiện ngặt nghèo như nợ xấu phải có thế chấp tối thiểu 65% bằng

bất đợng sản, người đi vay phải còn tồn tại và chứng minh được khả năng trả nợ...

thì sẽ có nhiều khoản nợ xấu không đủ điều kiện để được mua lại. Việc giải quyết

nợ xấu đã vượt quá tầm tay của các ngân hàng. Thậm chí mợt số ngân hàng vẫn

chưa thực hiện trích lập dự phòng đầy đủ khi bị áp lực từ cổ đơng muốn đạt lợi

nhuận cao. Chính bản thân VAMC có lẽ còn đang chờ NHNN có thể xem xét miễn

giảm một số điều kiện khi mua nợ xấu hay Thơng tư hướng dẫn về quy trình mua

bán nợ... nên kết quả cũng không thể nhanh. Như vậy, lời giải cho bài tốn nợ xấu

khơng thể trơng chờ vào VAMC.

 Thứ hai: Áp lực phải nâng cao năng lực tài chính

Chủ trương nâng cao năng lực tài chính, hiệu quả hoạt đợng của hệ thống

ngân hàng Việt Nam đã được khở động từ Nghị định 141/2006/NĐ-CP khi chính

phủ đặt ra lợ trình tăng vốn pháp định của các ngân hàng lên mức 3.000 tỷ đồng vào



32



năm 2010. Bên cạnh đó, lợ trình tăng vốn pháp định lên mức 10.000 tỷ đồng vào

năm 2015 cũng đang trong quá trình xem xét áp dụng. Cùng với quá trình này,

NHNN cũng liên lục đưa ra những quy định buộc các ngân hàng phải nâng cao tiêu

chuẩn an tồn hoạt đợng và khả năng thanh khoản như quyết định 493/2005/QĐNHNN về trích lập dự phòng chung và dự phòng cụ thể, ban hành Thông tư 13 và

Thông tư 19 năm 2010 đề ra các tiêu chuẩn về hệ số CAR, tỷ lệ cấp tín dụng.

 Thứ ba: Áp lực tái cơ cấu

Nhiều bất cập của hệ thống ngân hàng được bộc lộ trong thời gian qua, thanh

khoản yếu kém cùng với tình hình nợ xấu cao có nguy cơ gây rủi ro đến an toàn hệ

thống khiến việc tái cơ cấu, cải tổ tồn bợ hệ thống tài chính, trong đó quan trọng

nhất là hệ thống ngân hàng đã trở thành vấn đề cấp bách. NHNN cũng thể hiện

mong muốn tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thơng qua nhiều chính sách quan trọng

trong năm 2011 để đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu. NHNN cũng đã có sẵn hành lang

pháp lý dành cho các hoạt động phá sản, sáp nhập ngân hàng thông qua việc ban

hành Thông tư 34/2011/TT-NHNN về trình tự, thủ tục thu hồi Giấy phép và thanh lý

tài sản của TCTD. Như vậy, sự yếu kém trong nội tại ngân hàng dẫn đến áp lực phải

tái cơ cấu đang đặt ra thách thức cho các tổ chức này trước hai lựa chọn là phải tìm

đối tác sáp nhập để nâng cao năng lực tài chính hoặc chấp nhận giải thể.

 Thứ tư: Cạnh tranh từ khối ngoại

Mặc dù các quy định hạn chế đối với ngân hàng nước ngoài (vốn điều lệ, tổng tài

sản, thời gian hoạt đợng, hình thức, lĩnh vực hoạt đợng) đã được dỡ bỏ vào năm

2011 theo lợ trình sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Song do kinh tế thế giới còn

gặp nhiều khó khăn nên mức đợ phát triển của các ngân hàng ngoại năm 2011 vẫn

hạn chế. Dự kiến, sự phát triển bùng nổ, cạnh tranh gay gắt về các mảng như ngân

hàng bán lẽ, tài trợ thương mại, kinh doanh vốn, ngoại tệ của ngân hàng ngoại sẽ

tiếp tục diễn ra trong thời gian tới.

2.3.

Thực trạng hoạt động M&A các NHTM tại Việt Nam

2.3.1.

Giai đoạn trước năm 2005

Bối cảnh kinh tế xã hội cho thương vụ M&A ngân hàng Việt Nam đầu tiên

chính là giai đoạn từ năm 1986 - 1988, còn gọi là “tiểu” giai đoạn khủng hoảng

nghiêm trọng của nền kinh tế Việt Nam sau sai lầm của cuộc tổng điều chỉnh Giá -



33



Lương - Tiền năm 1985. Hầu hết các hợp tác xã tín dụng nơng thơn (trên 7.000

HTX) và các Quỹ tín dụng (QTD) Đơ thị (500 QTD) đều lâm vào tình trạng mất

khả năng chi trả. Ngồi ra, có tới 17/48 NHTMCP tại thời điểm 1987 cũng nằm

trong tình trạng khơng có khả năng chi trả, phần lớn bị giải thể, bị đặt trong tình

trạng kiểm sốt đặc biệt hoặc phải sáp nhập. Các NHTM trong giai đoạn này đa

phần là NHTMCP nông thôn có nguồn vốn nhỏ, hoạt đợng ngân hàng mới chỉ tập

trung vào truyền thống, chưa mang tính hiện đại hóa cao, cơng nghệ thơng tin còn

lạc hậu, thiếu kinh nghiệm quản lý, việc thực hiện nghiêm túc các quy định về quản

lý rủi ro và không đảm bảo các hệ số an tồn trong hoạt đợng.

Xuất phát từ yếu kém của NHTM, NHNN đã ban hành Đề án “chấn chỉnh,

sắp xếp lại các NHTMCP Việt Nam” được Thủ tướng phê duyệt Quyết định

212/1999/QĐ/TTg ngày 29/10/1999 với mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh của

các NHTMVN. Hơn nữa, Quyết định 241/1998/QĐ-NHNN5 ngày 15/07/1998 về

quy chế sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD cổ phần Việt Nam nhằm tạo cơ sở pháp

lý để các tổ chức tín dụng cổ phần thực hiện trong quá trình củng cố sắp xếp lại.

Cụ thể, NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) được thành lập theo

Quyết định số 05/GP-UB ngày 3/1/1992 của Ủy ban Nhân dân TPHCM và hoạt

động theo Quyết định số 06/NH-GP ngày 05/12/1991 của Ngân hàng Nhà nước Việt

Nam. Sacombank chính thức đi vào hoạt động từ ngày 21/12/1991, trên cơ sở

chuyển thể Ngân hàng Phát triển Kinh tế Gò Vấp và sáp nhập 3 Hợp tác xã tín dụng

Tân Bình - Thành Cơng - Lữ Gia. Vào thời điểm đó, cả 4 đơn vị này đều trong giai

đoạn cực kỳ khó khăn về tài chính.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG M&A CỦA CÁC NHTMVN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×