Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a. Xây dựng chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:

a. Xây dựng chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:

Tải bản đầy đủ - 0trang

45



dụng những khả năng đang có của một thị trường mở sẽ giảm nhiều chi phí cho các

doanh nghiệp. XNKTDK trong bối cảnh đang có nguy cơ thiếu việc làm thì việc

hướng tới thị trường để trở thành người cung ứng các dịch vụ và sản xuất chuyên

ngành là một chiều hướng tất yếu. Điều này đòi hỏi Xí nghiệp phải có kế hoạch đào

tạo đón đầu đặc biệt là đào tạo những chứng chỉ quốc tế cần thiết đối với những

người tham gia khi bước chân vào thị trường quốc tế.

Xây dựng chiến lược đào tạo và phát triển NNL được khảo sát tại XNKTDK

qua bảng 2.9

Bảng 2.9: Kết quả khảo sát về tiêu chí xây dựng chiến lược đào tạo và phát

triển NNL

V16: XNKTDK có thực hiện xây dựng chiến lược ĐT&PTNNL nhân lực.

Khơng có

Ý kiến



Rất khơng



Khơng



Đúng/



CBCNV

đồng ý

đồng ý

ý kiến

Đồng ý

Số phiếu

13

27

34

76

Tỷ lệ (%)

6,5

11,5

17

38

V17: Công tác đào tạo và phát triển NNL đáp ứng mục tiêu DN.

Khơng có

Ý kiến



Rất không



Không



Đúng/



Rất đúng/

Rất đồng ý

54

27



Rất đúng/



CBCNV

đồng ý

đồng ý

ý kiến

Đồng ý

Rất đồng ý

Số phiếu

8

11

40

90

51

Tỷ lệ (%)

4

5,5

20

45

25,5

V18: Chiến lược đào tạo và phát triển NNL tại doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu

thực tế.

Khơng có

Ý kiến



Rất khơng



CBCNV

Số phiếu

Tỷ lệ (%)



đồng ý

20

10



Khơng



đồng ý

ý kiến

42

53

21

26,5

Ng̀n: Trích từ phụ lục 3



Đúng/



Rất đúng/



Đồng ý

48

24



Rất đồng ý

37

18,5



46



Kết quả bảng khảo sát cho thấy XNKTDK có quan tâm đến vấn đề xây dựng

chiến lược đào tạo và phát triển NNL. Các yếu tố “XNKTDK có thực hiện xây dựng

chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực”, số người đồng ý chiếm 65%, số

người khơng có ý kiến chiếm 17% và chỉ 18% không và rất không đồng ý; Với nội

dung “Công tác đào tạo và phát triển NNL đáp ứng mục tiêu doanh nghiệp ” số

người đồng ý và rất đồng ý chiếm 70,5%, còn lại 29,5% là khơng có ý kiến, khơng

và rất khơng đồng ý; Với nội dung “Chiến lược đào tạo và phát triển NNL tại

doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thực tế” số người đồng ý và rất đồng ý chiếm

42,5%, còn lại 57,5% thì khơng có ý kiến, khơng và rất khơng đồng ý. Như vậy, qua

bảng khảo sát này cho thấy doanh nghiệp thật sự có quan tâm đến vấn đề xây dựng

chiến lược đào tạo và phát triển NNL, bên cạnh đó chiến lược này cũng dựa trên

mục tiêu và định hướng phát triển lâu dài của tổ chức, chủ trương của LDVN. Tuy

nhiên chiến lược đào tạo và phát triển NNL vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.

Thật vậy, trong tình hình mới ngày nay, chủ trương của XNLD trừ những

trường hợp đặc biệt do khơng có người, còn lại tất cả các cơng trình mới đưa vào sử

dụng sẽ do người Việt Nam đảm nhận. XNKT hoạt động trong một ngành cơng

nghiệp có điều kiện làm việc trên biển hết sức căng thẳng về tâm lý với những điều

kiện lao động nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm, một số lớn CBCNV khơng còn khả

năng làm những công việc theo ngành nghề của họ sau tuổi 45-50. Vì vậy, việc đào

tạo lại, đào tạo nghề thứ hai cho lớp trẻ kế cận phải trở thành một chương trình có

kế hoạch cụ thể và dài hạn để xí nghiệp có thể chủ động thay thế và sắp xếp khi họ

mất khả năng làm việc trên biển.

Số CBCNV người Nga đang làm việc hiện chỉ còn chiếm có 15% nhưng đa

số họ là những chuyên gia có tay nghề cao. Việc tuyển chọn họ từ CHLB Nga đang

gặp nhiều khó khăn do phạm vi tìm kiếm người sang làm việc tại Việt Nam bị thu

hẹp sau khi Liên xơ tan rã. Tình hình này cộng với chủ trương của Nhà nước muốn

nhanh chóng thay thế người Nga bằng người Việt Nam đã đặt Xí nghiệp vào tình

trạng phải có phương thức đào tạo đặc biệt đối với một số chức danh mà trong điều

kiện hiện nay ta chưa có. Thêm vào đó, việc đào tạo cho CBCNV của XNKT mới



47



chỉ dừng lại ở mức đào tạo tại chỗ, đào tạo nâng bậc thợ, bổ túc tiếng Nga ở mức sơ

cấp. Trong khi đó, đa số cán bộ kỹ sư kỹ thuật mới tiếp nhận là những kỹ sư mới ra

trường chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, đội ngũ cơng nhân tay nghề còn thấp,

trình độ ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Nga đa số CBCNV còn yếu. Trong những năm

gần đây, XNKT đã có nhiều biện pháp động viên, khuyến khích CBCNV tích cực

học tập nâng cao trình độ chun mơn, ngoại ngữ để đáp ứng các yêu cầu mới của

sản xuất. Vì vậy, trình độ nhân lực của XNKT đã ngày càng được nâng cao.

Bảng 2.10: Biến động nhân lực theo trình độ của XNKT giai đoạn 2009-2013

STT

1

2

3

4

5

6

7

1

2

3



LOẠI

NHÂN LỰC

Việt Nam



2009



2010



2011



2012



2013



1.321

7

374

2

831

111

115

298

226

81



1.328

6

395

2

755

103

132

313

206

1



1.324

7

1

403

2

799

87

151

318

190

53



1.297

6

7

395

2

780

73

153

347

160

47



4

108

190

161

28

1

1.514



4

103

174

156

17

1

1.471



1.290

5

7

411

2

861

69

156

356

136

42

62

40

4



Tiến sỹ

Thạc sỹ

Đại học

Cao đẳng

Công nhân kỹ thuật

Kỹ sư & Cao đẳng ký công nhân

Công nhân bậc 6

Công nhân bậc 5

Công nhân bậc 4

Công nhân bậc 3

Công nhân bậc 2

Công nhân bậc 1

Nhân viên

4

4

Lao động hợp đồng ngồi biên chế

103

105

Nga

187

196

Cán bộ kỹ thuật

157

165

Cơng nhân – Nhân viên

28

29

Lao động hợp đồng

2

2

Tổng cộng

1.508 1.524

Nguồn: Tác giả luận văn, 2014



162

142

16

4

1.452



48



b. Cách thức thực hiện công tác đào tạo và phát triển NNL

-



Thiết kế chương trình đào tạo:



Để thực hiện tốt cơng tác đào tạo, việc thiết kế chương trình đào tạo có ý

nghĩa quan trọng quyết định đến sự thành cơng của cơng tác đào tạo và phát triển

NNL. Tính phù hợp của chương trình đào tạo thể hiện ở các yếu tố như nội dung,

thời lượng, thời điểm và nơi đào tạo cần phải tập trung. Thiết kế nội dung đào tạo

phải thỏa mãn nhu cầu của người đi học. Đáp ứng đúng các kỹ năng, kiến thức

người được đào tạo đang thiếu, cần cập nhật hoặc nâng cao trình độ. Nội dung đào

tạo khơng nên chỉ mang tính chất lý thuyết, thiên về các định nghĩa, nguyên tắc, yêu

cầu mà cần nhấn mạnh vào giải thích các kỹ năng: làm gì, làm như thế nào, trong

điều kiện hồn cảnh nào v.v… Yếu tố thời lượng đào tạo cũng được xem xét trên

các khía cạnh: người đi học đang đảm nhận những công việc nhất định trong hoạt

động của doanh nghiệp nhưng cũng cần phải tiếp thu được kiến thức qua lớp học;

họ là những người “Vừa học, vừa làm”, do vậy thời lượng không nên quá ngắn hoặc

quá dài. Thời điểm đào tạo cần tránh các kỳ bận rộn của nhân viên, ví dụ các thời

điểm cuối tháng hoặc cuối năm.

Tuy nhiên việc thiết kế chương trình đào tạo tại XN chưa thật sự được quan

tâm. Vì XNKT khơng có tính độc lập và tự chủ, các chương trình đào tạo đều do

LDVN quyết định, vì thế các chương trình đào tạo chưa thật sự gắn kết với nhu cầu

thật sự tại XN.



49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. Xây dựng chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×