Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI XNKTDK ĐẾN NĂM 2020

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI XNKTDK ĐẾN NĂM 2020

Tải bản đầy đủ - 0trang

69



chúng ta cần tìm hiểu mục tiêu chiến lược sản xuất kinh doanh cũng như nhu cầu

tổng thể NNL tại XNKTDK thời gian tới.

3.1. Một số yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu NNL của XNKTDK sau năm 2014

3.1.1. Mục tiêu chiến lược sản xuất kinh doanh

Mục tiêu chiến lược sản xuất của XNKT được chia thành hai giai đọan.



* Giai đọan 1: Từ nay đến năm 2018.

Trong giai đọan này, sản lượng dầu khai thác sẽ giảm mạnh từ 9,6 triệu tấn

vào năm 2014 xuống còn 4,8 triệu tấn vào năm 2018 (hình 3.1, ĐVT: 1000 tấn) .



Ng̀n: XNKT LD Vietsovpetro

Hình 3.1: Sản lượng dầu khai thác giai đoạn 2014-2018

Nguồn: Tác giả luận văn, 2014

Các mục tiêu trong giai đọan này là:

a. Chuyển một số giàn có sản lượng thấp thành giàn nhẹ

Thu hồi các bloc môdun tổ hợp khoan, hệ thống bơm giữ áp suất vỉa cục bộ,

chỉ giữ lại trên giàn những bloc môđun và các thiết bị của tổ hợp vận hành liên quan

trực tiếp đến quá trình khai thác và đảm bảo vận hành bình thường các giếng khoan,

bloc nhà ở, sân bay trực thăng và bloc năng lượng. Điều này cũng đồng nghĩa với

việc giảm tương ứng một số lượng nhân viên phục vụ và các nhóm sửa chữa. Khối

lượng các bloc mơdun tổ hợp khoan chiếm khoảng 37% khối lượng chung của toàn

bộ kết cấu thượng tầng giàn cố định nên việc thu hồi và chuyển về bờ các bloc

môđun này cho phép giảm 37% chi phí sửa chữa định kỳ kết cấu thượng tầng giàn

cố định.

b. Nâng cấp các giàn cố định trung tâm



70



Trên các giàn cố định trung tâm tiến hành khai thác dầu, tách dầu khỏi khí,

khử nước sơ bộ và làm sạch nước vỉa vừa tách. Trong số 15 giàn khai thác hiện tại

sẽ có 3 giàn (MSP 1, 4, 9) được nâng cấp thành các giàn cố định trung tâm. Các

giàn này có cơng suất khai thác cao, nên nhiệt độ dầu cao, tạo khả năng tách sơ bộ

nước ra khỏi sản phẩm khai thác từ chính các giàn này. Giàn 9 là điểm mắt xích cho

hệ thống thu gom sản phẩm từ giàn 10, 11. Nó có đủ khả năng tiếp nhận sản phẩm

từ các giàn này. Giàn cố định số 4 có thể thực hiện vai trò là giàn cố định trung tâm

đối với các sản phẩm từ giàn 3, 5, 6, 7, 8. Giàn cố định số 1 có thể thực hiện vai trò

là giàn cố định trung tâm đối với các sản phẩm từ chính giàn 1 và các BK-7, 12. Sản

phẩm từ các giàn giàn cố định trung tâm 1, 4, 9 được trộn thêm chất nhũ tương và

đổ vào bình tách dầu khí hiện có để tách chất lỏng khỏi khí.

c. Cải hốn các giàn nhẹ hiện có

Để tăng độ an tồn vận hành các giàn nhẹ và đảm bảo chế độ làm việc liên

tục, vận hành và bảo dưỡng giếng trên các giàn giàn nhẹ , vẫn phải duy trì các nhân

viên thường trực để vận hành (4-5 người/ca), xây dựng một chân đế phụ bên cạnh

các giàn nhẹ hiện có (BK 3, 4, 5, 8), được nối bằng cầu dẫn với các giàn nhẹ để bố

trí thêm bloc nhà ở và sân bay trực thăng vì theo quy định an tồn phòng chống

cháy nổ trong q trình thăm dò và khai thác dầu khí, LDVN Vietsovpetro khơng

cho phép bố trí phòng ở cho nhân viên trong khoảng cách nhỏ hơn 15m cách miệng

giếng. Sau năm 2010, LDVN cần có phương án thay thế toàn bộ các thiết bị vận

hành bằng tay trên các giàn nhẹ bằng các thiết bị tự động, điều khiển từ xa để tránh

nguy hiểm cho người và tài sản trên các giàn nhẹ .

Một số giàn nhẹ sẽ chuyển sang khai thác bằng phương pháp Gaslift theo chế

độ tự động: BK-1, BK-9, BK-4, BK-6.

Việc nâng cấp một số giàn cố định thành các giàn cố định trung tâm cũng

đồng nghĩa với việc chuyển đổi cơ cấu lao động trên các cơng trình biển. Ở các giàn

cố định trung tâm , số lượng lao động sẽ tập trung nhiều hơn, chun mơn hố cao

hơn. Trong khi đó, trên các giàn cố định , số lượng lao động sẽ giảm đi và chỉ thực

hiện những công việc giản đơn thơng thường, khơng đòi hỏi chun mơn cao. Khi



71



các giàn nhẹ khơng còn sử dụng lao động mà thay thế bằng các thiết bị điều khiển

tự động thì việc cắt giảm lao động tại các vị trí này là hiển nhiên.

d. Xây dựng giàn mới

Từ nay đến năm 2018, XNKTDK sẽ xây dựng thêm các cơng trình sau để

đưa các vùng mới vào khai thác nhằm gia tăng sản lượng và tìm kiếm cơng việc cho

số lao động dơi sư do hoán cải giàn: BK-10 bên cạnh BK-1 cùng bloc nhà ở (sử dụng

phần topside của BK9); BK-3 cùng bloc nhà ở và cầu dẫn và giàn RC-1, RC-3, RP4, RC-5 ở khu vực mỏ Rồng.

e. Mua mới trạm rót dầu khơng bến

Mua trạm rót dầu khơng bến 5 (UBN-5) để tăng năng lực sản xuất kinh

doanh của Xí nghiệp và chủ động hơn trong họat động khai thác, dự trữ dầu thô.

* Giai đọan 2: Từ năm 2019 trở đi

Trong giai đoạn này, sản lượng dầu khai thác sẽ sụt giảm mạnh từ 4,25 triệu

tấn vào năm 2019 xuống còn 1,45 triệu tấn vào năm 2028 (hình 3.2) [7].



ĐVT: 1000 tấn



Hình 3.2: Sản lượng dầu khai thác giai đoạn 2019-2028

Nguồn: Tác giả luận văn, 2014



72



Sau năm 2014, trên khu vực 2 mỏ Bạch Hổ và Rồng diện tích thăm dò địa

chất bị giảm đi do trữ lượng tiềm năng khơng còn nhiều và các cấu tạo dạng vòm

nâng chỉ còn ở các tầng trầm tích Mioxen ở mỏ Rồng.

Kế hoạch khai thác dầu khí tại mỏ Bạch Hổ và Rồng giai đoạn 2010-2020 là

phát triển thêm một số vùng mới trên cơ sở dự báo gia tăng trữ lượng công nghiệp.

Tổng sản lượng khai thác dầu ở mỏ Bạch Hổ và Rồng trong giai đoạn 20102020 dự kiến là 26.028,9 nghìn tấn. Trong đó, mỏ Bạch Hổ là 21.150,5 ngàn tấn,

chiếm 81,25% và mỏ Rồng là 4.878,4 ngàn tấn, chiếm 18,75%. Sản lượng dầu trung

bình hàng năm trong giai đoạn này từ 2 mỏ Bạch Hổ và Rồng khoảng 2,6 triệu tấn Giảm từ 4.250 ngàn tấn năm 2011 xuống còn 1.449 ngàn tấn vào năm 2020.

Tổng sản lượng khai thác khí giai đoạn 2011-2020 dự kiến đạt 4,96 tỷ m 3.

Trong đó, mỏ Bạch Hổ chiếm 79,29%. Sản lượng khai thác khí trung bình hàng

năm khoảng 0,49 tỷ m3, giảm từ 0,84 tỷ m3 năm 2011 xuống còn 0,25 tỷ m3 vào năm

2020.

Tổng khối lượng bơm ép nước giai đoạn 2011-2020 dự kiến đạt 96,772 triệu

m3. Trong đó, mỏ Bạch Hổ chiếm 84,73%. Khối lượng bơm ép trung bình hàng năm

ở cả 2 mỏ Bạch Hổ và Rồng khoảng 9,7 triệu m 3, giảm từ 11,7 triệu m3 năm 2011

xuống còn 8,3 triệu m3 vào năm 2020.

Tổng chi phí dự kiến xây dựng và khai thác mỏ giai đoạn 2010-2020 cho cả

2 mỏ Bạch Hổ và Rồng là 3.007,4 triệu USD. Trong đó, Bạch Hổ là 2.459,8 triệu

USD, Rồng là 547,6 triệu USD.

Tóm lại mục tiêu chiến lược trong giai đoạn này là:





Đảm bảo nhân lực để duy trì khai thác dầu khí trên các cơng trình hiện có.







Mở rộng khu vực hoạt động tại lơ 04.17, 16.2.







Mở rộng hợp tác khai thác dầu khí tại nước ngoài: Tuynidi, Nga...







Tăng cường hoạt động dịch vụ kỹ thuật, kết nối mỏ cho các cơng ty dầu

khí trong và ngoài nước.



73



3.1.2. Xác định nhu cầu NNL của XNKTDK sau năm 2014

Với những kế hoạch trên dẫn đến việc thay đổi nhu cầu nhân lực tại Xí

nghiệp sau năm 2014

a. Nhu cầu nhân lực cho việc thực hiện các mục tiêu kế họach

Sau năm 2014, hoạt động sản xuất kinh doanh của XNKT sẽ thay đổi như sau:

o Thay đổi Sơ đồ công nghệ mỏ Bạch Hổ và Rồng, chuyển giàn MSP-1, MSP4, MSP-9 thành các CMSP theo hướng:

 Dầu từ giàn 1 và các BK-7, BK-12 chuyển về xử lý tại giàn cố định

trung tâm số 1.

 Dầu từ giàn 3, 5, 6, 7, 8 chuyển về xử lý tại giàn cố định trung tâm số 4.

 Dầu từ giàn 10, 11 chuyển về xử lý tại giàn cố định trung tâm số 9.

o Thay đổi sản lượng khai thác dầu: sản lượng dầu khai thác sẽ giảm mạnh từ 9,6

triệu tấn như hiện nay xuống còn 4,25 triệu tấn vào năm 2018.

o Thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý: do việc chuyển các giàn 3, 5, 6, 7, 8, 10, 11

thành các giàn nhẹ nên nhân sự bố trí trên các giàn cũng phải điều chỉnh cho

phù hợp theo hướng gọn nhẹ. Tinh giảm số lao động dôi dư, chuyển sang

công việc khác hoặc chấm dứt hợp đồng lao động nếu không đáp ứng được

các yêu cầu của nhiệm vụ mới.

o Trên cơ sở những phân tích trên, các giàn 3, 5, 6, 7, 8, 10, 11 sau khi chuyển

thành các giàn nhẹ, số lượng nhân lực cần thiết theo tính tốn của các chun

gia là:

- Lãnh đạo giàn (trưởng/phó)



: 2 người.



- Thợ máy



: 2 ngừơi.



- Đốc cơng khai thác



: 2 người.



- Móc cáp



: 2 ngừơi.



- Thợ khai thác/NV thí nghiệm



: 4 người



- Nguội/Tiện : 2 người.



- Thủy thủ trưởng/Lái cẩu



: 2 người.



-Thợ TĐH



: 2 người.



Tổng cộng: 18 người.

Các chức danh có thể kiêm nhiệm được:

Thủy thủ trưởng → Lái cẩu



Nguội → Tiện, hàn.



Thợ máy → Nguội.



Thợ khai thác → Nguội.



74



Thủy thủ trưởng → Móc cáp.

Thợ khai thác → Nhân viên thí nghiệm, thợ nguội.

Đốc cơng khai thác → Kỹ sư cơ khí, điện lạnh.

o Các giàn 1, 4, 9, sau khi chuyển thành các CMSP, số nhân lực cần thiết là:

- Lãnh đạo giàn (trưởng/phó) : 2 người.



- Chánh cơ khí



: 2 người.



- Chánh cơng nghệ



: 2 người.



- Kỹ sư cơ khí



: 4 người.



- Kỹ sư công nghệ



: 4 người.



- Thợ máy



: 2 người.



- Nguội/Tiện



: 14 người.



- Lái cẩu



: 2 người.



- Thủy thủ trưởng



: 2 người.



- Móc cáp



: 4 người.



- Phiên dịch-quản trị



: 2 người.



- Thợ hàn



: 2 người.



- Kỹ sư điện lạnh



: 2 người.



- Thợ ĐL-TĐH



: 8 người.



- KS trưởng ĐL-TĐH



: 4 người.



- Kỹ sư ĐL-TĐH



: 8 người.



- Thợ khai thác/ Nhân viên thí nghiệm: 18 người

Tổng cộng: 82 người.

o Giàn công nghệ trung tâm số -2, do khối lượng công việc nhiều và phức tạp

nên thêm 2 giàn phó (phụ trách giàn nhẹ và phụ trách công nghệ).

o a1. Nhu cầu nhân lực cho các cơng trình hiện tại

Nhu cầu nguồn nhân lực được thể hiện qua bảng bên dưới:

Bảng 3.1: Nhu cầu nhân lực cho hoạt động SXKD trên các CTB hiện tại

của XNKT sau năm 2014

Số lao

STT



Cơng trình biển



động



Cơng trình biển



hiện tại



hiện tại



sau 2010



(Người)

1



Giàn 1 (BK-7)



49



2



4, 5, 6, 8, 9)



sau 2010

(Người)

82



Giàn 2 (gồm



Giàn 2 (gồm

các BK 1, 2, 3,



Giàn 1 (BK-7)



Số lao động



các BK 1, 2, 3,

124



4, 5, 6, 8, 9, 10,

11)



108



Ghi chú



75



3



Giàn 3



34



Giàn 3



18



4



Giàn 4



42



Giàn 4



82



5



Giàn 5



35



Giàn 5



18



6



Giàn 6



34



Giàn 6



18



7



Giàn 7



35



Giàn 7



18



8



Giàn 8



55



Giàn 8



18



9



Giàn 9



55



Giàn 9



82



10



Giàn 10



39



Giàn 10



18



11



Giàn 11



41



Giàn 11



18



12



Giàn RP-1



38



Giàn RP-1



18



Giàn RP-3



48



Giàn RP-3



42



13



5 giàn vệ tinh.



2 giàn vệ tinh.



(RC-2)



14



Giàn CTK-3



95



Giàn CTK-3



84



15



PPD 40.000



54



PPD 40.000



54



16



Tàu Chí Linh



74



Tàu Chí Linh



74



17



Tàu Ba Vì



65



Tàu Ba Vì



65



18



Tàu VSP-01



65



Tàu VSP-01



65



Tổng cộng



982



882



Dơi dư:100



Ng̀n: Tác giả luận văn, 2014



Xác định số lượng lao động trên các cơng trình biển như sau:

-



Các giàn chuyển thành mini giàn cố định trung bình: 18 người/giàn/2 ca.



-



Giàn cơng nghệ trung tâm số 2: (khai thác dầu, xử lý dầu, khí nước).

o Do BK-1, 4, 6, 9 chuyển sang chế độ làm việc tự động nên khơng cần

nhân lực bố trí trên các giàn nhẹ này.

o Thêm BK 10, 11 và các BK đang duy trì là: BK 2, 3, 5, 8 → Tổng số: 6

BK. Mỗi BK 4 người → Số người cho BK của Giàn công nghệ trung tâm

số -2 là: 24 người.



-



CTK-3 về chức năng như các Giàn công nghệ trung tâm số 2 nên số người

duy trì là 84 người (Chưa tính số nhân lực cho việc kết nối mỏ Cá Ngừ Vàng

vào CTK-3).



76



a2. Nhu cầu nhân lực cho hoạt động phụ trợ trên bờ

Mặc dù sản lượng dầu dự kiến sau 2014 giảm còn 44,27% so với hiện nay

(Từ 9,6 triệu tấn năm 2014 xuống 4,25 triệu tấn năm 2018) nhưng khối lượng công

việc của các bộ phận trên bờ sẽ không giảm nhiều do tăng thêm nhu cầu công việc

phục vụ cho công tác làm dịch vụ kỹ thuật và các dự án ra bên ngoài XNKT. Số

lượng CBCNV gián tiếp trên bờ sẽ vẫn được duy trì như hiện nay nhưng với chất

lượng nâng cao để phù hợp với tình hình mới.

Tuy nhiên, căn cứ vào thực tế họat động của XNKT, việc duy trì đội Chống

ăn mòn gồm gần 100 lao động tại Phân xưởng Sửa chữa giàn của Căn cứ Dịch vụ

sản xuất là không hiệu quả. Nếu tính bình qn, mỗi Cơng trình biển ln duy trì từ

2 đến 3 thợ chống ăn mòn/ca. Với diện tích Cơng trình biển như hiện nay, khối

lượng cơng việc chống ăn mòn là rất lớn. Chỉ vài ba thợ chống ăn mòn thì khơng

thể đáp ứng được yêu cầu chống ăn mòn do cứ cạo gỉ đầu này cơng trình biển thì

đầu kia lại bị gỉ. Hơn nữa, trình độ của nhóm này thấp, hầu hết là lao động phổ

thơng. Vì thế, có thể cắt giảm số lượng nhân lực này để đảm bảo chất lượng cơng

trình, giảm chi phí lao động và tiết kiệm thời gian.

Xưởng Đo lường- tự động hóa của XNKTDK với 3 phân xưởng: Phân xưởng

Vận hành, Phân xưởng Kiểm định & Sửa chữa; Phân xưởng Sửa chữa & Hiệu

chỉnh, hiện đang duy trì 194 lao động, trong đó có 139 người thuộc Phân xưởng

Vận hành bố trí đều trên các cơng trình biển, bình qn mỗi cơng trình biển 4

người. Một số giàn có sản lượng khai thác cao (giàn 8, 9, RP-3), trung bình mỗi

giàn là 8 người; giàn PPD-40.000 là 10 người. Riêng giàn công nghệ trung tâm số 2

(bao gồm các BK) và CTK-3, do tính chất cơng việc phức tạp nên mỗi giàn là 20

người. Để phù hợp với cơ cấu quản lý mới sau 2014, tạo điều kiện cho các lãnh đạo

cơng trình biển tập trung quản lý, phân cấp trách nhiệm, cần thiết phải đưa số nhân

lực về tự động hóa của Phân xưởng Vận hành giao cho từng cơng trình biển quản lý,

điều hành trực tiếp và thuộc qn số của Cơng trình biển. Do thay đổi cơ cấu tổ

chức như trên (hơn 2/3 quân số chuyển khỏi xưởng Đo lường- tự động hóa) nên

việc duy trì xưởng Đo lường- tự động hóa là khơng cần thiết mà nên sắp xếp lại bộ



77



máy quản lý của xưởng sao cho gọn nhẹ hơn thông qua việc chuyển Xưởng Đo

lường- tự động hóa thành phòng Tự động hóa sản xuất trực thuộc bộ máy điều hành.

Để đáp ứng nhu cầu làm dịch vụ, cần thiết phải thành lập đội Tự động hóa

gồm các chuyên gia, kỹ sư tự động hóa có chun mơn, nghiệp vụ cao. Số nhân lực

này (khoảng 20 người) sẽ chọn lọc từ 3 phân xưởng của xưởng Đo lường- tự động

hóa và trực thuộc phòng Tự động hóa sản xuất. Số lao động dôi dư của xưởng sau

sắp xếp lại cơ cấu là 60 người, chủ yếu là các thợ Đo lường- tự động hóa có nhiệm

vụ kiểm tra, sửa chữa các thiết bị đo. Khối lượng sửa chữa này có thể thuê Trung

tâm đo lường TP. Hồ Chí Minh (Quatest-3) thực hiện, hoặc để tạo công ăn việc làm

cho số lao động dơi dư này, xí nghiệp có thể tái đào tạo lại và đưa về phân xưởng

Đo lường- tự động hóa trực thuộc Căn cứ Dịch vụ sản xuất. Những trường hợp

khơng thể tái đào tạo lại hoặc khơng có nguyện vọng tiếp tục làm việc tại XN Khai

thác dầu khí thì động viên nghỉ theo chế độ.

Bảng 3.2: Nhu cầu nhân lực của xưởng Đo lường- tự động hóa sau năm

2014



STT



TÊN BỘ PHẬN



SỐ LAO



SỐ LAO ĐỘNG



ĐỘNG SAU



HIỆN TẠI



2010



DÔI





134

1



PX Vận hành



139



(Trực thuộc



5



Cơng trình biển)

2



3



PX Sửa chữa & Hiệu

chỉnh



29



20

(Trực thuộc



PX Kiểm định & sửa chữa



26



Cộng



194



phòng tự động



35



hóa )

154



Ng̀n: Tác giả luận văn, 2014

* Xác định số lượng lao động xưởng Đo lường- tự động hóa như sau:



40



78



- Số Kỹ sư Đo lường- tự động hóa đi các giàn trung tâm (CMSP): 3 CMSP x 20

người/CMSP = 60 người.

- Số Kỹ sư Đo lường- tự động hóa đi giàn 2, CTK-3: 20 người x 2 = 40

người.

- Số Kỹ sư Đo lường- tự động hóa đi các giàn hốn cải (3,5,6,7,8,10,11,RP-1):

16 người.

- Số Kỹ sư Đo lường- tự động hóa đi giàn PPD-40.000: 10 người.

- Số Kỹ sư Đo lường- tự động hóa đi giàn RP-3: 6 người.

Tổng cộng: 134 người.

Theo phân tích ở trên, nhu cầu nhân lực trên bờ sau năm 2014 sẽ giảm 140

người so với hiện nay (gồm 100 người ở PX Sửa chữa giàn và 40 người ở xưởng Đo

lường- tự động hóa). Như vậy, nhu cầu nhân lực cho hoạt động trên bờ là:

1.452 - 982 - 140 = 330 người.

Tổng nhu cầu nhân lực cho việc thực hiện các mục tiêu kế họach (NL1)

NL1 = 882 + 330 = 1.212 người.

b. Nhu cầu nhân lực cho phần chiến lược (NL2)

b1. Nhu cầu nhân lực cho các cơng trình mới

Bảng 3.3: Nhu cầu nhân lực cho các cơng trình mới của XNKT sau năm 2014

Cơng trình biển mới sau 2014



Số lao động sau



1



RC-1



2014 (Người)

Tự động



2



RC-3



4



3



RC-5



4



4



RP-2



42



5



RP-4



42



Cộng



92



STT



Nguồn: Tác giả luận văn, 2014



Ghi chú



79



* Xác định số lượng lao độngcho các cơng trình mới như sau:

-



Xây dựng mới giàn RP-2, RP-4 (khai thác dầu, xử lý dầu, khí nước): lấy số

người tương đương RP-3 hiện nay là 42 người.



-



RC-1 là giàn nhẹ, hoạt động theo chế độ tự động nên không cần nhân lực.



-



RC-3, RC-5 là giàn nhẹ tương đương các BK của CMSP-2 → 4 người/giàn.

b1. Nhu cầu nhân lực cho hoạt động dịch vụ kỹ thuật và dự án

Xuất phát từ hai nhiệm vụ cơ bản của XNKTDK sau 2014 là:

Khai thác dầu khí hiệu quả, an tồn ở mỏ Bạch Hổ và Rồng.

Cung cấp các dịch vụ kỹ thuật, đặc biệt là dịch vụ trong lĩnh vực khai

thác dầu khí.

XNKT đã xây dựng các loại hình dịch vụ kỹ thuật có thể đáp ứng được gồm:

Dịch vụ kết nối, phát triển mỏ.

Vận hành và bảo dưỡng các cơng trình dầu khí (O&M).

Lắp đặt, chạy thử và đưa vào vận hành thiết bị dầu khí.

Các dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị dầu khí.

Dịch vụ cảng biển (tại các FSO).

Cho thuê ngắn hạn thiết bị chuyên dụng dầu khí và chuyên gia.

Hiện XNKT đang thực hiện các dự án lớn sau:



- Dự án phát triển mỏ Cá Ngừ Vàng: Đây là dự án lớn, có thời gian hợp tác dài

(khoảng 20 năm) giữa Hoàn Vũ JOC và XNLD (Trong đó, XNKT với tư cách là

đơn vị chính, trưởng ban quản lý dự án). Dự án này kết nối mỏ Cá Ngừ Vàng của

Hoàn Vũ JOC vào mỏ Bạch Hổ; sử dụng các thiết bị, công nghệ hiện có của XNKT

để khai thác, tách dầu, khí, nước từ các sản phẩm dầu và bán dầu.

Ở giai đoạn khởi điểm (giai đoạn thiết kế Feed), số nhân lực cần sử dụng là

88 người, bao gồm các lãnh đạo và chuyên gia đầu ngành. Trong đó, XNKTDK là

27 người, Viện NCKH là 42 người và các đơn vị khác là 19 người.

Ở giai đoạn khai thác, sản lượng mỏ Cá Ngừ Vàng dự kiến sẽ là 25.000

tấn/ngày đêm vào năm 2014. Mỏ Cá Ngừ Vàng sẽ được kết nối vào giàn CTK-3 để

tận dụng được các trang thiết bị, máy móc, cơng nghệ hiện đại mới, sẵn có, với



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI XNKTDK ĐẾN NĂM 2020

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×