Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.1: Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia)

Bảng 1.1: Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia)

Tải bản đầy đủ - 0trang

15



Đầu năm 1998, cả nước có 2,65 triệu hộ với khoảng 14 triệu dân nghèo

đói, chiếm 17,7% dân số. Trong đó có 300.000 hộ thường xuyên nghèo đói; có

1.498 xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 40% trở lên và 1.168 xã thiếu cơ sở hạ tầng thiết

yếu (điện, đường, trường, trạm xá, chợ, nước sạch, v.v…), 2/3 số xã nghèo là

các xã miền núi, khoảng 1,2 triệu người ở 978 xã cần được định canh, định cư

và 15 vạn đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn cần được hỗ trợ phát

triển. Đến cuối năm 2000, tỷ lệ hộ nghèo ở thành thị còn 6% và nơng thơn

11,2%. Đầu năm 2001 khi thay đổi chuẩn nghèo đói, nước ta còn khoảng 2,8

triệu hộ nghèo (chiếm 17,11%) đến cuối năm 2005 còn khoảng 1,6 triệu hộ

nghèo, chiếm khoảng 9,5%. Đến năm 2017, cả nước còn 1,6 triệu hộ nghèo

đói, chiếm 6,7% (www.rfa.org.vn)

Hiện nay, cách đánh giá nghèo chỉ dựa trên một chiều về thu nhập

khơng còn sử dụng nữa, thay bằng cách đánh giá nghèo đa chiều.

Chuẩn nghèo đa chiều là mức độ thiếu hụt mà nếu hộ gia đình thiếu

nhiều hơn mức độ này thì bị coi là nghèo đa chiều. Theo quan niệm của các

tổ chức quốc tế, một hộ gia đình thiếu từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên sẽ

bị coi là nghèo đa chiều. Ngày 15/9/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết

định số 1614/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp

tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn

2016-2020.” Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 của Việt Nam được xây

dựng theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ

thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo đó, tiêu chí đo lường

nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở: (1) Các tiêu chí về thu nhập, bao gồm:

chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn

mức sống trung bình về thu nhập. (2) Mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các

dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch

và vệ sinh, tiếp cận thông tin.



16



Những quy định chính sách nói trên tạo cơ sở pháp lý cho việc

chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa

chiều áp dụng cho chương trình giảm nghèo của nước ta trong giai

đoạn 2016- 2020.(Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội, 2015)

*) Chuẩn nghèo đa chiều

Theo QĐ 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng

chính phủ quy định các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho

giai đoạn 2016-2020 như sau:

1. Các tiêu chí về thu nhập

a) Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/ người/ tháng ở khu vực nông thôn và

900.1



đồng/ người/ tháng ở khu vực thành thị.

b) Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/ người/ tháng ở khu vực nông thôn



và 1.300.000 đồng/ người/ tháng ở khu vực thành thị.

2. Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

a) Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): giáo dục; y tế; nhà ở; nước

sạch và nhà vệ sinh; tiếp cận thông tin.

b) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10

chỉ số): trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; tiếp cận

các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình qn

đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/ nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ

viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.

*) Chuẩn hộ nghèo đa chiều

Theo quyết định trên chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống

trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 như sau:

1. Hộ nghèo

a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:



17



- Có thu nhập bình qn đầu người/ tháng đủ từ 700.000 đồng trở xuống;

- Có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên 700.000 đồng đến

1.1.1



đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận



các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/ tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

- Có thu nhập bình qn đầu người/ tháng trên 900.000 đồng đến

1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận

các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

2. Hộ cận nghèo

a) Khu vực nơng thơn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên

700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ

thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên

900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ

thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

3. Hộ có mức sống trung bình

a) Khu vực nơng thơn: là hộ có thu nhập bình qn đầu người/ tháng trên

1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng

b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình qn đầu người/ tháng trên

1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng. (Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội, 2015).

1.1.3. Mối quan hệ giữa tín dụng chính sách đối và giảm nghèo

1.1.3.1. Phân phối tín dụng đối với những người nghèo

Tín dụng hộ nghèo mang tính chất tài trợ lãi suất ưu đãi về thời hạn.

Cần có sự chỉ đạo của các đoàn thể ban ngành địa phương phổ biến đến từng

hộ cho dân biết và thực hiện đúng.

- Tín dụng cấp mức tối đa là 30 triệu đồng.

- Thời hạn hoàn vốn tùy theo thời hạn vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.



18



- Cho vay thông qua các tổ tiết kiệm và vay vốn ở nông thôn.

Ngân hàng CSXH cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo nhằm phục vụ sản

xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu

quốc gia xố đói giảm nghèo và việc làm, ổn định xã hội.

1.1.3.2. .2. Tín dụng cho xố đói giảm nghèo

Tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo đã góp phần mang lại hiệu quả kinh tế

- xã hội to lớn đối với đất nước nói chung và vùng có điều kiện khó khăn, thể

hiện qua các điểm sau:

- Thực hiện tốt chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo, góp phần thúc

đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế các vùng nghèo, vùng có điều kiện khó khăn.

- Vốn tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, học sinh, sinh viên, xuất khẩu

lao động và các đối tượng chính sách khác đã giúp cho người nghèo vươn lên

thoát nghèo bằng việc gia tăng sản xuất, chi phí cho con cái học hành, có điều

kiện áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tính tốn làm ăn.

- Vốn tín dụng ưu đãi được uỷ thác cho vay thơng qua các tổ chức chính

trị-xã hội, qua đó các tổ chức này gắn kết với nhiều hội viên, nâng cao trách

nhiệm đối với người nghèo, góp phần củng cố hệ thống cơ sở.

- Việc thực hiện một cách nhất quán, bền vững chính sách tín dụng ưu

đãi đã và đang góp phần quan trọng tạo lập các yếu tố thị trường tài chính - tín

dụng giữa các vùng, mở ra cơ hội ngày càng lớn cho việc huy động các nguồn

vốn có lãi suất thấp để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh xố đói giảm nghèo.

(Phan Thị Cúc, 2008).

1.1.4. Nội dung của tín dụng chính sách đối với cơng tác giảm nghèo

1.1.4.1. Nguồn vốn của tín dụng chính sách

Nguồn vốn tín dụng chính sách là yếu tố quan trọng hàng đầu trong

thực hiện tín dụng chính sách. Muốn phát triển tín dụng chính sách, điều

kiện tiên quyết là phải có vốn. Hoạt động tín dụng chính sách là hoạt động

dùng “vốn”



19



mà mình quản lý để cho khách hàng vay. Nguồn vốn hoạt động của yếu của

NHCS là từ Ngân hàng nhà nước, có thể coi là nguồn cuối cùng đảm bảo cho

NHCS hoạt động bình thường vì mục tiêu xã hội. Bên cạnh đó, với tư cách là

một ngân hàng, NHCS có thể huy động vốn từ xã hội bằng các hình thức: phát

hành chứng từ có giá, huy động tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn. Phần

chênh lệch giữa huy động và cho vay sẽ được cấp bù bởi ngân sách nhà nước.

Đây là hai nguồn chủ yếu, ngoài ra NHCSXH có thể tiếp nhận các dự án tài

trợ khơng hồn lại hay vay nợ của chính phủ và các tổ chức phi chính phủ của

các nước. (Phan Thị Cúc, 2008).

1.1.4.2. Sử dụng vốn của tín dụng chính sách

Mục tiêu chủ yếu là phục vụ các đối tượng chính sách là người nghèo,

học sinh, sinh viên….theo các đặc điểm: thứ nhất, hoạt động khơng vì mục

đích lợi nhuận nên sự phân bổ vốn đầu tư phụ thuộc vào quy mô của dự án và

định hướng chính sách. Thứ hai, thủ tục và điều kiện vay nói chung đơn giản

và linh hoạt theo từng đối tượng vay. Thứ ba, lãi suất tiền vay thường quy định

thấp hơn mức lãi suất thị trường với việc quy định thời hạn không quá khắt

khe. NHCSXH thực hiện chính sách xã hội cho vay theo chỉ định của chính

phủ để thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội. Tín dụng đối với người nghèo

và các đối tượng chính sách khác là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do

nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách vay ưu đãi

để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện

mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo, ổn định xã hội. (Phan Thị Cúc, 2008).

1.1.4.3. Khách hàng vay vốn

Khách hàng vay vốn tín dụng chính sách là hộ nghèo và các đối tượng

chính sách. Khách hàng vay vốn tín dụng chính sách do Chính phủ chỉ định

theo từng chương trình tín dụng cụ thể. Thực hiện tín dụng chính sách là nhằm

hướng đến mục tiêu giảm nghèo, đảm bảo ASXH nhưng đã là tín dụng thì nó

mang tính chất “có vay có trả” dù đó là nguồn vốn từ ngân sách. Do vậy, quản



20



lý tín dụng chính sách phải quản lý được khách hàng vay vốn, giám sát xem

nguồn vốn tín dụng chính sách đã giải ngân có đúng đối tượng vay theo quy

định của Chính phủ chưa, đồng thời phải giám sát hộ vay vốn để hộ vay sử

dụng vốn vay hiệu quả, trả được nợ vay.

Đối với khách hàng thuộc hộ nghèo: Đối tượng được vay là Hộ nghèo

theo quy định của Thủ tướng Chính phủ từng thời kỳ. Điều kiện vay vốn hộ

gia đình là thành viên của tổ TK&VV; có tên trong danh sách hộ nghèo của

xã do Bộ LĐTB-XH cơng bố từng thời kỳ; có hộ khẩu thường trú hoặc tạm

trú dài hạn trên địa bàn nơi cho vay; hộ vay không phải thế chấp tài sản và

được miễn phí thủ tục vốn. (Phan Thị Cúc, 2008).

1.1.4.4. Danh mục cho vay

Danh mục cho vay bao gồm các danh mục về sản phẩm dịch vụ, đối

tượng vay vốn, thời gian vay, mức lãi suất, điều kiện vay vốn, kỳ hạn trả nợ.

(Phan Thị Cúc, 2008).

1.1.4.5. Mạng lưới hoạt động tín dụng chính sách

Để phát triển mạng lưới tín dụng chính sách thì NHCSXH cần thực hiện

tín dụng chính sách theo mạng lưới 03 cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh và cấp

huyện. Việc quản lý nó thực hiện từ cấp trên xuống cấp dưới, từ cấp trung

ương xuống cấp tỉnh, cấp huyện. Ngồi ra với đặc thù, có sự tham gia của

Ban đại diện HĐQT cấp tỉnh, cấp huyện và các tổ chức CTXH, chính quyền

địa phương và các Tổ TK&VV nên việc quản trị mạng lưới là phải có sự phối

kết hợp với các đơn vị trên để quản lý tín dụng chính sách. Việc quản trị

mạng lưới hoạt động tốt sẽ làm cho tín dụng chính sách phát triển nhanh và

bền vững, dễ dàng thấy được hiệu quả của tín dụng. Do vậy để tăng cường

vai trò của tín dụng chính sách, NHCSXH cần tổ chức mạng lưới hoạt động

đến các địa bàn của xã, huyện nhằm tạo ra “cánh tay dài” để có thể giúp

người nghèo tiếp cận chính sách vay vốn. (Phan Thị Cúc, 2008).

1.1.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng chính sách đối với cơng tác

giảm nghèo



21



1.1.5.1. Nhân tố bên trong

- Chính sách, quy trình tín dụng của NHCSXH: nếu chính sách tín dụng

tốt, quy trình tín dụng chặt chẽ, cấp tín dụng đúng đối tượng sẽ hạn chế được

rủi ro tín dụng. Do vậy NHCSXH cần chủ động tham mưu cho chính quyền

địa phương và Ban đại diện HĐQT trong việc thực hiện triển khai các chính

sách tín dụng của Chính phủ, Bộ ngành và Nghị quyết HĐQT liên quan đến

hoạt động NHCSXH tại địa phương nhằm xây dựng các chỉ tiêu hoạt động.

- Trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ tín dụng ngân hàng:

Nếu ngân hàng quản lý tốt về mặt nhân sự, tài sản nợ, tài sản có, tức là trong

q trình hoạt động kinh doanh của mình, ngân hàng dự đốn được những rủi

ro xảy ra, dự đốn được mơi trường đầu tư của mình có hiệu quả hay khơng

thì q trình hoạt động của ngân hàng đảm bảo được an toàn vốn, tăng uy tín,

tạo điều kiện thu hút khách hàng gửi tiền cũng như vay tiền.

Mặt khác, trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng càng cao, mọi thao

tác thực hiện nhanh chóng, chính xác, hiệu quả; thái độ phục vụ, tác phong

làm việc của nhân viên ngân hàng tốt, nhiệt tình, cởi mở, tạo thuận lợi cho

khách hàng sẽ gây được ấn tượng tốt với khách hàng, từ đó sẽ thu hút

được nhiều khách hàng hơn. Thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng đối

với khách hàng có ảnh hưởng lớn đến công tác huy động vốn cho ngân hàng.

Do đó ngân hàng cần chú trọng đến cơng tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao

nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên của mình đồng thời mỗi nhân viên cũng

cần nâng cao tác phong làm việc, phong thái phục vụ có như vậy thì cơng tác

huy động vốn của ngân hàng mới đạt được hiệu quả cao

- Công tác tuyên truyền, vận động của ngân hàng trong tín dụng chính

sách: NHCSXH thường sử dụng các tổ chức chính trị như hội phụ nữ, hội cựu

chiến binh, đoàn thanh niên,…để tuyên truyền phổ biến về chính sách nhân

văn dành cho tín dụng chính sách. Nếu như NHCSXH kết hợp được với các

tổ chức này để tuyên truyền đến người nghèo thì người nghèo được biết đến

tín dụng chính sách và có cơ hội tiếp cận nguồn vốn và ngược lại. (Phan Thị

Cúc, 2008), (Nguyễn Trung Tăng, 2001).



22



1.1.5.2. Nhân tố bên ngoài

- Điều kiện kinh tế - xã hội của địa bàn: Hoạt động tín dụng ln bị các

chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng, thu nhập, tình trạng thất nghiệp, lạm

phát,… tác động trực tiếp. Khi nền kinh tế tăng trưởng, sản xuất phát triển, từ

đó tạo điều kiện tích lũy nhiều hơn, do đó tạo mơi trường thuận lợi cho việc

thu hút vốn cũng như cấp tín dụng của ngân hàng. Ngược lại, khi nền kinh tế

suy thoái, lạm phát tăng làm cho môi trường đầu tư bị thu hẹp thì quá trình tạo

vốn cũng như cho vay của ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn.

Khơng một quốc gia nào có thể phát triển nếu mơi trường chính trị

khơng ổn định. Sự ổn định về chính trị hay chính sách ngoại giao cũng tác

động mạnh mẽ đến quan hệ vốn của ngân hàng với các ngân hàng khác ở

các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Điều này cũng là nhân tố tác

động đến công tác quản lý tín dụng của ngân hàng.

- Chủ trương của chính quyền địa phương về sử dụng cơng cụ tín dụng

chính sách để giảm nghèo: Thể hiện trách nhiệm trong cơng tác việc rà sốt

phân loại và cập nhật các đối tượng chính sách, xác nhận chính xác các hộ

được bình xét cho vay, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động cho vay của

NHCSXH đảm bảo cho vay đúng đối tượng thụ hưởng. Chỉ đạo, giám sát

Hội, đoàn thể và Ban quản lý tổ tiết kiệm và vay vốn, giảm thiểu những sai

sót trong bình xét đối tượng, mục đích sử dụng vốn vay tại địa phương. Là

cấp có quyền xử lý những cá nhân, tổ chức cố tình làm sai: xâm tiêu, chiếm

dụng vốn, sử dụng vốn không đúng mục đích xin vay, quá hạn do lười lao

động, chây ỳ gây thất thoát vốn của Nhà nước.

- Năng lực quản lý vốn vay của đối tượng chính sách: Trình độ dân trí,

kiến thức kỹ thuật quản lý cũng như các nguồn lực quản lý kinh doanh khác

của hộ vay là chìa khóa nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng vốn vayvấn đề quyết định đến khả năng hồn trả nợ gốc tiền vay. Vì vậy, năng lực và

trình độ người vay là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng tín dụng

của đơn



23



vị. Bên cạnh đó, nhận thức của hộ vay về trách nhiệm sử dụng vốn đúng mục

đích và trách nhiệm hồn trả lãi và nợ gốc đúng theo thỏa thuận cũng ảnh

hưởng đến kết quả thu lãi và thu nợ gốc.

- Ý thức đối tượng chính sách: Chính sách lãi suất ưu đãi thường nảy

sinh một số tiêu cực như: Tạo cho khách hàng tâm lý ỷ lại, tính tốn làm ăn

khơng cẩn thận và kém năng động; tạo ấn tượng cho rằng chương trình

nghiêng về phúc lợi hơn là cho vay, thậm chí người vay thấy khơng cần thiết

phải trả nợ; do lãi suất ưu đãi nên người vay có thể sử dụng sai mục đích như

cho vay lại hoặc gửi tiết kiệm với lãi suất cao hơn; gây tiêu cực trong cho vay,

lựa chọn không đúng đối tượng vay, tranh giành vốn vay. Tất cả điều này sẽ

ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng

- Sự phối hợp của chính quyền địa phương với thực hiện tín dụng chính

sách: Phối hợp với Tổ chức chính trị xã hội nhận ủy thác trong việc tuyên

truyền các chính sách tín dụng, giám sát và chỉ đạo các tổ TK&VV đôn đốc

hộ vay trả nợ theo quy định tất cả các nhân tổ trên đều ảnh hưởng đến chất

lượng tín dụng ủy thác qua tổ chức CT-XH. Không phối hợp với NHCSXH

đào tạo, tập huấn cho các tổ TK&VV, tuyên truyền phổ biến chính sách tín

dụng ưu đãi cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách

khác... đều là những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng chính sách.

Tình trạng Tổ lựa chọn người vay bị sai lệch, những người khá giả có nhiều

mối quan hệ hơn, được tin tưởng hơn thường cố gắng tìm mọi cách để tiếp

cận đến nguồn vốn rẻ, lãi suất thấp vì vậy mà người nghèo thường khó chen

vào các chương trình này. Khơng những thế, cho vay theo hình thức này chính

là nguyên nhân làm cho người vay chuyển vốn vay cho các mục tiêu khác dẫn

đến kết cục là vốn được cung ứng cho các hoạt động kinh tế thứ yếu và nhiều

khi khơng cần thiết. Hậu quả là xói mòn vốn của ngân hàng, khơng đủ để

cung cấp vốn cho các hộ nghèo khác nữa. Kinh nghiệm của các chương

trình cho vay đối với hộ nghèo đạt được thành cơng



24



cho thấy cho vay món vay nhỏ, thời gian ngắn sẽ giúp ngân hàng lựa chọn

đúng đối tượng. (Phan Thị Cúc, 2008), (Nguyễn Trung Tăng, 2001).

1.2. Cơ sở thực tiễn về vai trò tín dụng chính sách đối với cơng tác giảm

nghèo

Hiện nay, vai trò tín dụng chính sách đối với công tác giảm nghèo được

phản ánh rất rõ ràng và hiệu quả tín dụng chính sách đã giúp các hộ nghèo

phần nào tiếp cận nguồn vốn của chính phủ, để tăng cường hiệu quả tín dụng

chính sách đối với công tác giảm nghèo tại địa bàn tỉnh Bắc Kạn, nghiên cứu

bài học thành công của NHCSXH của các địa bàn có điều kiện tương đồng

là căn cứ thực tiễn giúp cho chi nhánh NHCSXH Bắc Kạn đạt hiệu quả. Sau

đây là bài học kinh nghiệm có thể vận dụng, đó là:

1.2.1. Kinh nghiệm của một số ngân hàng chính sách trong thực hiện tín

dụng chính sách đối với cơng tác giảm nghèo

1.1.2.1. Kinh nghiệm của NHCSXH Phú Thọ

Phú Thọ là tỉnh trung du với trên 80% dân sinh sống ở nơng thơn trình

độ dân trí thấp điều kiện tiếp cận với nguồn vốn chính sách và khả năng tiếp

thu, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, phương

thức sản xuất còn nhỏ lẻ manh mún, thường xuyên bị thiên tai. Người dân

hiểu sai về nguồn vốn chính sách sau này sẽ được Nhà nước cho khơng hoặc

xóa nợ. Chi nhánh NHCSXH tỉnh Phú Thọ có năm tỷ lệ nợ quá hạn trên 2%

và tồn đọng lãi cao. Để giảm nợ quá hạn đối với hộ nghèo trên địa bàn, chi

nhánh NHCSXH tỉnh Phú Thọ đã thực hiện:

- Tuyên truyền bằng cách phát tờ rơi về các chương trình tín dụng và

một số lưu ý khi vay vốn NHCSXH đến từng hộ nghèo.

- Thường xuyên tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương, Ban

Đại diện HĐQT chỉ đạo đôn đốc cán bộ Ban giảm nghèo, các Hội, đồn thể

nhận ủy thác, Trưởng thơn, tổ trưởng tổ TK&VV lập phương án thực hiện

từng



25



chỉ tiêu trong từng giai đoạn, giao chỉ tiêu tới tổ TK&VV của các Hội, đoàn

thể quản lý.

- Đề nghị các tổ chức Hội, đoàn thể nhận ủy thác lập kế hoạch cụ thể để

theo dõi và chỉ đạo các tổ TK&VV đôn đốc hộ nghèo vay thực hiện trả gốc

khi đến hạn, trả lãi và gửi tiền tiết kiệm hàng tháng. Kế hoạch này phải làm

hàng tháng và phải gửi về đơn vị vào cuối mỗi tháng.

- Đề nghị NHCSXH trung ương, UBND tỉnh, huyện, xã khen thưởng

đối với các tập thể, cá nhân có thành tích tốt trong cơng tác tuyên truyền,

đôn đốc thu hồi nợ quá hạn đối với tín dụng chính sách.

(Nhcsxhphutho.chinhphu.vn).

1.1.2.2. Kinh nghiệm của NHCSXH Bắc Ninh

Tỉnh Bắc Ninh là đồng bằng có điều kiện tự nhiên tương đồng với tỉnh

Bắc Kạn trong những năm qua công tác tuyên truyền, đào tạo, kiểm tra giám

sát, công tác đối chiếu chưa được thực hiện hiệu quả dẫn đến các hộ nghèo

còn có hiện tượng chây ỳ, vay ké, chiếm dụng vốn. Để nâng cao chất lượng

tín dụng chi nhánh NHCSXH tỉnh Bắc Ninh đối với công tác giảm nghèo, chi

nhánh đã thực hiện biện pháp:

- Thực hiện kịp thời, cơng khai, minh bạch các chủ trương chính sách

của Nhà nước tại các điểm giao dịch xã, tuyên truyền đến các hộ, đặc biệt là

các hộ nghèo tham gia tín dụng của chi nhánh.

- Tham mưu cho Ban đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH tỉnh, huyện

phân công các thành viên Ban đại diện tỉnh, huyện trực tiếp phụ trách công tác

chỉ đạo, kiểm tra, giám sát tại các huyện, xã; phân cơng cán bộ Lãnh đạo các

phòng chun mơn, nghiệp vụ tỉnh, lãnh đạo các Phòng giao dịch huyện tham

mưu, giúp việc cho các thành viên Ban đại diện cấp tỉnh, cấp huyện; chỉ đạo

cán bộ tín dụng theo dõi địa bàn phối hợp chặt chẽ với Hội đoàn thể nhận ủy

thác, Ban giảm nghèo cấp xã, tham gia họp với tổ TK&VV, lập kế hoạch tham

dự cuộc họp với các tổ yếu kém và trung bình, lập kế hoạch hàng tháng tham



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.1: Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×